5. Điệp Cúng Cha Mẹ IV

(Tư Độ Vãng Sanh)

 

Nguyên văn:

 

資度  爲牒薦事。茲據

越南國......()......村、家居奉

佛修香諷經...之晨祈超度事。今... 等、維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于

奉爲...香靈

嗚呼、叨爲子道、感荷雙親、三年懷保之深恩、欲酬償而莫狀、九字劬勞之大德、恩報答以何窮、自入泉臺、慨想音容之杳杳、久離塵世、嗟魂夢之攸攸、欲知苦樂之無由、每念昇沉之未曉、不憑薦拔、何望超昇。今則投身

三寶、皈命十方、耳聽梵音、口飡法味、賴得超生淨境、獲處安養之邦、保護孝門、永引壽康之域須至牒者。

右牒薦  

香靈冥中收執。故牒。

.........日時 、請薦牒

 

Phiên âm:

 

Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.

Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ... đẳng, cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:

Phụng vị ... chi hương linh.

Ô hô ! Thao vi tử đạo, cảm hà song thân; tam niên hoài bảo chi thâm ân, dục thù thường hoàn nhi mạc trạng; cửu tự cù lao1 chi đại đức, tư ân báo đáp dĩ hà cùng; tự nhập tuyền đài,2 khái tưởng âm dung3chi yểu yểu; cửu ly trần thế,4 ta hồn mộng chi du du; dục tri khổ lạc chi vô do, mỗi niệm thăng trầm chi vị hiểu; bất bằng tiến bạt, hà vọng siêu thăng. Kim tắc đầu thân Tam Bảo, quy mệnh thập phương; nhĩ thính Phạm âm,5 khẩu xan pháp vị;6 lại đắc siêu sanh Tịnh Cảnh,7 hoạch xử An Dưỡng8 chi bang; bảo hộ hiếu môn, vĩnh dẫn thọ khang chi vức. Tu chí điệp giả.

Hữu Điệp Tiến

Hương linh minh trung thu chấp. Cố điệp.

Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.

 

Dịch nghĩa:

 

Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.

Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:

Kính vì hương linh ...

Than ôi ! Làm con hiếu đạo, nặng nghĩa song thân; ba năm bảo bọc ấy ơn sâu, muốn đáp trả đền đâu thấy bóng; chín chữ cù lao bao đức lớn, chạnh ơn báo đáp biết sao cùng; tự xuống tuyền đài, tưởng nhớ bóng hình chừ mờ mịt; mãi lìa trần thế, ôi hồn mộng ấy mênh mang; muốn hay khổ sướng đâu nguyên do, mỗi niệm thăng trầm còn chưa biết; chẳng bằng cúng cấp, may được siêu thăng. Nay tất phó mạng Tam Bảo, quy y mười phương; tai nghe lời kinh, miệng nếm vị pháp; mong sao siêu sanh cõi tịnh, được ở An Dưỡng nước trong; giúp đỡ cháu con, mãi thêm sống lâu an lạc. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Cúng

Hương linh nơi cõi âm nhận lấy. Kính điệp.

Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.

 

Chú thích:

  1. Cửu tự cù lao (九字劬勞): chín chữ cù lao, xuất xứ từ trong bài thơ Lục Nga (蓼莪) thuộc chương Tiểu Nhã (小雅) của Thi Kinh (詩經): “Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, phụ ngã, súc ngã, trưởng ngã, dục ngã, cố ngã, phú ngã, xuất nhập phúc ngã, dục báo chi đức, hạo thiên võng cực (父兮生我母兮鞠我拊我畜我、長我育我顧我出入腹我欲報之德昊天罔極, cha chừ sanh ta, mẹ chừ nuôi ta, vỗ về ta, nuôi nấng ta, làm cho ta khôn lớn, trông nom ta, che chở ta, ra vào đùm bọc ta, muốn báo đức ấy, trời cao vô tận).” Như vậy chín chữ cù lao ở đây là (1) sanh (, sanh đẻ ra), (2) cúc (, nuôi nấng), (3) phụ (, vỗ về, vuốt ve, trìu mến), (4) dục(, nuôi dưỡng), (5) súc (, nuôi dưỡng), (6) trưởng (, nuôi cho khôn lớn), (7) cố (, trông nom, đoái hoài, chiếu cố), (8) phú (, che chở), và (9) phúc (, đùm bọc). Về sau, người ta thường dùng từ cố phú (顧復) để chỉ cho công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ.
  2. Tuyền đài (泉臺): mộ huyệt, cũng dùng để chỉ cho cõi âm, từ gọi khác của Huỳnh Tuyền (黃泉). Như trong Liên Tu Tất Độc (蓮修必讀, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1214), phần (全唐詩) của Hàn Sơn Đại Sĩ (寒山大士), có đoạn: “Lâm tử độ Nại Hà, thùy thị lâu la hán, minh minh tuyền đài lộ, bị nghiệp tương câu bán (臨死度柰何、誰是嘍羅漢、冥冥泉臺路、被業相拘絆, chết rồi xuống địa ngục, còn đâu tướng cướp gờm, mịt mờ tuyền đài nẻo, bị nghiệp luôn trói buộc).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰泉院因師集賢語, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 12, phần Tiến Thê (薦妻), cũng có đoạn: “Vân quy tiên đảo mộ yên hàn, hoa lạc tuyền đài xuân trú vĩnh (雲歸仙島暮煙寒、花落泉臺春晝永, mây về tiên đảo chiều khói lạnh, hoa rụng tuyền đài xuân mãi tươi).” Trong Đoạn Trường Tân Thanh có câu: “Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
  3. Âm dung (音容): có hai nghĩa. (1) Âm thanh và hình bóng. Như trong bài thơ Thù Tùng Đệ Huệ Vận (酬從弟惠連) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống có câu: “Nham hác ngụ nhĩ mục, hoan ái cách âm dung (巖壑寓耳目、歡愛隔音容, hõm núi gởi tai mắt, yêu thương cách bóng hình).” Hay trong bài Trường Hận Ca (長恨歌) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường cũng có câu: “Hàm tình ngưng đệ tạ quân vương, nhất biệt âm dung lưỡng diểu mang (含情凝睇謝君王、一別音容兩渺茫, ngậm tình liếc trộm tạ quân vương, cách biệt bóng hình muôn dặm trường).” (2) Trong thư tín, từ nầy được dùng để thay thế cho đối phương. Như trong tập 3 của tác phẩm Tây Sương Ký (西廂記) do Vương Thật Phủ (王實甫, 1260-1336) nhà Nguyên sáng tác, có đoạn: “Tự âm dung khứ hậu, bất giác hứa thời, ngưỡng kính chi tâm, vị thường thiểu đãi (自音容去後、不覺許時、仰敬之心、未嘗少怠, từ khi người ra đi về sau, chẳng biết lúc nào, tâm thường kính ngưỡng, chưa từng chút chểnh mảng).” Trong bài thỉnh cúng linh cũng có đoạn: “Kim ô tợ tiễn, ngọc thố như thoan, tưởng cốt nhục dĩ phân ly, đỗ âm dung nhi hà tại (金烏似箭、玉兔如梭、想骨肉已分離、睹音容而何在, quạ vàng [mặt trời] tên bắn, thỏ ngọc [mặt trăng] thoi đưa, nhớ cốt nhục đã chia ly, tìm bóng hình đâu còn nữa).”
  4. Trần thế (塵世): cõi trần, cõi thế tục, cõi người. Như trong bài Độ Môn Tự (度門寺) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường có câu: “Tâm nguyên tuy liễu liễu, trần thế khổ sung sung (心源雖了了塵世苦憧憧, nguồn tâm tuy tỏ rõ, trần thế khổ hoài hoài).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, Tục Tạng KinhVol. 63, No. 1252) quyển 4, chương Đạo Tràng Liễn (道塲聯), bài Môn Liễn (門聯), cũng có đoạn: “Pháp vũ sái thời trần thế vu kim giai tịnh quốc, Phật quang lâm xứ đạo tràng hà sự bất Tây phương (法雨洒時塵世于今皆淨國、佛光臨處道塲何事不西方, mưa pháp rưới về trần thế đến nay đều Tịnh Độ, hào quang Phật đến đạo tràng chuyện gì chẳng Tây phương).”
  5. Phạm âm (s: brahma-svara, p: brahmassara, 梵音): âm thanh do vị Đại Phạm Thiên Vương phát ra, hay còn được ví cho tiếng của Như Lai. Bên cạnh đó, với nghĩa chữ phạm () là thanh tịnh, nó có nghĩa là tiếng thanh tịnh của Như Lai, một trong 32 tướng tốt của Phật. Ngoài ra, nó còn có nghĩa là tiếng tụng kinh có âm khúc, là một trong Tứ Pháp Yếu gồm Phạn bối, tán hoa, Phạm âm và tích trượng. Như trong Bổ Tục Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1524) quyển 21, Thiên Độc Tụng (讀誦篇), phần Tống Hồng Chuẩn Ngộ An Nhị Sư Truyện (宋洪準遇安二師傳), có đoạn rằng: “Bình sanh nhật tịch vô tha doanh, vi miên thực chi dư, duy ngâm Phạm âm, tán Quán Thế Âm nhi dĩ (平生日夕無他營、為眠食之餘、惟吟梵音、讚觀世音而已, suốt đời sáng tối không làm gì cả, ngoài lúc ăn ngủ ra, sư [Hồng Chuẩn] chỉ ngâm Phạm âm, để tán thán Bồ Tát Quán Thế Âm mà thôi).” Phạm âm còn gọi là phạm thanh (s: brahma-svara, 梵聲), một trong 32 tướng tốt của đức Phật, là âm thanh vi diệu, thanh tịnh của chư Phật, Bồ Tát, tiếng nói tròn đầy như tiếng vang của trống trời, cũng giống như tiếng chim Ca Lăng Tần Già (s: karavika; p: karavīka, 迦陵頻伽). Nhờ nói lời chân thật, lời nói hay, chế ngự hết thảy những lời nói xấu ác mà có được tướng tốt như vậy. Người nghe được tiếng nói như vậy, tùy theo căn cơ của mình mà có được lợi ích, sanh khởi điều tốt, cảm nhận và đoạn trừ được quyền thật lớn nhỏ, tiêu trừ mọi nghi ngờ. Tại Viên Thông Điện (圓通殿) của Giang Tâm Tự (江心寺), Ôn Châu (溫州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối: “Quán hạnh viên thông từ quán bi quán thanh tịnh quán, âm văn tự tại diệu âm phạm âm hải triều âm (觀行圓通慈觀悲觀清淨觀、音聞自在妙音梵音海潮音, hạnh quán tròn đầy từ quán bi quán thanh tịnh quán, tiếng nghe tự tại tiếng mầu tiếng phạm tiếng hải triều).” Hay như trong Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25 của Kinh Pháp Hoa có đoạn: “Diệu âm quán thế âm, phạm âm hải triều âm, thắng bỉ thế gian âm, thị cố tu thường niệm (妙音觀世音、梵音海潮音、勝彼世間音、是故須常念, diệu âm, quán thế âm, phạm âm, hải triều âm, hơn cả âm thế gian kia, cho nên phải thường nhớ đến).”
  6. Pháp vị (法味): hương vị của diệu pháp, của Phật pháp; còn gọi là Phật pháp vị (佛法味), pháp trí vị (法智味). Giáo pháp, pháp môn do đức Phật thuyết ra, nghĩa của chúng rất thâm sâu, cho nên cần phải ăn, nếm thông qua thực hành, tu tập để thể đắc chúng, mới có thể sanh sự khoái lạc. Như trong Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá (無量壽經優波提舍, Taishō Vol. 26, No. 1524) do Bà Tẩu Bàn Đậu (婆藪槃豆, tức Thế Thân [s: Vasubandhu, 世親]) tạo, có đoạn: “Ái nhạo Phật pháp vị, Thiền Tam Muội vi thực (愛樂佛法味禪三昧爲食, yêu thích pháp vị Phật, Thiền định là thức ăn).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Bi Hoa Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 25, phẩm Thập Hồi Hướng (十迴向品) thứ 25, lại có đoạn: “Nguyện nhất thiết chúng sanh đắc nhất pháp vị, liễu chư Phật pháp tất vô sai biệt (願一切眾生得一法味、了諸佛法悉無差別, nguyện hết thảy chúng sanh được một vị pháp, rõ các pháp Phật đều không sai biệt).”
  7. Tịnh Cảnh (淨境): cảnh giới thanh tịnh, tên gọi khác của Tịnh Độ. Như trong bài thơ Phụng Hòa Cửu Nguyệt Cửu Nhật Đăng Từ Ân Tự Phù Đồ Ứng Chế (奉和九月九日登慈恩寺浮圖應制) của Phàn Thầm (樊忱, ?-?) nhà Đường có câu: “Tịnh cảnh Trùng Dương Tiết, tiên du vạn thừa lai, sáp du đăng Thứu Lãnh, bả cúc tọa Phùng Đài, Thập Địa tường vân hợp, tam thiên thoại cảnh khai, thu phong từ cánh viễn, thiết biện lạc khang tai (淨境重陽節仙遊萬乘來插萸登鷲嶺把菊坐蜂臺十地祥三天瑞景開秋風詞更遠竊抃樂康哉, cảnh tịnh Trùng Dương Tiết, tiên về vạn xe bay, thù du lên Đỉnh Thứu, mang cúc ngắm Phùng Đài, Mười Địa mây lành gặp, ba ngàn cảnh lạ bày, gió thu về xa tít, vui mừng khôn xiết thay).” Hay như trong Mộng Du Tập (夢遊集) quyển 33 của Hám Sơn Đức Thanh (憨山德清, 1546-1623) nhà Thanh có câu: “Thổ bổn vô tịnh uế, tịnh uế tùng tâm biến, tâm cấu nhược tiêu trừ, tịnh cảnh ứng tâm hiện (土本無淨穢淨穢從心變心垢若消除淨境應心現, đất vốn không sạch bẩn, sạch bẩn từ tâm biến, tâm bẩn nếu tiêu trừ, cảnh tịnh theo tâm hiện).” Trong Kim Cang Bát Nhã Kinh Tập Nghiệm Ký (金剛般若經集驗記, Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1629) cũng có đoạn: “Công tự ngôn hữu hóa nhân lai nghênh, đương trú Tây Phương Tịnh Cảnh, nhân dữ thân thích quyết biệt, ngôn ngật nhi chung (公自言有化人來迎、當徃西方淨境、因與親戚訣別、言訖而終, ông tự bảo rằng có người hiện đến rước đi, sẽ về cõi Tịnh Cảnh ở phương Tây, nhân đó chia tay bà con thân thích, nói xong rồi đi).”
  8. An Dưỡng (安養): tên gọi khác của thế giới Tây Phương Cực Lạc; còn gọi là An Dưỡng Quốc (安養國), An Dưỡng Tịnh Độ (安養淨土), An Dưỡng Thế Giới (安養世界), v.v. Như trong thế giới Cực Lạc Tịnh Độ có thể làm cho an tâm, dưỡng thân, nên có tên gọi như vậy. Chánh Pháp Hoa Kinh (正法華經, Taishō Vol. 9, No. 263) quyển 9 có đoạn rằng: “Sanh An Dưỡng Quốc, kiến Vô Lượng Thọ Phật (生安養國、見無量壽佛, sanh về nước An Dưỡng, thấy Phật Vô Lượng Thọ)”. Trong Văn Thù Sư Lợi Phật Độ Nghiêm Tịnh Kinh (文殊師利佛土嚴淨經, Taishō Vol. 11, No. 318) quyển Thượng có dạy rằng: “Quốc độ nghiêm tịnh, do như Tây phương An Dưỡng chi quốc (國土嚴淨、猶如西方安養之國, quốc độ trang nghiêm trong sạch, giống như nước An Dưỡng ở phương Tây)”. Ngoài ra, An Dưỡng còn là văn dịch khác của An Lạc (安樂); cả hai đều là tên gọi khác của thế giới Cực Lạc. Cho nên, vị giáo chủ của An Dưỡng Quốc là Đức Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀). Tác phẩm viết về thế giới nầy có An Dưỡng Sao (安養抄, Taishō, Vol. 84), 7 quyển, không rõ tác giả; An Dưỡng Tập (安養集, Anyōshū) của Nhật Bản, 10 quyển, do Nguyên Long Quốc (源隆國, Minamoto-no-Takakuni, 1004-1077) cùng với 10 vị A Xà Lê của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) biên tập tại Bình Đẳng Viện (平等院, Byōdō-in), vùng Vũ Trị (宇治, Uji), v.v. Tây Trai Tịnh Độ Thi (西齋淨土詩) quyển 1 của Phạn Kỳ Sở Thạch (梵琦楚石, 1296-1370), được thâu lục trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tuyển Định Tịnh Độ Thập Yếu (靈峰益大師選定淨土十要, Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1164) quyển 8, có bài thơ rằng: “Bất hướng Ta Bà giới thượng hành, yếu lai An Dưỡng quốc trung sanh, thử phi niệm Phật công phu đáo, an đắc siêu phàm nguyện lực thành, hương vụ nhập thiên phù cái ảnh, noãn phong xuy thọ tác cầm thanh, phân minh thức đắc chơn như ý, khẳng nhận Ma Ni tác thuỷ tinh (不向娑婆界上行、要來安養國中生、此非念佛工夫到、安得超凡願力成、香霧入天浮蓋影、暖風吹樹作琴聲、分明識得眞如意、肯認摩尼作水晶, chẳng hướng Ta Bà cõi ấy hành, nên về An Dưỡng nước trong sanh, công phu niệm Phật không thấu triệt, sao được siêu phàm nguyện lực thành, hương khói xông trời lọng báu ảnh, thổi cây gió ấm diễn cầm đàn, rõ ràng biết được chơn như ý, chấp nhận Ma Ni làm thủy tinh).”