13. Điệp Con Gái Cúng Cho Mẹ
(Tư Độ Vãng Sanh)
Nguyên văn:
資度往生 爲牒薦事。茲據
越南國...省...縣(郡)...社...村、家居奉
佛修香諷經...之晨祈超度事。今孝女...維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于
奉爲...之香靈。
竊念、懷鞠我身十月、劬勞德大、養生我体三年、乳哺恩深、因爲女輩、已無甘旨之供、遠出家門、又乏服勤之力、二親去逝、恨無再見之期、一念懷恩、爰啟薦修之會。兹者... 之晨、虔仗六和之念、諷誦大乘法寶經文、加持徃生淨土神咒、集此良因、祈生樂國。今則儀筵完滿、法事云終、薦牒宣揚、香靈收執。
惟願、不墮四生、托質蓮花之母、免隨六道、恆遊寶樹之堦。須至牒者。
右牒薦
香靈冥中收執。故牒。
歲次...年...月...日時 、請薦牒
Phiên âm:
Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim hiếu nữ ..., duy nhật cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:
Phụng vị ... chi hương linh.
Thiết niệm: Hoài cúc ngã thân thập nguyệt, cù lao đức đại; dưỡng sanh ngã thể tam niên, nhũ bộ ân thâm; nhân vi nữ bối, dĩ vô cam chỉ1 chi cung; viễn xuất gia môn, hựu phạp phục cần chi lực; nhị thân khứ thệ, hận vô tái kiến chi kỳ; nhất niệm hoài ân, viên khải tiến tu chi hội. Tư giả ... chi thần, kiền trượng Lục Hòa chi niệm, phúng tụng Đại Thừa pháp bảo kinh văn, gia trì Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú; tập thử lương nhân, kỳ sanh Lạc Quốc. Kim tắc nghi diên hoàn mãn, pháp sự vân chung; tiến điệp tuyên dương, hương linh thu chấp.
Duy nguyện: Bất đọa Tứ Sanh, thác chất Liên Hoa chi mẫu; miễn tùy Lục Đạo, hằng du bảo thọ chi giai. Tu chí điệp giả.
Hữu Điệp Tiến
Hương linh minh trung thu chấp. Cố điệp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.
Dịch nghĩa:
Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.
Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có hiếu nữ ... , kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:
Kính vì hương linh ...
Xót nghĩ: Khổ mang thân ta mười tháng, nhọc nhằn đức lớn; nuôi dưỡng thân ta ba năm, bú mớm ơn sâu; vì làm thân nữ, đã không cung phụng ngọt ngon; xa lìa gia môn, lại thiếu chăm sóc sức lực; song thân quá vãng, hận không gặp lại thời kỳ; một niệm nhớ ơn, nay mở cúng dâng pháp hội. Hôm nay gặp lúc ..., nương sức chúng tăng hộ niệm, trì tụng Đại Thừa pháp báu kinh văn, gia trì Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ; lấy nhân lành này, cầu sanh Cực Lạc. Đến nay nghi cúng hoàn mãn, pháp sự vẹn toàn; điệp cúng tuyên bày, hương linh nhận lấy.
Cúi mong: Chẳng đọa Bốn Đường, thác sanh Hoa Sen thai mẹ; miễn theo Sáu Nẻo, thường chơi cây báu bên thềm. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp Cúng
Hương linh nơi cõi âm nhận lấy. Kính điệp.
Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.
Chú thích:
1. Cam chỉ (甘旨): có nhiều nghĩa khác nhau: (1) Ngon ngọt; như trong Luận Quý Túc Sớ (論貴粟疏) của Triều Thác (晁錯, 200-154 ttl.) nhà Hán có câu: “Phù hàn chi ư y, bất đãi khinh noãn, cơ chi ư thực, bất đãi cam chỉ (夫寒之於衣、不待輕煖、飢之於食、不待甘旨, hễ lạnh thì nhờ vào áo mặc, chẳng kể thứ nhẹ ấm; hễ đói thì nhờ vào thức ăn, chẳng đợi đồ ngon ngọt).” (2) Loại thực vật ngon ngọt. Như trong Kim Lâu Tử (金樓子), Lập Ngôn (立言) của Lương Nguyên Đế (梁元帝, tại vị 552-554) thời Nam Triều có câu: “Cam chỉ bách phẩm, nguyệt tế nhật tự (甘旨百品、月祭日祀, trăm thứ ngon ngọt, tháng ngày cúng thờ).” Hay như trong Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), chương Cửu Sơn Vương (九山王) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh cũng có đoạn rằng: “Nga nhi hành tửu tiến soạn, bị cực cam chỉ (俄而行酒薦饌、僃極甘旨, trong chốc lát thì tiến hành dâng cúng rượu, mâm cỗ, chuẩn bị loại ngon ngọt nhất).” (3) Chỉ loại thức ăn dùng để nuôi dưỡng song thân. Trong tờ Tấu Trần Tình Trạng (奏陳情狀) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có đoạn: “Thần mẫu đa bệnh, thần gia tố bần, cam chỉ hoặc khuy, vô dĩ vi dưỡng, dược bính hoặc khuyết, không trí kỳ ưu(臣母多病、臣家素貧、甘旨或虧、無以爲養、藥餌或闕、空致其憂, mẹ thần nhiều bệnh, nhà thần nghèo cùng, thức ăn ngon ngọt có khi thiếu thốn, chẳng lấy gì nuôi dưỡng song thân, thuốc men khuyết hụt, không có gì làm cho người yên lòng).” Từ đó, có cụm từ “cúng cam chỉ (供甘旨)” nghĩa là cung phụng cha mẹ hết mực để báo hiếu. Như Trong Nhị Thập Tứ Hiếu (二十四孝), câu chuyện Phụ Mễ Dưỡng Thân (負米養親, vác gạo nuôi song thân) của Tử Lộ (子路) có đoạn thơ rằng: “Phụ mễ cúng cam chỉ, ninh từ bách lí diêu, thân vinh thân dĩ một, do niệm cựu cù lao (負米供甘旨、寧辭百里遙、身榮親已沒、猶念舊劬勞, vác gạo nuôi cha mẹ, nào kể trăm dặm xa, giàu sang người đã mất, còn nhớ công ơn xưa).” Hay trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 20 có đoạn: “Phụ mẫu bất cúng cam chỉ, Lục Thân cố dĩ khí ly, thân cư thanh tịnh già lam, mục đỗ cam dung thánh tướng(父母不供甘旨、六親固以棄離、身居清淨伽藍、目睹紺容聖相, cha mẹ chẳng tròn hiếu đạo, Lục Thân lại phải xa rời, thân sống già lam thanh tịnh, mắt trông dung hiền thánh tướng).” Hoặc trong Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策) của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐, 771-853) cũng có câu tương tự như vậy: “Phụ mẫu bất cung cam chỉ, Lục Thân cố dĩ khí ly, bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự (父母不供甘旨、六親固以棄離、不能安國治邦、家業頓捐繼嗣, cha mẹ chẳng dâng ngon ngọt, Lục Thân lại phải xa rời, chẳng thể an nhà trị nước, gia nghiệp dứt bỏ kế thừa).”