14. Điệp Chồng Cúng Cho Vợ I
(Tư Độ Vãng Sanh)
Nguyên văn:
資度往生 爲牒薦事。茲據
越南國...省...縣(郡)...社...村、家居奉
佛修香諷經...之晨祈超度事。今...維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于
奉爲...之香靈。
嗚呼、分生姿質、性稟仁柔、從謹三從、貞順素敦淑女、德僃四德、緣諧預結良夫、無期鶴髪添齡、首同鳳枕、豈意鸞形隻影、魂化仙遊、祈超仰迓于慈悲、報義用伸于薦拔。茲者...之晨、虔仗六和之念、諷誦大乘法寶經文、加持徃生淨土神咒、集此良因、祈生樂國。今則儀筵完滿、法事云終、薦牒宣揚、香靈收執。
惟願、承斯善利、早獲生天、九品妙蓮、彌陀授記。須至牒者。
右牒薦
香靈冥中鑒知收執。故牒。
歲次...年...月...日時 、請薦牒
Phiên âm:
Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ..., duy nhật cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:
Phụng vị ... chi hương linh.
Ô hô ! Phận sanh tư chất, tánh bẩm nhân nhu; tùng cẩn Tam Tùng,1 trinh thuận2 tố đôn thục nữ;3 đức bị Tứ Đức,4 duyên hài dự kết lương phu; vô kỳ hạc phát5 thiêm linh, thủ đồng phụng chẩm;6 khởi ý loan hình7 chích ảnh, hồn hóa tiên du;8 kỳ siêu ngưỡng nhạ vu từ bi, báo nghĩa dụng thân vu tiến bạt. Tư giả ... chi thần, kiền trượng Lục Hòa chi niệm, phúng tụng Đại Thừa pháp bảo kinh văn, gia trì Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú; tập thử lương nhân, kỳ sanh Lạc Quốc. Kim tắc nghi diên hoàn mãn, pháp sự vân chung; tiến điệp tuyên dương, hương linh thu chấp.
Duy nguyện: Thừa tư thiện lợi, tảo hoạch sanh thiên; Cửu Phẩm diệu liên, Di Đà thọ ký. Tu chí điệp giả.
Hữu Điệp Tiến
Hương linh minh trung giám tri thu chấp. Cố điệp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.
Dịch nghĩa:
Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.
Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:
Kính vì hương linh ...
Than ôi ! Phận sanh tư chất, tánh vốn nhân từ; theo đúng Ba Tùng, trung trinh thuần hậu thục nữ; đức đủ Bốn Đức, duyên hòa kết đúng chồng lành; lúc nào tóc hạc tuổi thêm, đầu cùng gối phụng; ngờ đâu hình loan lẻ bóng, hồn thác cõi tiên; kỳ siêu đón rước nơi từ bi, báo nghĩa nương nhờ nơi dâng cúng. Hôm nay gặp lúc ..., nương sức chúng tăng hộ niệm, trì tụng Đại Thừa pháp báu kinh văn, gia trì Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ; lấy nhân lành này, cầu sanh Cực Lạc. Đến nay nghi cúng hoàn mãn, pháp sự vẹn toàn; điệp cúng tuyên bày, hương linh nhận lấy.
Cúi mong: Nhờ lợi lành này, sớm sanh cõi trời; Chín Phẩm hoa sen, Di Đà thọ ký. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp Cúng
Hương linh nơi cõi âm soi biết nhận lấy. Kính điệp.
Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.
Chú thích:
- Tam Tùng, Tam Tòng (三從): xưa kia người nữ suốt một đời phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc quan trọng: khi còn ở nhà thì theo cha, khi xuất giá thì phải theo chồng, và khi chồng chết rồi thì phải theo con (trai). Ba nguyên tắc này còn gọi là Tam Chướng (三障), Tam Cách (三隔), Tam Giám (三監). Vì phải tuân thủ nghiêm khắc theo 3 nguyên tắc này, nên suốt đời người nữ không được tự do, được ví như 5 chướng ngại trong tu tập Phật Giáo, vì vậy được gọi là Ngũ Chướng Tam Tòng (五障三從). Như trong Pháp Cú Thí Dụ Kinh (法句譬喻經, Taishō Vol. 4, No. 211) quyển 1, phẩm Hương Hoa (華香品) thứ 12 có đoạn: “Ngã đẳng bẩm hình sanh vi nữ nhân, tùng thiếu chí lão vị tam sự sở giám bất đắc tự do (我等稟形生爲女人、從少至老爲三事所鑑不得自由, thân hình chúng ta sanh làm người nữ, từ nhỏ đến già bị ba việc giám sát không được tự do).” Vì vậy Thắng Man Bảo Quật (勝鬘寶窟, Taishō Vol. 37, No. 1744) quyển Thượng gọi là Ngũ Nghi Tam Giám (五礙三監). Trong Nghi Lễ (儀禮), chương Tang Phục (喪服), truyện Tử Hạ (子夏傳) có giải thích rằng: “Phụ nhân hữu Tam Tòng chi nghĩa, vô chuyên dụng chi đạo; cố vị giá tòng phụ, ký giá tòng phu, phu tử tòng tử (婦人有三從之義、無專用之道、故未嫁從父、旣嫁從夫、夫死從子, người phụ nữ có nghĩa Tam Tòng, không có đạo muốn làm gì cũng được; cho nên chưa lấy chồng thì theo cha, đã có chồng rồi thì theo chồng, chồng chết thì theo con).” Tuy nhiên, dưới thời đại văn minh hiện đại như ngày nay, ba nguyên tắc này không còn được tuân thủ một cách nghiêm cẩn như xưa kia nữa.
- Trinh thuận (貞順): chỉ sự nhu thuận, khéo xử của người phụ nữ. Như trong Liệt Nữ Truyện (列女傳), chương Chu Thất Tam Mẫu (周室三母), của Lưu Hướng (劉向, 77-6 ttl.) nhà Hán có câu: “Trinh thuận suất đạo, mĩ hữu quá thất (貞順率道、靡有過失, nhu thuận dẫn đường, không có sai lầm).” (2) Chỉ sự trung trinh, hiếu thuận đến cùng của bầy tôi.
- Thục nữ (淑女): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ người nữ hiền lương, tốt đẹp. Như trong Thi Kinh (詩經), chương Chu Nam (周南), phần Quan Thư (關雎), có câu: “Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu (窈窕淑女、君子好逑, yểu điệu thục nữ, quân tử thích sánh đôi).” (2) Chỉ chung cho người nữ, phần nhiều hàm nghĩa trào phúng.
- Tứ Đức (四德): bốn đức lớn. Theo lễ giáo phong kiến, người phụ nữ cần phải đủ 4 loại đức hạnh, gồm đức (德),ngôn (言), dung (容), công (功). Như trong Chu Lễ (周禮), chương Thiên Quan (天官), phần Cửu Tần (九嬪), ghi rõ: “Chưởng phụ học chi pháp, dĩ giáo Cửu Ngự phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công (掌婦學之法、以敎九御婦德、婦言、婦容、婦功, quản lý pháp người phụ nữ cần phải học, để dạy cho Cửu Tần [nữ quan trong cung] đức, ngôn, dung, công của người phụ nữ).” Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200), nhà kinh học thời Đông Hán, giải thích rằng: “Phụ đức vị trinh thuận, phụ ngôn vị từ lịnh, phụ dung vị uyển vãn, phụ công vị ty tỉ (婦德謂貞順、婦言謂辭令、婦容謂婉娩、婦功謂絲枲, đức của người phụ nữ là trung trinh, lời nói của người phụ nữ là ôn tồn, dáng vẻ của người phụ nữ là thùy mị, công năng của người phụ nữ là khéo léo, chịu khó).” Hay trong tác phẩm Trung Hưng Nhàn Khí Tập (中興間氣集), phần Lý Quý Lan (李季蘭), của Cao Trọng Võ (高仲武, ?-?) nhà Đường, có câu: “Sĩ hữu bách hạnh, nữ duy Tứ Đức (士有百行、女唯四德, người nam có trăm hạnh, phụ nữ có Bốn Đức).” Tuy nhiên, theo giải thích của Việt Nam, Tứ Đức là công, dung, ngôn, hạnh.
- Hạc phát (鶴髪): tóc trắng như lông chim hạc, tức chỉ tuổi già. Trong bài Đại Bi Bạch Đầu Ông (代悲白頭翁, hay Bạch Đầu Ngâm [白頭吟]) của Lưu Hy Di (劉希夷, khoảng 651-?), thi sĩ thời nhà Đường, có câu: “Uyển chuyển nga mi năng kỷ thời, tu du hạc phát loạn như ty, đản khán cổ lai ca vũ địa, duy hữu hoàng hôn điểu tước bi (宛轉蛾眉能幾時、須臾鶴髪亂如絲、但看古來歌舞地、惟有黃昏鳥雀悲, uyển chuyển lông mày biết lúc nào, thoáng chốc tóc trắng rối như tơ, chỉ thấy xưa nay ca múa chốn, chỉ thấy hoàng hôn chim chóc buồn).”
- Phụng chẩm, phượng chẩm (鳳枕): gối phụng, tức chỉ chiếc gối tuyệt đẹp. Như trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1297) quyển 28, phần Nhữ Châu Phong Huyệt Diên Chiểu Thiền Sư (汝州風穴延沼禪師), có đoạn: “Hà niên giá sự Mã gia lang, phượng chẩm đồng hoan bích ngọc sàng (何年嫁事馬家郎、鳳枕同歡碧玉床, năm nào ở giá họ Mã chàng, gối phụng cùng vui bích ngọc sàng).”
- Loan hình (鸞形): chỉ thân hình kiều diễm của người đẹp. Như trong bài Chiếu Bảo Kính Phú (照寶鏡賦) của Vương Khởi (王起, 760-847) nhà Đường có câu: “Tập thôi xán chi quang, loan hình sạ hợp (集璀璨之光、鸞形乍合, tập ánh sáng ngọc ngà, hình loan mới hợp).”
- Tiên du (仙遊、僊遊): rong chơi cõi tiên, ý nói chết. Như trong bài thơ Cảm Hứng (感興) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Thập ngũ du thần tiên, tiên du vị tằng hiết (十五遊神仙、仙遊未曾歇, mười lăm chơi cõi thần tiên, chơi cõi tiên chưa từng nghỉ).” Xưa kia từ này được dùng để chỉ vong linh rong chơi nơi cõi tiên, thành tiên rồi đi mất. Trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 29, phần Tây Thiền Thụy Thiền Pháp Từ (西禪瑞禪師法嗣), có đoạn: “Thích quan gia trừ đạm chi thần, nãi hạc giá tiên du chi nhật (適官家除禫之辰、乃鶴駕仙遊之日, đúng nhà quan trừ phục thời kỳ, ấy cỡi hạc chơi tiên ngày tháng).”