2. Điệp Cúng Cha Mẹ I

(Tư Độ Vãng Sanh)

 

Nguyên văn:

資度  爲牒薦事。茲據

越南國......()......村、家居奉

佛修香諷經...之晨祈超度事。今... 等、維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于

奉爲...香靈

嗚呼、叨爲人子、感荷(,)生成德大以難、懷鞠恩深之未報、豈其頓拋陽界、寥然踪跡以難尋、奈何便向陰宮、寂爾音容而莫覩、爰憑佛力、祈助往生。兹者...則靈筵肆設、請牒載陳、菩提樹上、依稀兜率之天、明鑒臺前、彷彿涅槃之地須至牒者。

右牒薦  

香靈冥中收執。故牒。

.........日時 、請薦牒

 

Phiên âm:

Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.

Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ... đẳng, cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm1 phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:

Phụng vị ... chi hương linh.

Ô hô ! Thao vi nhân tử, cảm hà (nghiêm,2 từ3) thân, sanh thành đức đại dĩ nan thù, hoài cúc ân thâm chi vị báo; khởi kỳ đốn phao dương giới, liêu nhiên tung tích dĩ nan tầm; nại hà tiện hướng Âm Cung,4tịch nhĩ âm dung nhi mạc đổ; viên bằng Phật lực, kỳ trợ vãng sanh. Tư giả ... Kim tắc linh diên tứ thiết, thỉnh điệp tải trần; Bồ Đề thọ thượng, y hy Đâu Suất4 chi thiên; minh giám đài tiền, phảng phất Niết Bàn chi địa. Tu chí điệp giả.

Hữu Điệp Tiến

Hương linh minh trung thu chấp. Cố điệp.

Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.

 

Dịch nghĩa:

Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.

Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:

Kính vì hương linh ...

Than ôi ! Được làm con nhỏ, nặng nghĩa (phụ, mẫu) thân; sanh thành đức lớn thật khó đền, bú mớm ơn sâu ấy chưa báo; sao lại xa lìa dương giới, mênh mông tung tích thật khó tìm; thể nào hướng nẻo âm cung, lặng lẽ bóng hình nào đâu thấy; nương nhờ lực Phật, mong được vãng sanh. Nay lúc … Giờ đây cỗ mâm dọn sẵn, điệp thỉnh dâng bày; Bồ Đề cây ấy, thấp thoáng Đâu Suất cõi trời; soi xét trước đài, phảng phất Niết Bàn cảnh giới. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Cúng

Hương linh nơi cõi âm nhận lấy. Kính điệp.

Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.

 

Chú thích:

  1. Thứ phẩm (庶品): có 2 nghĩa chính. (1) Các vật, vạn vật, mọi thứ. Như trong Khổng Tử Gia Ngữ (孔子家語), phần Ngũ Nghi Giải (五儀解): có đoạn: “Sở vị thánh giả, đức hợp ư thiên địa, biến thông vô phương, cùng vạn sự chi chung thỉ, hiệp thứ phẩm chi tự nhiên (所謂聖者、德合於天地、變通無方、窮萬事之終始、協庶品之自然, bậc Thánh nghĩa là đức hợp với trời đất, biến thông các phương, cùng khắp vạn sự thỉ chung, hiệp với tự nhiên của muôn vật).” (2) Chỉ rất nhiều phẩm vật cúng tế. Như trong Song Châu Ký (雙珠記), chương Thuật Sĩ Huyền Mưu (術士玄謀), của Thẩm Kình (沉鯨, ?-?) nhà Minh có đoạn: “Tảo môn đình, khả kính sùng, kỳ bị thanh tu thứ phẩm, khiết thành tu cúng (掃門庭、可敬崇、祇僃清羞庶品、潔誠修供, quét nhà cửa, trọn kính sùng, chuẩn bị thức ăn vật phẩm, chí thành dâng cúng).”
  2. Phỉ lễ (菲禮): lễ vật hèn mọn, khiêm tốn.
  3. Nghiêm thân (嚴親): có 2 nghĩa chính. (1) Chỉ cha mẹ. Như trong Nam Sử (南史), Nhiệm Phưởng Truyện (任昉傳), có đoạn: “Phụng thế thúc phụ mẫu bất dị nghiêm thân, sự huynh tẩu cung cẩn (奉世叔父母不異嚴親、事兄嫂恭謹, [Nhiệm Phưởng] cung phụng chú bác còn sống không khác gì song thân, chăm sóc chị dâu kính cẩn).” (2) Chỉ riêng cho người cha, phụ thân.
  4. Từ thân (慈親): cha mẹ từ ái, và sau phần lớn chỉ cho người mẹ. Như trong bài Du Tử Hành (游子行) của Niếp Di Trung (聶夷中, 837-884) nhà Đường có câu: “Từ thân ỷ môn vọng, bất kiến Huyên thảo hoa (慈親倚門望、不見萱草花, mẹ hiền tựa cửa ngóng, chẳng thấy hoa cỏ Huyên).” Hay trong bài thơ Tiếp Gia Thư Hỷ Xá Đệ Quy Tự Giang Nam (接家書喜舍弟歸自江南) của Ngụy Nguyên (魏源, 1794-1856) nhà Thanh cũng có câu: “Nhữ thị từ thân trắc, ngô thị nghiêm thân hành (汝侍慈親側、吾侍嚴親行, ngươi hầu mẹ hiền cạnh, ta hầu cha nghiêm đi).” Hoặc trong Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám (廬山蓮宗寶鑑, Taishō Tripitaka Vol. 47, No. 1973) cũng có đoạn: “Thâm nhập vô vi chi lý, thượng thù võng cực chi ân, thú giải thoát chi yếu đồ, báo từ thân chi tiệp kính (深入無爲之理、上酬罔極之恩、趣解脫之要途、報慈親之捷徑, nhập sâu vô vi ấy lý, trên đáp vô cùng ơn sâu, đến giải thoát ấy đường chính, báo đáp mẹ hiền đường tắt).”
  5. Âm Cung (陰宮): có 3 nghĩa chính. (1) Chỉ thâm cung. Như trong bài Hà Đông Phú (河東賦) của Dương Hùng (揚雄, 53-18 ttl.) nhà Hán có đoạn: “Toại trăn âm cung, mục mục túc túc, tồn tồn như dã (遂臻陰宮、穆穆肅肅、蹲蹲如也, đến được thâm cung, sâu thẳm nghiêm túc, kính cẩn như vậy).” (2) Đặc biệt chỉ nội cung nơi nhốt tù nhân. (3) Là cung thất mát mẻ, cũng đồng nghĩa với Âm Phủ. Như trong bài thơ Nhiệt (熱) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Tưởng kiến âm cung tuyết, phong môn táp đạp khai (想見陰宮雪、風門颯沓開, tưởng thấy âm cung tuyết, cửa gió thổi đạp bày).”
  1. Từ gọi tắt của Đâu Suất Đà (s: Tuita, p: Tusita, t: Dgaḥ-ldan, 兜率): còn gọi là Đâu Suất Đà Thiên (兜率陀天), Đô Suất Thiên (都率天), Đâu Thuật Thiên (兜術天), Đâu Suất Đa Thiên (兜率多天), Đâu Sư Đà Thiên (兜師陀天), Đổ Sử Đa Thiên (覩史多天), Đâu Sử Đa Thiên (兜駛多天), Đâu Suất (兜率); ý dịch là Tri Túc Thiên (知足天), Diệu Túc Thiên (妙足天), Hỷ Túc Thiên (喜足天), Hỷ Lạc Thiên (喜樂天); là cõi trời thứ 4 trong 6 cõi trời của Dục Giới, nằm giữa cõi Dạ Ma Thiên (夜摩天) và Nhạo Biến Hóa Thiên (樂變化天), giữa hư không mây dày đặc. Cõi trời nầy nằm cách cõi Diêm Phù Đề (s, p: Jampudīpa, 閻浮提) 320.000 do tuần (s, p: yojana, 由旬), cách cõi trời Dạ Ma Thiên 160.000 do tuần. Về tên cõi trời nầy, Lập Thế A Tỳ Đàm Luận (立世阿毘曇論, Taishō Vol. 32, No. 1644) quyển 6 có giải thích rằng cõi nầy hoan lạc, no đủ, vật chất chẳng thiếu gì, nên có tên gọi như vậy. Phật Địa Kinh Luận (佛地經論, Taishō Vol. 26, No. 1530) quyển 5 lại cho rằng hậu thân của Bồ Tát sẽ giáo hóa ở cõi nầy và tu nhiều về pháp Hỷ Túc, nên có tên là Hỷ Túc Thiên (喜足天). Cõi trời nầy có hai viện nội và ngoại. Đâu Suất Nội Viện (兜率內院) là chỗ ở của vị sắp thành Phật (tức Bồ Tát bổ xứ), nay là cõi Tịnh Độ của Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Vị nầy hiện cũng là Bồ Tát bổ xứ, đang tuyên thuyết Phật pháp tại đây; nếu trú tại đây tròn 40 năm, vị ấy sẽ hạ sanh xuống cõi người, thành Phật dưới cây Long Hoa (龍華). Hơn nữa, xưa kia Đức Thích Ca Như Lai khi còn là thân Bồ Tát, cũng từ cõi trời nầy hạ sanh xuống nhân gian và thành Phật. Tương truyền nội viện có 49 ngôi viện, có thể là y cứ vào Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Kinh (觀彌勒菩薩上生兜率天, Taishō Vol. 14, No. 452) cho rằng: “Thử Ma Ni quang hồi toàn không trung, hóa vi tứ thập cửu trùng vi diệu bảo cung (此摩尼光廻旋空中、化爲四十九重微妙寶宮, ánh sáng viên ngọc Ma Ni nầy xoay quanh trong không trung, hóa thành bốn mươi chín lớp cung điện báu vi diệu)”. Ngoại viện thuộc về Dục Giới Thiên (欲界天), là nơi cư trú của thiên chúng, hưởng thọ dục lạc. Tuổi thọ của chúng sanh trên cõi trời nầy khoảng 4.000 năm, một ngày đêm trên đó tương đương với 400 năm dưới cõi người. Thọ mạng 4.000 tuổi ấy được tính tương đương với 6.700.000.000 (thực tế là 5.670.000.000) năm. Ngoài ra, khi chúng sanh của cõi nầy động tình dục thì cả hai đều chấp tay, tự nhiên thành âm dương; đứa bé sơ sanh của họ giống như hài nhi 8 tuổi dưới dương gian; đến 7 tuổi đứa bé thành nhân, thân dài 4 do tuần, áo dài 8 do tuần, rộng 4 do tuần, v.v. Mật Giáo an trí vị Thiên tử nầy tại phương Tây Bắc của Kim Cang Bộ Viện (金剛部院), ngoài Hiện Đồ Thai Tạng Giới Mạn Trà La (現圖胎藏界曼茶羅). Hình tượng của vị trời nầy có thân hình lộ sắc da màu trắng, tay phải gập lại, đặt nơi ngực, cầm cành hoa sen búp; tay trái bắt ấn, kê trên bắp đùi; hai bên có hai người nữ hầu, thân cũng để lộ da trắng, tay phải của họ đều cầm cành sen búp. Chủng tử của vị trời nầy là ta, hình Tam Muội Da là cành hoa sen búp trên lá. Tại Điện Di Lặc (彌勒殿) của Thái Vân Tự (白雲寺) ở Thái Châu (泰州), Tỉnh Giang Tô (江蘇省) có hai câu đối: “Thử Như Lai đại đỗ bao dung bả thế gian sự toàn hóa thành vô biên Phật pháp, thị Bồ Tát mãn tâm hoan hỷ tương Đâu Suất Cung tận cố tác Tỳ Lô đạo tràng (此如來大肚包容把世間事全化成無邊佛法、是菩薩滿心歡喜將兜率宮盡做作毗盧道塲, Như Lai nầy bụng lớn bao dung lấy chuyện thế gian thảy hóa thành vô biên Phật pháp, Bồ Tát ấy đầy tâm hoan hỷ đem Cung Đâu Suất trọn biến làm Tỳ Lô đạo tràng).”