13. Điệp Triệu Tổ II
(Tư Độ Linh Diên)
Nguyên văn:
資度靈筵 爲牒告者。茲據
越南國...省...縣(郡)...社...村、哀堂奉
佛修香諷經遷柩歸山安墳淨土、請靈告祖之禮、報德酬恩祈超度事。今...等、維日謹以香花齋盤庶品菲禮之儀、敢告于
奉爲本音堂上過逝列位香靈。默降香筵、曲垂保佑。
竊念、木從根長、水自源流、想祖德已生成、故愼終而追遠。今爲故父(母)...之靈柩、晨辰權殯、是夜告行、卜以良辰、將還出宅。今則良辰適至、恭詣祠堂、虔仗禪和、牒文告謁。
惟願、憐憫有情、引開冥路、承斯善利、靈也亡也幷優游、仗此經功、陰兮陽兮仝安慰。須至牒者。
右牒
奉爲先靈案前鑒納。
歲次...年...月...日時 。請薦牒
Phiên âm:
Tư Độ Linh Diên Vị điệp điện sự.
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, ai đường phụng Phật tu hương phúng kinh thiên cửu quy sơn an phần Tịnh Độ thỉnh linh cáo yết Tổ đường, báo đức thù ân, kỳ siêu độ sự.
Kim ... duy nhật cẩn dĩ hương hoa trai bàn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cảm cáo vu
Phụng vị bản âm đường thượng quá thệ liệt vị hương linh, mặc giáng hương diên, khúc thùy bảo hựu.
Thiết niệm: Mộc tùng căn trưởng, thủy tự nguyên lưu; tưởng tổ đức dĩ sanh thành, cố thận chung nhi truy viễn. Kim vị cố phụ (mẫu) ... chi linh cữu, thần thần quyền tẫn, thị dạ cáo hành; bốc dĩ lương thần, tương hoàn xuất trạch. Kim tắc lương thần thích chí, cung nghệ từ đường, kiền trượng Thiền hòa, điệp văn cáo yết.
Duy nguyện: Lân mẫn hữu tình,1 dẫn khai minh lộ; thừa tư thiện lợi, linh dã vong dã tịnh ưu du; trượng thử kinh công, âm hề dương hề đồng an úy.
Hữu Điệp
Phụng vị tiên linh án tiền giám nạp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.
Dịch nghĩa:
Diên Cúng Siêu Độ Vì điệp dâng cúng.
Nay căn cứ: Việc gia đình đau buồn hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam, thờ Phật dâng hương tụng kinh dời quan về núi yên mộ phần Tịnh Độ, thỉnh linh bái lạy Tổ đường, báo đức đền ơn cầu siêu độ. Nay ... hôm nay kính lấy nghi lễ hương hoa cỗ chay phẩm vật lễ mọn, kính cáo lên:
Kính vì hương linh các vị tổ tiên quá cố dòng họ ..., thầm xuống cỗ thơm, xót thương giúp đỡ.
Nép nghĩ: Cây từ gốc lớn, nước nguồn chảy ra; nhớ Tổ đức đã sanh thành, nên cúng cấp mà thờ phụng. Nay cha (mẹ) ... đã mất, giờ khắc di quan, đêm nay cáo hành; chọn lấy giờ lành, đưa ra khỏi nhà. Nay lúc giờ lành đã đến, kính đến Tổ đường, nương vào chư tăng, điệp văn kính cáo.
Cúi mong: Thương xót hữu tình, dẫn bày nẻo tối; nhờ lợi lành này, linh ấy vong ấy đều thong dong; nương kinh văn đây, âm chừ dương chừ cùng an ủi. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp
Kính vì tiên linh trước án chứng giám.
Lúc ... ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.
Chú thích:
- Hữu tình (s: sattva, p: satta, 有情): âm dịch là Tát Đa Bà (薩多婆), Tát Đỏa Phạ (薩埵嚩), Tát Đỏa (薩埵); cựu dịch là chúng sanh; tức ý là hiện hữu có sự sinh tồn. về mối quan hệ giữa hữu tình và chúng sanh, các thuyết giải thích không đồng nhất. Có thuyết cho là hữu tình chỉ cho các sinh vật có tình thức như nhân loại, chư Thiên, Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼), Súc Sanh (s: tiryagyoni, p: tiracchānayoni, 畜生), A Tu La (s, p: asura, 阿修羅), v.v. Theo đó, cỏ cây, vàng đá, núi sông, trời đất, v.v., thảy đều là phi tình, vô tình. Còn chúng sanh thì bao quát luôn cả phi tình lẫn hữu tình. Cũng có thuyết cho rằng hữu tình là tên gọi khác của chúng sanh; cả hai cùng nhất thể nhưng chỉ khác tên mà thôi, đều bao quát hết thảy các sinh vật hữu tình cũng như cỏ cây vô tình. Ngoài ra, còn có tên gọi khác của hữu tình là hữu thức (有識), tỷ dụ như hữu thức phàm phu (有識凡夫); hữu linh (有靈), v.v. Trong Phật Thuyết Vô Úy Thọ Sở Vấn Đại Thừa Kinh (佛說無畏授所問大乘經, Taishō Vol. 12, No. 331) quyển Hạ có đoạn: “Tu thử Bồ Đề hạnh, vi dũng mãnh y vương, cứu khổ chư hữu tình, thường viễn ly bì giải (修此菩提行、爲勇猛醫王、救苦諸有情、常遠離疲懈, tu hạnh Bồ Đề này, làm vua thuốc dũng mãnh, cứu khổ các hữu tình, thường xa lìa mệt biếng).”