16. Điệp Chồng Cúng Cho Vợ III

(Tư Độ Vãng Sanh)

 

Nguyên văn:

 

資度  爲牒薦事。茲據

越南國......()......村、家居奉

佛修香諷經...之晨祈超度事。今...維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于

奉爲...香靈

嗚呼、慚爲夫子、愛慕小君、義非床穴、糟糠不忍於下堂、情切琴瑟、蘋藻視猶於內助、相親相愛、且樂且忱、方賡偕老之歌、庶遂三生之、誰料鸞分鏡破、難勝哀感情、豈期月落燈殘、空負衿裯之義、深惟遑恤、倍覺悲傷。茲者...之晨、虔仗六和之念、諷誦大乘法寶經文、加持徃生淨土神咒、集此良因、祈生樂國。今則儀筵完滿、法事云終、薦牒宣揚、香靈收執

惟願、承斯善利、早獲生天、九品妙蓮、彌陀授記。須至牒者。

右牒薦  

香靈冥中鑒知收執。故牒。

.........日時 、請薦牒

 

Phiên âm:

 

Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.

Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ..., duy nhật cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:

Phụng vị ... chi hương linh.

Ô hô ! Tàm vi phu tử, ái mộ tiểu quân;1 nghĩa phi sàng huyệt, tào khang bất nhẫn ư hạ đường; tình thiết cầm sắt,2 tần tảo thị do ư nội trợ; tương thân tương ái, thả lạc thả thầm; phương canh giai lão3 chi ca, thứ toại Tam Sanh4 chi nguyện; thùy liệu loan phân kính phá,5 nan thắng ai cảm chi tình; khởi kỳ nguyệt lạc đăng tàn, không phụ câm trù chi nghĩa; thâm duy hoàng tuất, bội giác bi thương. Tư giả ... chi thần, kiền trượng Lục Hòa chi niệm; phúng tụng Đại Thừa pháp bảo kinh văn, gia trì Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú; tập thử lương nhân, kỳ sanh Lạc Quốc. Kim tắc nghi diên hoàn mãn, pháp sự vân chung; tiến điệp tuyên dương, hương linh thu chấp.

Duy nguyện: Thừa tư thiện lợi, tảo hoạch sanh thiên; Cửu Phẩm diệu liên, Di Đà thọ ký. Tu chí điệp giả.

Hữu Điệp Tiến

Hương linh minh trung giám tri thu chấp. Cố điệp.

Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.

 

Dịch nghĩa:

Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.

Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:

Kính vì hương linh ...

Than ôi ! Thẹn làm phu tử, thương nhớ vợ hiền; nghĩa đâu giường gối, gối chăn đâu nhẫn xuống dưới nhà; tình tợ cầm sắt, tảo tần nương vào nơi nội trợ; tương thân tương ái, lại vui lại mừng; cùng nhau hát khúc tuổi già, mới vẹn ba đời ước nguyện; ai hay chim chia kính vỡ, khó cầm thương cảm ân tình; há mong trăng rụng đèn mờ, nỡ phụ áo chăn nghĩa cả; nghĩ càng đau xót, rõ biết bi thương. Hôm nay gặp lúc ..., nương sức chúng tăng hộ niệm, trì tụng Đại Thừa pháp báu kinh văn, gia trì Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ; lấy nhân lành nầy, cầu sanh Cực Lạc. Đến nay nghi cúng hoàn mãn, pháp sự vẹn toàn; điệp cúng tuyên bày, hương linh nhận lấy.

Cúi mong: Nhờ lợi lành nầy, sớm sanh cõi trời; Chín Phẩm hoa sen, Di Đà thọ ký. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Cúng

Hương linh nơi cõi âm soi biết nhận lấy. Kính điệp.

Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.

 

Chú thích:

  1. Tiểu quân (小君): có hai nghĩa chính. (1) Dưới thời nhà Chu, từ này được dùng thay cho vợ của chư hầu. Như trong Xuân Thu (春秋), phần Hy Công Nhị Niên (僖公二年), có đoạn: “Hạ ngũ nguyệt Tân Tỵ, táng ngã tiểu quân Ai Khương (夏五月辛巳葬我小君哀姜, vào ngày Tân Tỵ tháng 5 mùa Hè, chôn vợ ta Ai Khương).” Hay trong tác phẩm Vân Lộc Mạn Sao (雲麓漫鈔) quyển 1 của Triệu Ngạn Vệ (趙彥衛, ?-?) nhà Tống cho biết rằng: “Chu chế chư hầu viết quốc quân, thê viết tiểu quân (周制諸侯曰國君妻曰小君, nhà Chu chế rằng chư hầu gọi là quốc quân, vợ gọi là tiểu quân).” (2) Từ dùng cho thê thiếp của những bậc tôn kính hay trưởng bối mà không có quan hệ thân tộc.
  2. Cầm sắt (琴瑟): tên hai loại nhạc khí là cây đàn cầm, đàn dài 3 thước, 6 tấc, căng 7 dây; và cây đàn sắt, loại đàn có 25 dây. Khi hai loại nầy cùng đàn tấu lên, âm sắc của chúng mười phần hòa điệu với nhau. Như trong Thượng Thư (尚書), phần Ích Tắc (益稷) có câu: “Ca kích minh cầu, bác phụ cầm sắt chi vịnh, tổ khảo lai cách (嘎擊鳴球、搏拊琴瑟以詠、祖考來格, đánh cầu kêu lắc cắc, gãy đàn cầm sắt vịnh theo, ông nội đến thán phục).” Từ đó, cầm sắt được dùng để tỷ dụ cho sự hòa hợp tốt đẹp của vợ chồng với nhau, hay tình cảm dung hòa giữa bằng hữu, anh em; như trong Thi Kinh (詩經), phần Quan Thư (關雎) có câu: “Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi (窈窕淑女琴瑟友之, yểu điệu thục nữ, cầm sắt bạn đôi).” Hay như trong Nghĩ Liên Châu (擬連珠) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu lại có câu: “Trung tín vi cầm sắt, nhân nghĩa vi bào trù (忠信爲琴瑟仁義爲庖廚, trung tín là cầm sắt, nhân nghĩa là bồi bếp).” Trong dân gian vẫn thường dùng một số câu đối từ để chúc mừng tân hôn, vợ chồng song toàn, v.v., như “cầm sắt hữu chi (琴瑟友之, cầm sắt bạn đôi)”, “cầm sắt canh hòa (琴瑟賡和, cầm sắt hòa theo)”, “bách niên cầm sắt (百年琴瑟, trăm năm cầm sắt)”, “như cổ cầm sắt (如鼓琴瑟, như trống hòa âm)”, “cầm sắt hòa minh (琴瑟和鳴, cầm sắt hòa vang)”, “cầm sắt trùng điệu (琴瑟重調, cầm sắt trùng điệu)”, “cầm sắt bách niên (琴瑟百年, cầm sắt trăm năm)”, v.v.
  3. Giai lão (偕老): có hai nghĩa chính. (1) Cùng chung sống cho đến già, thường được dùng để chỉ cho vợ chồng sống hạnh phúc cho đến tuổi già, tóc bạc răng long. Như trong bài Hoài Cựu Phú (懷舊賦) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tấn có câu: “Hoan huề thủ dĩ giai lão, thứ báo đức chi hữu lân (歡攜手以偕老庶報德之有鄰, vui nắm tay đến già tuổi, mong báo đức với xóm giềng).” Từ đó, từ nầy được mượn dùng chỉ cho vợ chồng.
  4. Tam Sanh (三生): ba đời chuyển sanh, tức chỉ cho đời trước, đời nầy và đời sau. Trong bài thơ Tống Tăng (送僧) của Mâu Dung (牟融, ?-?) nhà Đường có câu: “Tam sanh trần mộng tỉnh, nhất tích nạp y khinh (三生塵夢醒一錫衲衣輕, ba đời mộng trần tỉnh, tích trượng y vá buông).”
  5. Kính phá (鏡破) hay phá kính (破鏡): kính vỡ, tỷ dụ cho sự phân ly vợ chồng hay người tình. Trong quyển 717 của Thái Bình Ngự Lãm (太平御覽) có dẫn tác phẩm Thần Dị Kinh (神異經) của Đông Phương Sóc (東方朔, ?-?) nhà Hán: “Tích hữu phu phụ tương biệt, phá kính, nhân chấp bán dĩ vi tín (昔有夫婦將別破鏡人執半以爲信, xưa có hai vợ chồng khi sắp xa nhau thì đập vỡ kính, mỗi người giữ một nửa để làm tin).” Cho nên, sau này người ta dùng thuật ngữ này để chỉ cho sự chia lìa, xa cách của vợ chồng. Như trong bài từ Điệp Luyến Hoa (蝶戀花) của Triệu Lịnh Trĩ (趙令畤, 1061-1134) nhà Tống có đoạn: “Kính phá nhân ly hà xứ vấn, lộ cách Ngân Hà (鏡破人離何處問路隔銀河, kính vỡ người xa lìa chốn nào hỏi, đường cách xa dãi Ngân Hà).” Hay trong bài Cổ Quyết Tuyệt Từ (古決絕詞) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường cũng có đoạn: “Cảm phá kính chi phân minh, đổ lệ ngân chi dư huyết (感破鏡之分明睹淚痕之餘血, cảm kính vỡ ấy rõ ràng, nhìn lệ rơi như máu chảy).” Trong bài Phá Kính (破鏡) của Từ Đức Ngôn (徐德言, ?-?) nhà Trần thời Nam Triều lại có đoạn rằng: “Kính dữ nhân câu khứ, kính quy nhân vị quy, đương phức Hằng Nga ảnh, không lưu minh nguyệt huy (鏡與人俱去鏡歸人未歸當複姮娥影空留明月輝, kinh cùng người đi khỏi, kính về người chưa về, chất chồng Hằng Nga bóng, tầng không trăng rạng ngời).” Có thuật ngữ phá kính thoa phân (破鏡釵分, phá kính trâm lìa), diễn tả vợ chồng ly dị.