5. Trạng Cáo Phù Sứ II
(Khải Cáo Phù Sứ Pháp Diên)
Nguyên văn:
啟告符使法筵 玆據
越南國...省...縣(郡)...社...村、家居建壇奉
佛修香諷經建設法筵祈安迎祥集福事。今信主...同家眷等、捐以本月初一日、仗請禪流、開行法事、於中特設、拔度龍神、送怪除殃、祈安家內事、先呈符使、法壇一筵、謹以金銀錢財品物、具狀上獻。
年月日辰四眞功曹使者。
上中下分三界直符使者。
本司上奏靈官。
法院官將吏兵。
當境土地正神。承受感應、一切威靈。
恭惟、位居符使、職掌功曹、爲三界之肢肱、作群生之耳目、上通天庭於倏忽、下臨地府於須臾、入龍宮不礙風波、跨重山豈辭危險、威顏顯赫、勢力昂藏、願降本壇、証明法事、通詞章於頃刻、持尺牘以奏伸、星火奉行、無違辰刻。謹狀。
右狀仰
五位符使同垂允納。
歲次...年...月...日時 。仰狀
Phiên âm:
Khải Cáo Phù Sứ Pháp Diên
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư kiến đàn phụng Phật tu hương phúng kinh kiến thiết pháp diên kỳ an nghênh tường tập phước1 sự. Kim tín chủ ... đồng gia quyến đẳng, quyên dĩ bổn nguyệt sơ nhất nhật, trượng thỉnh Thiền lưu, khai hành pháp sự, ư trung đặc thiết, bạt độ Long Thần,2 tống quái trừ ương, kỳ an gia nội3 sự, tiên trình Phù Sứ, pháp đàn nhất diên, cẩn dĩ kim ngân tiền tài phẩm vật, cụ trạng thượng hiến.
Niên Nguyệt Nhật Thần Tứ Chơn Công Tào Sứ Giả.
Thượng Trung Hạ Phân Tam Giới Trực Phù Sứ Giả.
Bổn Ty Thượng Tấu Linh Quan.
Pháp Viện Quan Tướng Lại Binh.
Đương Cảnh Thổ Địa Chánh Thần, thừa thọ cảm ứng, nhất thiết uy linh.
Cung duy: Vị cư Phù Sứ, chức chưởng Công Tào;4 vi Tam Giới chi chi quăng, tác quần sanh chi nhĩ mục; thượng thông Thiên Đình5 ư thúc hốt, hạ lâm Địa Phủ ư tu du; nhập Long Cung6 bất ngại phong ba, khóa trùng sơn khởi từ nguy hiểm; uy nhan hiển hách, thế lực ngang tàng; nguyện giáng bổn đàn, chứng minh pháp sự; thông từ chương ư khoảnh khắc, trì xích độc7 dĩ tấu thân; tinh hỏa phụng hành, vô vi thần khắc. Cẩn trạng.
Hữu Trạng Ngưỡng
Ngũ vị Phù Sứ đồng thùy doãn nạp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Ngưỡng trạng.
Dịch nghĩa:
Diên Cúng Cáo Phù Sứ
Nay căn cứ: Việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam, lập đàn thờ Phật dâng hương tụng kinh kiến lập pháp diên cầu an đón lành gom phước. Nay tín chủ ... cùng gia quyến ..., chọn lấy ngày mồng một tháng này, cung thỉnh chúng tăng, tiến hành pháp sự, trong đó đặc biệt, bạt độ Long Thần, tống quái trừ yêu, cầu an trong nhà, trước trình Phù Sứ, pháp đàn một diên, kính lấy vàng bạc tiền tài phẩm vật, đủ trạng dâng cúng.
Năm Tháng Ngày Giờ Tứ Chơn Công Tào Sứ Giả.
Thượng Trung Hạ Chia Ba Cõi Trực Phù Sứ Giả.
Bổn Ty Thượng Tấu Linh Quan.
Pháp Viện Quan Tướng Lại Binh.
Chốn Nầy Thổ Địa Chánh Thần, nương nhờ cảm ứng, hết thảy oai linh.
Kính mong: Sống làm Phù Sứ, chức nắm Công Tào; là Ba Cõi ấy tay chân, làm chúng sanh ấy tai mắt; trên thông Thiên Đình trong chớp nhoáng, dưới xuống Địa Phủ trong phút giây; vào Long Cung chẳng ngại phong ba, vượt trùng sơn nào từ nguy hiểm; oai phong hiển hách, thế lực ngang tàng; xin xuống đàn tràng, chứng minh pháp sự; thông chương tấu trong khoảnh khắc, cầm văn thư mà tấu trình; nhanh chóng vâng làm, chẳng sai thời khắc. Kính trạng.
Kính Dâng Trạng
Năm Vị Phù Sứ cùng thương thâu nhận.
Lúc ... ngày ... tháng ... năm ... Kính trạng.
Chú thích:
- Hoặc thay thế lòng văn khác như “kỳ âm siêu dương thái (祈陰超陽泰, cầu người mất được siêu thoát, người sống được yên ổn).”
- Long Thần (龍神): một trong Tám Bộ Chúng, còn gọi là long chúng (龍眾). Vì rồng có đủ thần lực, nên gọi là Long Thần; hoặc chỉ cho Long Vương (龍王). Như trong Phật Thuyết Phụ Nhân Ngộ Cô Kinh (佛說婦人遇辜經, Taishō Vol. 14, No. 571) có đoạn: “Nhĩ thời Thế Tôn, đại hội thuyết pháp, tứ bối đệ tử, chư thiên long thần, thập phương nhất thiết, giai tất thính kinh (爾時世尊、大會說法、四輩弟子、諸天龍神、十方一切、皆悉聽經, bấy giờ Thế Tôn, nhóm họp thuyết pháp, bốn hạng đệ tử, các trời rồng thần, mười phương tất cả, thảy đều nghe kinh).”
- Hoặc thay thế lòng văn khác như “tiến bạt tiên linh chẩn thí cô hồn vị minh dương kỳ phước (薦拔先靈賑施孤魂爲冥陽祈福, hiến cúng các vong linh đã qua đời, chẩn tế âm linh cô hồn để cầu phước cho cả người còn và kẻ mất).”
- Công Tào (功曹): có 2 nghĩa chính. (1) Tên chức quan. Dưới thời nhà Hán (漢, 202 ttl.-220 stl.), Trưởng Quan hành chính một Quận có Công Tào Sử (功曹史), gọi tắt là Công Tào; trừ quản chưởng về nhân sự ra, còn tham dự vào chính sự của Quận. Sau thời Bắc Tề (北齊, 550-577), chức quan này được gọi là Công Tào Tham Quân (功曹參軍), tại các Châu thì gọi là Tư Công (司功). Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 12, phần Trương Hiếu Thỉ (張孝始), có câu: “Phụ Diên Tuấn, lịch Châu Quận Công Tào Chủ Bộ (父延俊、歷州郡功曹主簿, cha ông là Diên Tuấn, đã từng làm Công Tào Chủ Bộ ở Châu Quận).” (2) Tên gọi khác của con gà công Tây.
- Thiên Đình (天庭、天廷): có mấy nghĩa. (1) Cung đình, triều đình của Thiên Đế. Như trong bài Cam Tuyền Phú (甘泉賦) của Dương Hùng (揚雄, 53 ttl.-18 stl.) nhà Hán có đoạn: “Tuyển Vu Hàm hề khiếu đế hôn, khai Thiên Đình hề diên quần thần (選巫咸兮叫帝閽、開天庭兮延羣神, chọn Vu Hàm chừ kêu lính canh, mở Thiên Đình chừ mời các thần).” (2) Chỉ thiên không, bầu trời. (3) Chỉ cung đình, triều đình của nhà vua. Như trong bài Phụng Hòa Lạc Dương Ngoạn Tuyết ứng Chế (奉和洛陽玩雪應制) của Thẩm Thuyên Kỳ (沉佺期, 650-729) nhà Đuờng có đoạn: “Sái thụy thiên đình lí, kinh xuân ngự uyển trung (灑瑞天庭裡、驚春御苑中, rưới lành cung đình chốn, xuân về ngự uyển trong).” Hay trong hồi thứ 6 của Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義) lại có đoạn: “Cảm lao Thừa Tướng tương thử bổn chuyển đạt thiên đình (敢勞丞相將此本轉達天庭, dám phiền Thừa Tướng lấy bản này chuyển đến triều đình).” (4) Tên gọi khác của khu vực sao Thái Vi (太微). (5) Tầng cao nhất của núi Côn Lôn (崑崙), gọi là Thiên Đình. Như trong Thủy Kinh Chú (水經注), chương Hà Thủy (河水) 1, của Lịch Đạo Nguyên (酈道元, 470-527) nhà Bắc Ngụy, có đoạn: “Côn Lôn chi sơn tam cấp, hạ viết Phàn Đồng, nhất danh Bản Đồng, nhị viết Huyền Phố, nhất danh Lãng Phong; thượng viết Tằng Thành, nhất danh Thiên Đình, thị vi Thái Đế chi cư (崑崙之山三級、下曰樊桐、一名板桐、二曰玄圃、一名閬風、上曰層城、一名天庭、是爲太帝之居, núi Côn Lôn có ba cấp, cấp dưới là Phàn Đồng, có tên là Bản Đồng, hai gọi là Huyền Phố, có tên là Lãng Phong; trên gọi là Tằng Thành, có tên là Thiên Đình, là nơi Thái Đế cư trú).” (6) Trong tướng số chỉ giữa hai hàng lông mày của con người là thiên đình, cũng chỉ cho chính giữa trán.
- Long Cung (龍宮): cung điện, trú xứ của Long Vương hay Long Thần; còn gọi là Long Hộ (龍戶). Theo truyện cho biết, dưới đáy biển lớn, Long Vương dùng thần lực hóa thành cung điện, vì Phật pháp hiện tại bị mai một mà Long Vương giữ gìn các tài sản báu vật, quyển kinh. Loại rắn giữ tài bảo của Ấn Độ là Na Già (s: nāga, 那伽), tức Rắn Mắt Kính, còn gọi là rồng. Theo truyện cổ Ấn Độ, Na Già là loại bán thần có đuôi rắn mặt người, trú tại Long Cung (s: pātāla, 龍宮) dưới lòng đất, lấy Hòa Tu Cát (s: Vāsuki, 和修吉) làm vua của các Na Già. Theo Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 19, dưới đáy của biển lớn có cung điện của Ta Kiệt Long Vương (娑竭龍王); khoảng giữa hai núi Tu Di (須彌) và Khư Đà La (佉陀羅) có cung điện của hai Long Vương Nan Đà (難陀) và Bạt Nan Đà (跋難陀). Đại Phương Đẳng Đại Tập Kinh (大方等大集經, Taishō Vol. 13, No. 397) quyển 43, phẩm Nhật Tạng Phân Tống Sứ (日藏分送使品), cho biết rằng trong lòng đất của thế giới này đều có Long Vương, trong Long Cung của họ giữ gìn các thứ như đất, nước, gió, cây, hoa, quả, v.v. Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經, Taishō Vol. 17, No. 721) quyển 18, phẩm Súc Sanh (畜生品), ghi rằng trong biển lớn có tên là thành Hý Lạc (戲樂), trong thành ấy có hai loại Long Vương, tức là vị thủ hộ thế giới tên là Pháp Hành Long Vương (法行龍王), vị phá hoại thế giới tên là Phi Pháp Hành Long Vương (非法行龍王). Lại theo Phật Thuyết Hải Long Vương Kinh (佛說海龍王經, Taishō Vol. 15, No. 598) quyển 3, phẩm Thỉnh Phật (請佛品), Hải Long Vương (海龍王) đến Linh Thứu Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 靈鷲山), nghe đức Phật thuyết pháp, được tín tâm hoan hỷ, muốn thỉnh Phật đến Long Cung trong biển để cúng dường, bèn dùng thần lực hóa thành cung điện. Theo Liên Hoa Diện Kinh (蓮華面經, Taishō Vol. 12, No. 386) quyển Hạ, những bình bát cũng như Xá Lợi của chư Phật ở Diêm Phù Đề (s: Jambudvīpa, p: Jambudīpa, 閻浮提) và khắp mười phương, đều có trong cung điện của Bà Già La Long Vương (婆伽羅龍王). Còn theo Bồ Tát Tùng Đâu Thuật Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ Kinh (菩薩從兜術天降神母胎說廣普經, Taishō Vol. 12, No. 384) quyển 7, Ma Ha Ma Da Kinh (摩訶摩耶經, Taishō Vol. 12, No. 383) quyển Hạ, Long Thọ Bồ Tát Truyện (龍樹菩薩傳, Taishō Vol. 50, No. 2047b), Hiền Thủ Hoa Nghiêm Truyện (賢首華嚴傳) quyển 1, v.v., trong Long Cung vẫn còn lưu giữ những kinh điển vi diệu, thù thắng. Trong Ấn Sa Phật Văn (印沙佛文, Taishō Vol. 85, No. 2842) có đoạn: “Bách ức Như Lai, Hằng sa hóa Phật, Thanh Lương Sơn đỉnh, đại thánh Văn Thù, Kê Túc Nham sơn, đắc đạo La Hán, Long Cung bí điển, Thứu Lãnh vi ngôn (百億如來、恆沙化佛、清涼山頂、大聖文殊、雞足嵒山、得道羅漢、龍宮祕典、鷲嶺微言, trăm ức Như Lai, Hằng sa hóa Phật, Thanh Lương Sơn đỉnh, đại thánh Văn Thù, Kê Túc Nham sơn, đắc đạo La Hán, Long Cung giáo điển, Thứu Lãnh lời mầu).”
- Xích độc (尺牘): có mấy nghĩa chính. (1) Thẻ bằng gỗ dài một tấc, thời xưa dùng để viết văn thư lên đó. Lý Hiền (李賢, 654-684) nhà Đường giải thích rằng: “Độc, thư bản dã; cái trường nhất xích, nhân thủ danh yên (牘、書版也、蓋長一尺、因取名焉, độc là thẻ viết văn thư, do nó dài một tấc, nên lấy tên như vậy).” (2) Văn thư, thư tín. Như trong Văn Tâm Điêu Long (文心雕龍), phần Thư Ký (書記), của Lưu Hiệp (劉勰, khoảng 465-520) nhà Nam Tống, có đoạn: “Nỉ Hành đại thư, thân sơ đắc nghi, tư hựu xích độc chi thiên tài dã (禰衡代書、親疏得宜、斯又尺牘之偏才也, Nỉ Hành thường viết thay cho người khác, thân sơ đều thích nghi, ông lại có tài chuyên về viết văn thư).” (3) Văn từ. Như trong Nam Sử (南史), phần Thái Cảnh Lịch Truyện (蔡景歷傳), có đoạn: “Cảnh Lịch thiếu tuấn sảng, hữu hiếu hạnh, gia bần hiếu học, thiện xích độc, công Thảo Lệ (景歷少俊爽、有孝行、家貧好學、善尺牘、工草隸, Cảnh Lịch lúc nhỏ tuấn tú nhanh nhẹn, có hiếu hạnh, nhà nghèo mà hiếu học, giỏi văn từ, rành về chữ Thảo và Lệ).”