17. Điệp Chồng Cúng Cho Vợ IV

(Tư Độ Vãng Sanh)

 

Nguyên văn:

 

資度  爲牒薦事。茲據

越南國......()......村、家居奉

佛修香諷經...之晨祈超度事。今...日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于

奉爲...香靈

嗚呼、幼學加笄、長慚奏箒、但約百年偕老、允諧琴瑟之姻緣、豈期一病長辭、遽掩松楸之魂魄、情懷曷已、薦拔是祈。茲者...之晨、虔仗六和之念、諷誦大乘法寶經文、加持徃生淨土神咒、集此良因、祈生樂國。今則儀筵完滿、法事云終、薦牒宣揚、香靈收執。

惟願、承斯善利、早獲生天、九品妙蓮、彌陀授記。須至牒者。

右牒薦  

香靈冥中鑒知收執。故牒。

.........日時 、請薦牒

 

Phiên âm:

 

Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.

Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ..., duy nhật cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:

Phụng vị ... chi hương linh.

Ô hô ! Ấu học gia kê,1 trưởng tàm tấu trửu; đản ước bách niên giai lão, doãn hài cầm sắt chi nhân duyên; khởi kỳ nhất bệnh trường từ, cự yểm tùng thu2 chi hồn phách;3 tình hoài hạt dĩ, tiến bạt thị kỳ. Tư giả ... chi thần, kiền trượng Lục Hòa chi niệm; phúng tụng Đại Thừa pháp bảo kinh văn, gia trì Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú; tập thử lương nhân, kỳ sanh Lạc Quốc. Kim tắc nghi diên hoàn mãn, pháp sự vân chung; tiến điệp tuyên dương, hương linh thu chấp.

Duy nguyện: Thừa tư thiện lợi, tảo hoạch sanh thiên; Cửu Phẩm diệu liên, Di Đà thọ ký. Tu chí điệp giả.

Hữu Điệp Tiến

Hương linh minh trung giám tri thu chấp. Cố điệp.

Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.

 

Dịch nghĩa:

Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.

Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:

Kính vì hương linh ...

Than ôi ! Nhỏ học cài trâm, lớn thẹn quét chổi; ước sao trăm năm giai lão, hài hòa cầm sắt ấy nhân duyên; ngờ đâu phát bệnh giã từ, vội đóng mộ phần ấy hồn phách; tình mang sao hết, hiến cúng dịp nầy. Hôm nay gặp lúc ..., nương sức chúng tăng hộ niệm, trì tụng Đại Thừa pháp báu kinh văn, gia trì Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ; lấy nhân lành nầy, cầu sanh Cực Lạc. Đến nay nghi cúng hoàn mãn, pháp sự vẹn toàn; điệp cúng tuyên bày, hương linh nhận lấy.

Cúi mong: Nhờ lợi lành nầy, sớm sanh cõi trời; Chín Phẩm hoa sen, Di Đà thọ ký. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Cúng

Hương linh nơi cõi âm soi biết nhận lấy. Kính điệp.

Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.

 

Chú thích:

  1. Gia kê (加笄): cài trâm. Thời xưa, con gái lên 15 tuổi thì bắt đầu cài trâm lên đầu, biểu thị đã thành niên. Như trong Lễ Ký (禮記), chương Nội Tắc (內則), giải thích rằng: “Thập hữu ngũ niên nhi kê, nhị thập nhi giá (十有五年而笄二十而嫁, năm mười lăm tuổi thì cái trâm, năm hai mươi thì lấy chồng).”
  2. Tùng thu (松楸): có hai nghĩa. (1) Chỉ cho cây tùng và cây thu, phần nhiều được trồng ở nơi nghĩa trang; từ đó, nó có nghĩa là mộ phần. Như trong bài Tề Kính Hoàng Hậu Ai Sách Văn (齊敬皇后哀策文) của Tạ Thiếu (謝朓, 464-499) nhà Tề thời Nam Triều có câu: “Trận tượng thiết ư viên tẩm hề, ánh dư tông ư tùng thu (象設於園寢兮、映輿鍐於松楸, voi trận đặt nơi miếu đường chừ, kiệu xe trang điểm mộ phần).” Hay trong bài thơ Thù Lạc Thiên Kiến Ký (酬樂天見寄) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường cũng có câu: “Nhược sử ngô đồ hoàn tảo đạt, diệc ưng tiêu cổ nhập tùng thu (若使吾徒還早達、亦應簫鼓入松楸, nếu muốn chúng tôi mau về sớm, cũng nên tiêu trống đến mộ phần).” (2) Đặc biệt chỉ cho mồ mả của cha mẹ. Như trong Dung Trai Tục Bút (容齋續筆), bài Tư Dĩnh Thi (思潁詩), của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống có đoạn: “Kỳ tiêu dao ư Dĩnh, cái vô kỉ thời, tích vô nhất ngữ cập ư tùng thu chi tư (其逍遙於潁無幾時惜無一語及於松楸之思, ông [Âu Dương Tu] sống tiêu dao nơi đất Dĩnh, dường như chẳng mấy lúc, tiếc không một lời nào thấu được suy nghĩ về mộ phần song thân).” Trong Lô Sơn Ký (廬山記, Taishō Vol. 51, No. 2095), quyển 4, bài Tây Lâm Thủy Các (西林水閣) của Thiền Nguyệt Đại Sư Quán Hưu (禪月大師貫休, 832-912) có câu: “Tùng thu liên tháp cổ, song hạm nhậm nhàn khai (松楸連塔古窗檻任閑開, mộ phần liền tháp cổ, ngạch cửa tùy ý khai).”
  3. Hồn phách (魂魄): tên gọi khác của thân và tâm; hồn là tâm thức, có linh tánh mà không có hình dáng; phách thì có hình thể và là nơi nương tựa của tâm thức. Người xưa quan niệm rằng hồn phách là một loại tinh thần có thể thoát ly thân thể con người mà tồn tại độc lập; cho nên khi hồn phách còn bám vào thân thể con người thì người đó sống, và khi nó lìa thân thể thì chết. Lễ Ký Giao Đặc Tánh (禮記郊特牲) giải thích rằng: “Hồn khí quy ư thiên, hình phách quy ư địa (魂氣歸於天形魄歸於地, hồn khí thì quay trở về với trời, hình phách thì quay trở về với đất).” Và Chiết Nghi Luận (折疑論) quyển 3 giải thích thêm rằng: “Hồn giả thần dã, dương dã, khí dã; phách giả tinh dã, âm dã, hình dã (魂者神也陽也氣也魄者精也陰也形也, hồn là thần, là dương, là khí; phách là tinh, là âm, là hình).” Hơn nữa, Chư Kinh Yếu Tập (諸經要集, Taishō Vol. 54, No. 2123) quyển 19 còn cho biết thêm rằng: “Hồn thị linh, phách thị thi (魂是靈魄是屍, hồn là linh, phách là xác).” Trong hồi thứ 33 của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) có đoạn: “Bảo Ngọc thính liễu giá thoại, bất giác oanh liễu hồn phách, mục trừng khẩu ngốc (寶玉聽了這話不覺轟了魂魄目瞪口呆, Bảo Ngọc nghe xong câu chuyện ấy, bất giác tiêu tan hồn phách, mắt trừng miệng há hốc).”