11. Sớ Tụng Kinh Thủy Sám II

(Đại Đức Nguy Nguy)

 

Nguyên văn:

 

伏以

大德巍巍、濟物神機之莫測、細心翼翼、爲親念切之無虧、簡奏寸丹、香薰五分。奏爲越南國...省...郡...社...家居建壇奉

佛修齋諷經薦先靈祈超報事。今弟子齋主...等、維日虔僃齋、披宣文懺、仰干

蓮眼俯鑒葵情、願俾...香靈而證果、恭祈齋眷以安寧。茲者辰維...月、節屬...天、壇開...之連霄、僧仗六和之淨侶、披宣慈悲三昧水懺法...部(巻)巳完、一函誠惶誠恐、和南上奏。

南無道塲敎主本師釋迦牟尼文佛金蓮座下。恭惟、中天敎主、無上醫王、開卍字於胸前、金身秀異、躡千輪於足下、玉相莊嚴、七七年之敎法宣揚、無量無邊無數刼、萬萬刼之衆生化導、大雄大力大慈悲、寔惟功德無邊、讚嘆莫及者也。恭望、鴻慈允納所奏。伏願、珢極披閱、演半言而一性了明、懺法宣揚、聞四句而六塵清淨、拜(法、報、化)身

佛于金蓮座上、參(等、妙、圓)覺地于白玉龕中、臣弟子(沙門、比丘)冐干慈悲不勝激切屛營之至。謹表代奏以聞。

佛曆...歲次...年...月...日時弟子沙門...和南上

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Đại đức nguy nguy, tế vật thần cơ chi mạc trắc; tế tâm dực dực, vi thân niệm thiết chi vô khuy; giản tấu thốn đơn, hương huân Ngũ Phận.

Tấu vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh ... Quận ... Xã ... gia cư kiến đàn phụng Phật tu trai phúng kinh tiến bạt tiên linh kỳ siêu báo ân sự. Kim đệ tử trai chủ … đẳng; duy nhật kiền bị hương trai, phi tuyên văn sám, ngưỡng can Liên Nhãn phủ giám quỳ tình, nguyện tỷ … hương linh nhi chứng quả; cung kỳ trai quyến dĩ an ninh. Tư giả thần duy ... nguyệt, tiết thuộc … thiên, đàn khai … chi liên tiêu, tăng trượng Lục Hòa chi tịnh lữ; phi tuyên Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp … bộ (quyển) dĩ hoàn, nhất hàm thành hoàng thành khủng, hòa nam thượng tấu:

Nam Mô Đạo Tràng Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật kim liên tọa hạ.

Cung duy: Trung Thiên Giáo Chủ, Vô Thượng Y Vương; khai Vạn tự1 ư hung tiền, kim thân tú dị; nhiếp thiên luân2 ư túc hạ, ngọc tướng trang nghiêm; thất thất niên chi giáo pháp tuyên dương, vô lượng vô biên vô số kiếp; vạn vạn kiếp chi chúng sanh hóa đạo, đại hùng đại lực đại từ bi; thật duy công đức vô biên, tán thán mạc cập giả dã. Cung vọng hồng từ doãn nạp sở tấu.

Phục nguyện: Ngân cực phi duyệt, diễn bán ngôn nhi nhất tánh liễU Minh; sám pháp tuyên dương, văn Tứ Cú nhi Lục Căn thanh tịnh; bái (Pháp, Báo, Hóa) Thân Phật vu kim liên tòa thượng, tham (đẳng, diệu, viên) Giác Địa vu Bạch Ngọc kham trung; thần đệ tử (Sa Môn, Tỳ Kheo) mạo can từ bi bất thắng kích thiết bình doanh chi chí. Cụ biểu đại. Tấu dĩ văn.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.

Đệ tử Sa Môn … hòa nam thượng tấu.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

  1. lớn cao vời, độ vật thần cơ nào tính được; tâm thành sáng tỏ, vì thân tưởng nhớ chẳng thiếu đâu; dâng trọn tấc lòng, hương xông năm món.

Tờ biểu dâng tại Thôn ..., Xã ..., Quận ..., Tỉnh ... Nước Việt Nam ... có gia đình lập đàn tràng, vâng lời Phật dạy, dọn cỗ chay, dâng hương tụng kinh, hiến cúng vong linh quá cố, cầu siêu báo ơn. Hôm nay chúng con đệ tử trai chủ …, tụng đọc văn Thủy Sám, ngưỡng mong đấng Mắt Sen xót thương tình đời, nguyện cầu hương linh … tròn chứng quả; xin cầu quyến thuộc được an ninh. Nay gặp đúng tháng …, tiết thuộc trời …, đàn tràng khai liên tục trong … ngày đêm, nương đức Lục Hòa của tăng chúng, trì tụng Pháp Từ Bi Tam Muội Thủy Sám … bộ (quyển) đã xong, một dạ chí thành nép sợ, thành tâm lạy thỉnh:

Kính xin đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, giáo chủ đạo tràng trên tòa sen vàng chứng giám cho.

Cúi xin: Giáo Chủ Giữa Trời, Vô Thượng Y Vương; mở chữ Vạn trước ngực mình, thân vàng khác lạ; khắc bánh xe nơi chân dưới, tướng ngọc trang nghiêm; bốn chín năm thảy giáo hóa tuyên dương, vô lượng vô biên vô số kiếp; hàng vạn kiếp muôn chúng sanh được hóa đạo, đại hùng đại lực đại từ bi; thật lớn công đức vô biên, tán thán không cùng không tận. Ngưỡng mong ơn từ nạp thọ lời tâu.

Cúi mong: Đọc kỹ lời ngọc, diễn nửa lời mà một tánh sáng bừng; pháp sám tuyên dương, nghe Bốn Câu mà Sáu Căn trong sạch; lạy (Pháp, Báo, Hóa) Thân Phật trên tòa sen báu ấy, lễ (Đẳng, Diệu, Viên) giác ngộ trong ngọc trắng khám thờ; chúng thần đệ tử (Sa Môn, Tỳ Kheo) mạo muội xin đức từ bi thấu đạt chí vọng tâm thành kẻ phàm phu. Dâng văn biểu, xin nghe tâu.

Ngày … tháng … năm … Đệ tử Sa Môn … kính thành tâu lên.

Đệ tử chúng con … kính thành tâu lên.

 

 

Phần chú thích:

  1. Vạn tự (卍字): chữ Vạn, còn viết là 萬、万、; nguyên ngữ tiếng Sanskrit là śrīvatsalakana, âm dịch là Thất Lợi Mạt Xoa Lạc Sát Nang (室利靺蹉洛剎囊), ý dịch là Cát Tường Hải Vân (吉祥海雲), Cát Tường Hỷ Toàn (吉祥喜旋), là một trong 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Phật, là đức tướng thường hiển hiện nơi ngực của chư Phật cũng như các Bồ Tát chứng quả Thập Địa (s: daśa-bhūmi, 十地). Đây cũng là một loại phù hiệu thường thấy ở các tượng Phật cũng như văn vật Phật Giáo. Một số kinh điển Phật Giáo nêu rõ vị trí của chữ Vạn như Đại Bổn Kinh (大本經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō No. 1) quyển 1 cho biết rằng chữ Vạn thuộc tướng tốt thứ 16: “Thập lục, hung hữu Vạn tự (十六胸有萬字, thứ mười sáu, trên ngực có chữ Vạn).” Hay Đại Tát Già Ni Càn Tử Sở Thuyết Kinh (大薩遮尼乾子所說經, Taishō No. 272) quyển 6 cũng cho hay rằng: “Sa Môn Cù Đàm hung hữu Vạn tự thị công đức tướng (沙門瞿曇胸有萬字示功德相, nơi ngực của Sa Môn Cù Đàm có chữ Vạn, thể hiện tướng công đức).” Trong Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh (方廣大莊嚴經) quyển 3 giải thích rằng trong 80 vẻ đẹp của đức Phật thì chữ Vạn thuộc về vẻ đẹp thứ 78, thường thấy ở trên tóc: “Phát hữu ngũ Vạn tự (髮有五卍字, tóc có năm chữ Vạn).” Thập Địa Kinh Luận (十地經論) quyển 12 nêu rõ rằng khi Thái Tử Tất Đạt Đa (s: Siddhārtha, p: Siddhattha, 悉達多) chưa thành Phật, nơi ngực người có chữ Vạn Kim Cang công đức trang nghiêm. Trong khi đó, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (有部毗奈耶雜事) quyển 29 cho hay rằng nơi lưng của Phật có tướng chữ Vạn. Bên cạnh đó, Đại Bát Nhã Ba La Mật Kinh (大般若波羅蜜多經) quyển 381 cho biết chữ Vạn nằm nơi ngực cũng như tay chân của đức Thế Tôn. Vào thời cổ đại Ấn Độ, chữ Vạn tượng trưng cho sự tốt đẹp. Ngoài Ấn Độ, thì Ba Tư, Hy Lạp cũng có loại phù hiệu nầy, thông thường được xem như tượng trưng cho mặt trời, điện quang, lửa, dòng nước chảy, v.v. Xưa kia, Phật Giáo, Bà La Môn Giáo, Kỳ Na Giáo đều có sử dụng chữ Vạn. Người Ấn Độ cổ đại cho rằng phù hiệu chữ Vạn nầy hiện hữu nơi sợi lông xoăn ở ngực của Phạm Thiên, thần Viṣṇu, Kṛṣṇa, rộng khắp thể hiện tướng cát tường, thanh tịnh, viên mãn. Trong Phật Giáo, chữ Vạn là tướng cát tường ở nơi ngực của đức Phật cũng như chư vị Bồ Tát chứng quả Thập Địa, về sau dần dần trở thành dấu hiệu tiêu biểu cho Phật Giáo. Về tiếng Hán dịch của chữ nầy, xưa nay có vài thuyết khác nhau. Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413), Huyền Trang (玄奘, 602-664), v.v., thì dịch là “đức ()”. Trong Thập Địa Kinh Luận (十地經論), Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支, 562-727) dịch là “vạn ()” với ý nghĩa “vạn đức viên mãn (萬德圓滿)”. Trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) quyển 3, chữ nầy được dịch âm là vạn, nhưng không có ý dịch. Cho đến năm thứ 2 (693) niên hiệu Trường Thọ (長壽) của Võ Tắc Thiên (武則天, 624-705), Hoàng Hậu bắt đầu quy định chữ nầy đọc là “vạn”, với ý nghĩa là “tập trung vạn đức tốt lành”. Tiếng Phạn ngữ của chữ Vạn () không phải chỉ có một, tỷ dụ như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh (新華嚴經) có đến 17 chỗ xuất hiện chữ nầy, đều dịch là vạn; nhưng nếu lấy nguyên ngữ đối chiếu, nguyên ngữ của chữ nầy có 4 loại: (1) śrīvatsa, âm dịch là Thất Lợi Mạt Xoa (室利靺蹉), ý dịch là Cát Tường Ức (吉祥臆), Cát Tường Độc (吉祥犢); như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 48 (Taishō No. 10) có đoạn: “Như Lai hung ức hữu Đại Nhân tướng, hình như Vạn tự, danh cát tường hải vân (如來胸臆有大人相、形如字、名吉祥海雲, nơi ngực của đức Như Lai có tướng của bậc Đại Nhân, hình như chữ Vạn, tên là mây biển tốt lành).” Trong đó, nguyên ngữ chữ Vạn là śrīvatsa, ý chỉ cho lông tóc xoắn quanh, chồng lên nhau như hình dạng đám mây biển. (2) nandy-āvarta, âm dịch là Nan Đề Ca Vật Đa (難提迦物多), ý dịch là Hỷ Toàn (喜旋); như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Kỳ phát hữu toàn, quang tịnh nhuận trạch, vạn tự nghiêm sức (其髪右、光淨潤澤、字嚴飾, tóc của Ngài xoay về bên phải, ánh sáng thanh tịnh, thấm khắp, chữ Vạn làm cho trang nghiêm).” Chữ Vạn trong câu nầy là nandy-āvarta, chỉ cho tướng tóc của Phật xoay về bên phải. (3) svastika, âm dịch là Tắc Phạ Tất Để Ca (悉底迦), ý dịch là Hữu Lạc (有樂). Như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Nguyện nhất thiết chúng sanh đắc như Vạn tự phát, loa văn hữu toàn phát (願一切衆生得如字髪、螺文右, nguyện hết thảy chúng sanh đều được như mái tóc có chữ Vạn, mái tóc xoay về bên phải theo hình trôn ốc).” Chữ Vạn trong câu nầy là svastika, có hàm nghĩa “có niềm an lạc”. (4) pūrṇaghaṭa, âm dịch là Nang Già Tra (), ý dịch là Tăng Trưởng (增長). Như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Nguyện nhất thiết chúng sanh đắc luân tướng chỉ, chỉ tiết viên mãn, văn tướng hữu toàn, nguyện nhất thiết chúng sanh đắc như Liên Hoa Vạn tự toàn chỉ (願一切衆生得輪相指、指節圓滿、文相右、願一切衆生得如蓮華, nguyện cho hết thảy chúng sanh có ngón tay tướng bánh xe tròn, kẻ ngón tay tròn đầy, hoa văn tay xoay về bên phải, nguyện cho hết thảy chúng sanh có được ngón tay chữ Vạn như hoa sen).” Nguyên ngữ chữ Vạn trong câu nầy là pūrṇaghaṭa, chỉ hình tướng đầu bộ hay các kẻ ngón tay tròn đầy. Từ xa xưa, chữ Vạn đã có sự khác nhau về phương hướng xoay của nó. Trong Ấn Độ Giáo, các vị thần nam tánh thường dùng chữ Vạn (, hướng về bên phải) và thần nữ tánh thì dùng chữ Vạn (, hướng về bên trái). Đối với Phật Giáo, hiện tồn tại ngôi cổ tháp ở Vườn Lộc Uyển (s: Mgadāva, p: Migadāya, 鹿苑) là chữ Vạn (). Ngôi tháp nầy được kiến tạo dưới thời A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) để kỷ niệm đức Phật xưa kia đã từng nhập định tại đây. Tại Tây Tạng, phần lớn các giáo đồ của Lạt Ma Giáo đều dùng chữ Vạn (). Tại Trung Quốc, trãi qua các thời đại đều dùng cả hai. Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新脩大藏經) của Nhật Bản thì lấy chữ Vạn () làm tiêu chuẩn; tuy nhiên, các bản Đại Tạng Kinh của nhà Tống, Nguyên, Minh đều dùng chữ Vạn (). Gần đây, vào khoảng thập niên 40 của thế kỷ 20, Đức Quốc Xã Hitler có dùng đến chữ Vạn () xoay qua bên trái và nghiêng xéo. Và cho đến nay, vẫn còn khá nhiều tranh luận về chiều xoay của chữ nầy theo quan điểm của Phật Giáo.

Túc Thiên Bức Luân Tướng (p: heṭṭhā pāda-talesu cakkāni jātāni, 千輻輪): chỉ cho tướng tốt vi diệu có đầy đủ ngàn bánh xe dưới chân, thuộc một trong 32 tướng tốt, còn gọi là Túc Hạ Thiên Bức Luân Tướng (足下千輻輪), Thường Hiện Thiên Bức Luân Tướng (常現千輻輪), Song Túc Hạ Hiện Thiên Bức Luân Triển Chuyển Chúng Tướng (足下現千輻輪輾轉衆相). Tướng nầy chỉ cho các hoa văn dưới lòng bàn chân Phật có hình dáng cả ngàn bánh xe rõ ràng. Tướng nầy do nghiệp nhân mà cảm được, do thời quá khứ đức Phật đã từng cúng dường, bố thí các thứ cho cha mẹ, sư trưởng, bạn tốt cho đến hết thảy chúng sanh. Tướng nầy không những chỉ thấy hiện nơi chân Phật, mà còn có cả nơi hai bàn tay Ngài. Tướng ngàn bánh xe còn thể hiện cho sự chuyển bánh xe giáo pháp của ngài; nếu hiện dưới chân là thể hiện cho việc du hóa khắp mọi nơi để chuyển pháp luân; khi thuyết pháp thì tướng nầy hiện ra nơi lòng bàn tay. Tướng nầy có thể hàng phục được oán địch, ác ma, thể hiện công đức chiếu phá vô minh và ngu si. Khi nói chân có nghĩa là cả tay chân, nên gọi là tướng tay chân có vòng tròn (s: cakrākita-hasta-pāda-tala). Từ ngàn xưa đã có truyền thống lễ bái dưới lòng bàn chân Phật rồi. Trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 9, phần Xuất Thai Bộ (出胎部) có câu: “Thân biên tắc quang sắc nhất trượng, mi gian tắc bạch hào ngũ xích, khai Vạn tự ư hung tiền, nhiếp thiên luân ư túc hạ (身邊則光色一丈眉間則白毫五尺開萬字於胸前躡千輪於足下, bên thân sắc ánh sáng một trượng, giữa lông mi có lông mày trắng năm tấc, mở chữ Vạn nơi trước ngực, hiện ngàn bánh xe ở dưới chân).” Hay trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Hậu Phần (大般涅槃經後分, Taishō No. 377) quyển hạ có đoạn: “Thế Tôn đại bi tức hiện nhị túc thiên bức luân tướng, xuất ư quan ngoại hồi thị Ca Diếp, tùng thiên bức luân phóng thiên quang minh, biến chiếu thập phương nhất thiết thế giới (世尊大悲現二足千輻輪相、出於棺外迴示迦葉、從千輻輪放千光明、遍照十方一切世界, Thế Tôn có lòng thương xót lớn, tức hiện tướng hai bàn chân có ngàn bánh xe, ra bên ngoài quan tài cho Ca Diếp biết rõ, từ ngàn bánh xe ấy phóng ra ngàn ánh sáng, chiếu khắp mười phương hết thảy các thế giới).” Hoặc như trong Biệt Thích Tạp A Hàm Kinh (別譯雜阿含經, Taishō No. 100) quyển 13 cũng có đoạn rằng: “Thời hữu nhất Bà La Môn tánh viết Yên thị, tại Phật hậu lai, kiến Phật tích trung thiên bức luân tướng quái vị tằng hữu, tức tự tư duy, ngã vị kiến nhân hữu như thị tích (時有一婆羅門姓曰煙氏、在佛後來、見佛跡中千輻輪相怪未曾有、自思惟、我未見人有如是跡, lúc bấy giờ có một Bà La Môn họ Yên, từ phía sau Phật đến, thấy trong dấu chân Phật có hình tướng ngàn bánh xe, lấy làm lạ chưa từng có, bèn tự suy nghĩ rằng ta chưa hề thấy người nào có dấu chân như vậy).”