6. Điệp Con Cúng Cho Cha I
(Tư Độ Vãng Sanh)
Nguyên văn:
資度往生 爲牒薦事。茲據
越南國...省...縣(郡)...社...村、家居奉
佛修香諷經...之晨祈超度事。今... 等、維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于
奉爲...之香靈。
嗚呼、彝倫道重、父子情深、劬勞不顧於前生、忍負承歡之念、鞠育罔恩於後報、遽萌厭世之心、慨音容寂爾以難尋、愁踪跡寥然而莫覩。兹者... 今則靈筵肆設、請牒載陳、菩提樹上、依稀兜率之天、明鑒臺前、彷彿涅槃之地。須至牒者。
右牒薦
香靈冥中收執。故牒。
歲次...年...月...日時 、請薦牒
Phiên âm:
Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ... đẳng, cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:
Phụng vị ... chi hương linh.
Ô hô !1 Di luân2 đạo trọng, phụ tử tình thâm; cù lao bất cố ư tiền sanh, nhẫn phụ thừa hoan3 chi niệm; cúc dục võng ân ư hậu báo, cự manh yếm thế chi tâm; khái âm dung tịch nhĩ dĩ nan tầm, sầu tung tích liêu nhiên nhi mạc đổ. Tư giả ... kim tắc linh diên tứ thiết, thỉnh điệp tải trần; Bồ Đề thọ thượng, y hy Đâu Suất chi thiên; minh giám đài tiền, phảng phất Niết Bàn chi địa. Tu chí điệp giả.
Hữu Điệp Tiến
Hương linh minh trung thu chấp. Cố điệp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.
Dịch nghĩa:
Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.
Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:
Kính vì hương linh ...
Than ôi ! Luân thường đạo nặng, cha con tình sâu; công lao đời trước luôn đoái hoài, mãi nặng tâm tư hầu hạ; nuôi nấng ơn sâu kiếp sau báo, sợ sanh yếm thế ấy tâm; xót bóng hình lặng lẽ thật khó tìm, buồn tung tích quạnh hiu nào đâu thấy. Nay lúc … giờ đây cỗ mâm dọn sẵn, điệp thỉnh dâng bày; Bồ Đề cây ấy, thấp thoáng Đâu Suất cõi trời; soi xét trước đài, phảng phất Niết Bàn cảnh giới. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp Cúng
Hương linh nơi cõi âm nhận lấy. Kính điệp.
Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.
Chú thích:
- Lại có lòng văn khác như: “Ô hô ! Thành trung trụy mã, chưởng thượng tề châu; lự kỳ vãng giả chi khiên vưu, hàm oan bất dận; thỉ chí kim sanh chi túc trái, thích kết vị manh; viên bằng sám bạt chi công, kỳ trợ vãng sanh chi lộ (嗚呼、城中墜馬、掌上落珠、慮其往者之愆尤、含寃不泯、始至今生之夙債、釋結未萌、爰憑懺拔之功、祈助往生之路, than ôi ! trong thành rớt ngựa, trên tay rơi châu; lo người đã khuất ấy lầm sai, hàm oan chẳng hết, từ xưa đến nay các nần nợ, trói buộc chưa sanh; nhờ vào sám hối công năng, cầu giúp vãng sanh nẻo thoát).”
- Di luân (彝倫): có hai nghĩa chính. (1) Lý thường, đạo thường. Như trong tác phẩm Nhật Tri Lục (日知錄), chương Di Luân (彝倫), của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh, giải thích rằng: “Di luân giả, thiên địa nhân chi thường đạo (彝倫者、天地人之常道, di luân là đạo thường của trời đất và con người).” (2) Chỉ luân thường. Như trong Đàm Tân Văn Tập (鐔津文集, Taishō Vol. 52, No. 2115) có câu: “Loạn tắc di luân vạn sự dịch dã (亂則彝倫萬事斁也, loạn thì luân thường mọi chuyện bại hoại vậy).”
- Thừa hoan (承歡): có hai nghĩa chính. (1) Làm hợp ý tha nhân, đặc biệt là cha mẹ, để mong họ hoan hỷ, vui vẻ. Như trong bài Trường Hận Ca (長恨歌) của thi hào Bạch Cư Dị (白居易, 772-864) nhà Đường có đoạn: “Thừa hoan thị yến vô nhàn hạ, xuân tùng xuân du dạ chuyên dạ (承歡侍宴無閑暇、春從春游夜專夜, mua vui hầu tiệc không rổi rảnh, xuân theo xuân chơi đêm suốt đêm).” (2) Chỉ việc hầu hạ, thờ phụng cha mẹ. Như trong bài Tống Trương Tham Minh Kinh Cử Kiêm Hướng Kinh Châu Cận Tỉnh (送張參明經舉兼向涇州覲省) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 691-740) nhà Đường có đoạn: “Thập ngũ thải y niên, thừa hoan từ mẫu tiền (十五綵衣年,承歡慈母前, mười lăm năm áo đẹp, hầu hạ trước mẹ hiền).”