8. Điệp Con Cúng Cho Cha III

(Tư Độ Vãng Sanh)

 

Nguyên văn:

 

資度  爲牒薦事。茲據

越南國......()......村、家居奉

佛修香諷經...之晨祈超度事。今... 等、維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于

奉爲...香靈

嗚呼、雲侵岵嶺、雪按椿堂、生成之德大難酬、未能乎子、鞠育之恩深未報、慨此彼蒼、適臨諱日、慕乳香魂于坐上、歲序流易、懷恩靈魄在天方、落花無返樹之期、難忘寸草、逝水絕歸源之路、切痛片膓、伏憑佛力、幸得超昇、脫苦迷川、般若之花長在、魂歸極樂、菩提之果自眞。兹者...

惟願、觀音接引、勢至提攜、七重寶樹以逍遙、八德池中而自在須至牒者。

右牒薦  

香靈冥中收執。故牒。

.........日時 、請薦牒

 

Phiên âm:

 

Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.

Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ... đẳng, cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:

Phụng vị ... chi hương linh.

Ô hô !1 Vân xâm hộ lãnh, tuyết án Thung Đường;2 sanh thành chi đức đại nan thù, vị năng hồ tử; cúc dục chi ân thâm vị báo, khái thử bỉ thương; thích lâm húy nhật, mộ nhũ hương hồn vu tòa thượng; tuế tự lưu dịch, hoài ân linh phách tại thiên phương; lạc hoa vô phản thọ chi kỳ,3 nan vong thốn thảo;4 thệ thủy tuyệt quy nguyên chi lộ, thiết thống phiến trường; phục bằng Phật lực, hạnh đắc siêu thăng; thoát khổ mê xuyên, Bát Nhã chi hoa trường tại; hồn quy Cực Lạc, Bồ Đề chi quả tự chơn. Tư giả ...

Duy nguyện: Quan Âm tiếp dẫn, Thế Chí đề huề; thất trùng bảo thọ5 dĩ tiêu dao, Bát Đức6 trì trung nhi tự tại. Tu chí điệp giả.

Hữu Điệp Tiến

Hương linh minh trung thu chấp. Cố điệp.

Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.

 

Dịch nghĩa:

 

Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.

Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:

Kính vì hương linh ...

Than ôi ! Mây tràn núi Hỗ (cha), tuyết phủ nhà Xuân (mẹ); sanh thành bao đức cả khó đền, làm con chưa vẹn; nuôi nấng ấy ơn sâu chửa báo, than với trời xanh; đúng vào húy nhật, nhớ mẹ hương hồn trên tòa ấy; tháng ngày qua lại, thương cha linh phách tại phương trời; hoa rụng không trở lại thời kỳ, khó quên ân nghĩa; nước chảy chẳng về nguồn nẻo cũ, đau xót đoạn trường; cúi nhờ lực Phật, may được siêu thăng; thoát khổ sông mê, Bát Nhã đơm hoa còn đó; hồn về Cực Lạc, Bồ Đề kết quả tự tròn. Nay lúc ...

Cúi mong: Quan Âm tiếp dẫn, Thế Chí đón đưa; bảy tầng cây báu ấy tiêu dao, Tám Đức hồ sen mà tự tại. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Cúng

Hương linh nơi cõi âm nhận lấy. Kính điệp.

Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.

 

Chú thích:

  1. Lại có lòng văn khác như:Ô hô ! Võng cực thân ân, vĩnh cách từ nhan bất đỗ; hữu khuy tử đạo, kỉ niên hiếu nghĩa vị hoàn; khởi biện sanh phương, na kỳ khứ tựu (嗚呼、罔極親恩、永隔慈顏不覩、有虧子道、幾年孝義未還、豈辨生方、那期去就, than ôi ! vô tận ơn người, cách mãi bóng hình chẳng thấy; xét làm con đạo, bao năm hiếu nghĩa chữa tròn; biết sanh về đâu, sao cầu chốn đến).”
  2. Thung Đường, Xuân Đường (椿堂): Thung hay xuân (椿) là loại cây cao lá rụng thuộc Khoa Chiên Đàn (栴檀), gỗ cứng, thường dùng làm khí cụ rất tốt. Trong Trang Tử (莊子), phần Tiêu Dao Du (逍遙遊) có đoạn rằng: “Thượng cổ hữu đại Thung giả, dĩ bát thiên tuế vi Xuân, bát thiên tuế vi Thu (上古有大椿者、以八千歳爲春、八千歳爲秋, thời xưa có cây Thung lớn, lấy tám ngàn năm làm một mùa Xuân, tám ngàn năm làm một mùa Thu)”; vì vậy, sau nầy cây Thung được dùng thể hiện sự trường thọ và mượn thay thế cho người cha. Nơi người cha ở được gọi là Thung Đình (椿庭), Thung Đường (椿堂) hay Thung Phủ (椿府); cho nên người ta hay dùng câu “Thung Đường Trường Thanh (椿堂長青, Cha Lành Sống Mãi [nhà có cây thung xanh mãi])” để chúc thọ cho phụ thân. Đoạn Trường Tân Thanh có câu rằng: “Liêu dương cách trở sơn khê, Xuân Đường kíp gọi sinh về hộ tang.” Từ này đối với Huyên Đường (萱堂), chỉ cho người mẹ.
  3. Lạc hoa vô phản thọ chi kỳ (落花無返樹之期): hoa đã rụng rồi không bao giờ trở lại cây cũ nữa. Câu nầy cũng có nghĩa rằng khi cha mẹ đã qua vãng rồi thì vĩnh viễn không bao giờ gặp lại được. Trong Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chú Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 5 có đoạn: “Lạc hoa vô phản thọ chi kỳ, khứ thủy tuyệt quy nguyên chi nhật; nhân chi sanh diệt, sự khả đồng nhiên; vạn pháp giai không, hà bất ngộ hĩ (落花無返樹之期、去水絕歸源之日人之生滅事可同然萬法皆空何不悟矣, hoa rụng không về cội thời kỳ, nước chảy chẳng về nguồn ngày tháng; con người sanh diệt, việc cũng như nhau; muôn pháp đều không, sao không ngộ nhĩ ?!).”
  4. Thốn thảo (寸草): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ loại cỏ nhỏ. (2) Thí dụ tâm ý quan tâm chi ly từng chút một của cha mẹ đối với con, như từng tấc cỏ vậy. Như trong tác phẩm Hoán Sa Ký (浣紗記), chương Luận Hiệp (論俠), của Lương Thần Ngư (梁辰魚, 1519-1591) nhà Minh có đoạn: “Hiếu đạo lược tận, trung thành vị phu, tư dục báo thốn thảo chi tâm, thân khuynh quỳ chi ý (孝道略盡忠誠未孚思欲報寸草之心申傾葵之意, hiếu đạo chưa tận, trung thành chửa tin, nghĩ muốn báo lo lắng ấy tâm, nên dốc lòng thành ý).” Hay trong bài thơ Tự Táo Dạ Bạc Lỗ Cảng (祀灶夜泊魯港) của Phương Văn (方文, 1612-1669) nhà Thanh cũng có đoạn: “Biện hương vô xứ nghênh tiên tổ, thốn thảo hà thời báo lão thân (瓣香無處迎先祖寸草何時報老親, nén hương nào chốn nghinh tiên tổ, tấc dạ khi nào báo song thân).”
  5. Bảo thọ, bảo thụ (寶樹): rừng cây do 7 loại báu tạo thành, chỉ cho loại cây cỏ ở cõi Cực Lạc Tịnh Độ. Như trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) quyển Hạ có đoạn: “Tức thời tứ phương tự nhiên phong khởi, phổ xuy bảo thọ, xuất ngũ âm thanh, vũ vô lượng diệu hoa, tùy phong chu biến, tự nhiên cúng dường như thị bất tuyệt (卽時四方自然風起、普吹寶樹、出五音聲、雨無量妙華、隨風周遍、自然供養如是不絕, ngay lúc ấy bốn phương tự nhiên nỗi gió, thổi khắp cây báu, vang năm âm thanh, mưa vô lương hoa mầu, theo gió rãi khắp, tự nhiên cúng dường như vậy không dứt).” Hay trong bài Lục Căn Sám Văn (六根懺文) của Giản Văn Đế (簡文帝, tại vị 549-551) nhà Lương thời Nam Triều lại có đoạn: “Hương phong Tịnh Độ chi thanh, bảo thọ khanh thương chi hưởng, ư nhất niệm trung, hoảng nhiên nhập ngộ (香風凈土之聲、寶樹鏗鏘之響、於一念中、怳然入悟, gió hương Tịnh Độ âm thanh, cây báu leng keng vang vọng, ngay trong một niệm, đột nhiên giác ngộ).”Bát Đức (八德): tức Bát Công Đức Thủy (八功德水), là nước có đầy đủ 8 loại công Đức thù thắng; còn gọi là Bát Vị Thủy (八味水), Bát Chi Đức Thủy (八支德水), Bát Định Thủy (八定水). Cõi Tịnh Độ của chư Phật có hồ đầy đủ 8 công đức, trong đó có đầy ắp nước 8 công đức. Tám loại đó là: lắng sạch, trong lạnh, ngọt ngon, nhẹ mềm, tươi mát, an hòa, trừ đói khát, nuôi lớn các căn. Đồng thời, nơi 7 dòng biển bao quanh núi Tu Di, cũng có đầy đủ nước 8 công đức, gồm: ngọt, lạnh, mềm, nhẹ, trong sạch, không hôi, uống vào không gây tổn thương cổ họng, uống vào không gây tổn thương bụng. Trong Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh (稱讚淨土佛攝受, Taishō Vol. 12, No. 367) giải thích rằng: “Hà đẳng danh vi Bát Công Đức Thủy ? Nhất giả trừng tịnh, nhị giả thanh lãnh, tam giả cam mỹ, tứ giả khinh nhuyễn, ngũ giả nhuận trạch, lục giả an hòa, thất giả ẩm thời trừ cơ khát đẳng vô lượng quá hoạn, bát giả ẩm dĩ định năng trưởng dưỡng chư căn Tứ Đại, tăng ích chủng chủng thù thắng thiện căn, đa phước chúng sanh, trường lạc thọ dụng (何等名爲八功德水、一者澄淨、二者清冷、三者甘美、四者輕軟、五者潤澤、六者安和、七者飲時除饑渴等無量過患、八者飲已定能長養諸根四大、增益種種殊勝善根、多福眾生、長樂受用, thế nào là Nước Có Tám Công Đức ? Một là lắng sạch, hai là trong lạnh, ba là ngọt ngon, bốn là nhẹ mềm, năm là tươi mát, sáu là an hòa, bảy là khi uống trừ được vô lượng sai lầm, âu lo như đói khát, v.v., tám là uống rồi được định, có thể nuôi lớn các căn, Tứ Đại, làm cho tăng ích các loại căn lành thù thắng, chúng sanh có nhiều phước sẽ vui mừng thọ dụng lâu dài).” Hay trong Hồi Hướng Văn (迴向文, Taishō Vol. 85, No. 2848) lại có câu: “Bát Công Đức Thủy khử cấu trừ tai, Thất Tịnh Diệu Hoa trang nghiêm pháp thể(八功德水去垢除災、七淨妙花莊嚴法體, Nước Tám Công Đức khử nhớp trừ tai, Bảy Hoa Sạch Mầu trang nghiêm pháp thể).” Lại nữa, trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經, Taishō Vol. 12, No. 366) cũng có câu: “Hựu Xá Lợi Phất, Cực Lạc quốc độ, hữu Thất Bảo Trì, Bát Công Đức Thủy, sung mãn kỳ trung (又舍利弗、極樂國土、有七寶池、八功德水、充滿其中, lại nữa Xá Lợi Phất, cõi nước Cực Lạc có Ao Bảy Báu, có Nước Tám Công Đức, tràn đầy bên trong).” Ngoài ra, trong bài xướng Sái Tịnh có câu: “Phù thử thủy giả, Bát Công Đức Thủy tự thiên chơn, tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần, biến nhập Tỳ Lô Hoa Tạng giới (夫此水者、八功德水自天眞、先洗眾生業垢塵、徧入毘盧華藏界, phàm loại nước nầy, là Nước Tám Công Đức, xuất xứ từ nguồn chơn của trời đất, trước hết rửa sạch bụi dơ nghiệp của chúng sanh, chuyển nhập vào thế giới Hoa Tạng của Tỳ Lô Giá Na Phật).”