18. Sớ Quy Y Bào Thai

(An Thần Định Thể)

 

Nguyên văn:

 

伏以

安神定体、全資靈藥仙丹、護命保童、咸賴觀音聖母、求之必應、感以遂通。疏爲越南國...省...郡...社...村、家居恭詣于...寺奉

佛修香献供皈依保胎護命祈安事。今弟子...姓名祈爲奶婦...姓名、年庚...歲等、維日拜干、蓮眼之尊、俯鑒葵心之懇。言念、弟子等道從夫妻、氣稟陰陽、蘋蘻庸質、蒲柳微軀、將臨臥蓐之辰、深軫徹桑之念、熊羆應夢、尚居猶豫之中、璋瓦呈祥、且在狐疑之域、惟冀保安二字、敢忘致敬三尊、于今命受妊娠、卽日禮求保佑、謹蠲吉日、羅列香花、虔仗禪和、一誠上達。今則上供疏章、和南拜白

南無十方常住三寶...筵奉...仝垂証鑒。伏願、慈悲救苦、舒妙力以提攜、憐愍度生、現神通而極濟、使赤子胎中寧靜、滿期開般若之花、俾母命藏位和平、臨日渉慈航之海、所願臨盆有慶、坐草無、瑞應掌珠、芳開庭滿願之日報謝洪庥。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時。弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

An thần định thể, toàn tư linh dược tiên đơn; hộ mạng bảo đồng, hàm lại Quan Âm thánh mẫu; cầu chi tất ứng, cảm dĩ toại thông.

Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh ... Quận ... Xã ... Thôn, gia cư cung nghệ vu … Tự phụng Phật tu hương hiến cúng quy y bảo thai hộ mạng kỳ an sự. Kim đệ tử … tánh danh, kỳ vi nãi phụ … tánh danh, niên canh .. tuế đẳng. Duy nhật bái can Liên Nhãn chi tôn, phủ giám quỳ tâm chi khẩn.

Ngôn niệm: Đệ tử đẳng, đạo tùng phu thê, khí bẩm âm dương; tần phiền1 dung chất, bồ liễu2 vi khu, tương lâm ngọa nhục3 chi thần; thâm chẩn triệt tang4 chi niệm; hùng bi5 ứng mộng, thượng cư do dự chi trung; chương6 ngõa trình tường, thả tại hồ nghi chi vức; duy kí bảo an nhị tự, cảm vong trí kính Tam Tôn,7 vu kim mạng thọ nhâm thần; tức nhật lễ cầu bảo hựu, cẩn quyên cát nhật, la liệt hương hoa, kiền trượng Thiền hòa, nhất thành thượng đạt. Kim tắc thượng cúng sớ chương, hòa nam bái bạch:

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo …

Diên phụng: … đồng thùy chứng giám.

Phục nguyện: Từ bi cứu khổ, thư diệu lực dĩ đề huề; lân mẫn độ sanh, hiện thần thông nhi cực tế; sử xích tử thai trung ninh tĩnh, mãn kỳ khai Bát Nhã chi hoa; tỷ mẫu mạng tàng vị hòa bình, lâm nhật thiệp từ hàng chi hải, sở nguyện lâm bồn hữu khánh, tọa thảo8 vô ngu, thoại ứng chưởng châu, phương khai đình quế, mãn nguyện chi nhật, báo tạ hồng hưu. Cẩn sớ.

Phật lịch … tuế thứ … niên … nguyệt … nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

An thần định thể, đều nhờ linh dược tiên đơn; hộ mạng con thơ, toàn nương Quan Âm Thánh Mẫu; cầu tất có ứng, cảm được liền thông.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có chùa … thờ Phật, dâng hương tụng kinh dâng cúng quy y xin cầu an bảo hộ bào thai. Đệ tử chúng con họ tên …, hôm nay xin cầu nguyện cho người nữ họ tên …, … tuổi; tâm thành vái lạy, tôn dung mắt sen, xót thương chứng lòng thành khẩn.

Nép nghĩ: Đệ tử chúng con, đạo theo vợ chồng, khí chất âm dương; yếu mềm tư chất, bồ liễu tấm thân; sắp kỳ chuyển bụng sinh con, nỗi lo sửa sang tổ ấm; gấu beo báo mộng, sao còn do dự làm chi; gái trai điềm lành, vẫn còn hồ nghi lưỡng lự; chỉ mong bình an hai chữ, dám quên thành kính Tam Tôn; đến nay mạng được mang thai, ngày nầy lạy cầu bảo hộ; chọn đúng ngày tốt, bày khắp hương hoa; nương nhờ chúng tăng, thành tâm tâu thỉnh. Nay tất đầy đủ sớ chương, kính thành thưa lạy:

Kính lạy Thường Trú Tam Bảo…. Cùng xin: … cùng thương chứng giám.

Lại nguyện: Từ bi cứu khổ, thường dẫn dắt với sức mầu; thương xót độ người, hiện thần thông mà cứu rỗi; khiến con đỏ trong thai an tĩnh, mãn kỳ nở Bát Nhã hoa thơm; giúp mạng mẹ cơ thể bình yên, đến ngày lên thuyền từ biển cả; cầu nguyện lâm bồn tốt đẹp, sinh nở không lo; điềm ứng ngọc châu, hoa nở sân quế; ngày nao mãn nguyện, báo tạ ơn trên. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Tần phiền (蘋蘻): tên hai loài cỏ Tần (biệt thể là , thuộc khoa Cỏ Chữ Điền [田字草, Điền Tự Thảo], lá nó bốn cái chấp làm thành hình chữ Điền [], là loại cỏ sống dưới nước lâu năm; bên cạnh đó, nó là tên gọi của loài cỏ Bồng, sống bềnh bồng trên mặt nước) và cỏ Phiền (, tên loại cỏ ngải với tên là Bạch Ngải [白艾], Bạch Hao [白蒿], lá nhỏ, toàn thân có lông màu trắng, hoa có hình cái chuông, thuộc khoa Cúc, sống lâu năm, phân bố từ miền Bắc Nhật Bản cho đến vùng Siberia). Từ đó, từ nầy có nghĩa là yểu điệu, mềm mại, mảnh mai, yếu mềm. Cho nên, “tần phiền dung chất” (蘋蘻庸質) có nghĩa là “tư chất yếu mềm.
  2. Bồ Liễu (蒲柳): tên một loại thực vật, tên khác của Thủy Dương (水楊), thuộc khoa Dương Liễu (楊柳), lá rụng, cây cao hay thấp bụi rậm; vỏ cây màu hồng hay vàng sẫm, vỏ nhánh cây sần sùi, màu xanh lá cây pha tím, vào mùa thu thì tàn rụi, lá rụng trơ trọi. Tên khoa học của nó là Salixgracilistyla, tiếng Anh là willow, bigcatkinwillow. Bên cạnh đó, Bồ Liễu còn tỷ dụ cho người có thân thể suy nhược, yếu mềm hay địa vị thấp hèn. Như trong Thế Thuyết Tân Ngữ (世說新語) của Lưu Nghĩa Khánh (劉義慶, 403-444) thời Nam Triều nhà Tống có câu: “Bồ Liễu chi tư, vọng thu nhi lạc, tùng bách chi chất, kinh sương di mậu (蒲柳之姿望秋而落松柏之質經霜彌茂, dáng cây Bồ Liễu, thu về rơi rụng, chất loại tùng bách, sương thấm càng tươi).” Trong Tấn Thư (晉書), phần Cố Duyệt Chi Truyện (顧悅之傳) cũng có câu tương tợ như vậy: “Bồ Liễu thường chất, vọng thu tiên linh (蒲柳常質望秋先零, chất thường Bồ Liễu, thu về rụng đầy).” Hay như trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252) quyển 2, phần Bảo Thai (保胎) cũng có câu: “Tùng bách chi tư kinh đông dũ mậu, Bồ Liễu chi chất vọng thu tiên linh (松柏之姿經冬愈茂蒲柳之質望秋先零, dáng cây tùng bách qua đông càng tốt, chất loại Bồ Liễu chớm thu đã tàn).” Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc (征婦吟曲) của Đặng Trần Côn (鄧陳琨, ?-?, khoảng thế kỷ 18), Việt Nam, cũng có câu liên quan đến loài cây yếu mềm nầy như: “Biệt sầu thu hận lưỡng tương ma, Bồ Liễu thanh thanh năng kỷ hà (別愁秋恨兩相磨蒲柳青青能幾何).” Đoàn Thị Điểm (段氏點, 1705-1748) dịch là “oán sầu nhiều nỗi tơi bời, vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.
  3. Ngọa nhục (臥蓐, 臥褥): nằm trên đệm cỏ, chiếu rơm. Tương truyền ngày xưa, người phụ nữ khi sinh con thường nằm trên chiếc đệm bằng cỏ, hay chiếu rơm. Cho nên “ngọa nhục chi thần” (臥蓐之辰) có nghĩa là lúc chuyển bụng sinh con. Trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 64 có đoạn: “Triệu Kì tự Bân Khanh, Kinh Triệu Trường Lăng nhân dã …, niên tam thập dư, hữu trọng tật, ngọa nhục thất niên(趙岐字邠卿京兆長陵人也年三十餘有重疾臥蓐七年, Triệu Kì tự là Bân Khanh, người vùng Trường Lăng, Kinh Triệu …, năm lên hơn ba mươi tuổi, có bệnh nặng, nằm đệm cỏ bảy năm).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng quyển 2, phần Bảo Thai, có câu: “Thiết niệm: Mỗ dựng thê tần phiền tiện chất, bồ liễu vi xu, tương lâm ngọa nhục chi kỳ (切念某孕妻蘩蘋賤質蒲柳微軀將臨臥蓐之期, Nép nghĩ: vợ mang thai … yếu mềm hèn mọn, thân mảnh bồ liễu, sắp đến kỳ chuyển bụng sinh con).”
  4. Triệt tang (徹桑): bóc, lột vỏ cây dâu. Từ nầy phát xuất từ trong Thi Kinh, phần Bân Phong (豳風), Si Hào (鴟鴞): “Đãi thiên vị âm vũ, triệt bỉ tang thổ, trù mâu dũ hộ (迨天之未陰雨徹彼桑土綢繆牖戶)”, có nghĩa là con chim nhân khi trời chưa đỗ mưa xuống, bóc vỏ cây dâu kia đem buộc chặt vào cửa thành tổ chim để phòng ngừa khi mưa to gió đến không làm cho tổ chim bị cuốn bay đi; tức nói lên tình thương yêu, lo lắng chăm sóc của người mẹ đối với con mình. Về sau, xuất hiện một số thành ngữ liên quan diễn tả sự lo âu khi sinh con, cũng như tình thương yêu đối với con như “triệt tang vị vũ (徹桑未雨, bóc vỏ cây dâu làm tổ khi trời chưa mưa)”, “vị vũ trù mâu(未雨綢繆, buộc chặt, sửa sang nhà cửa, tổ ấm trước khi trời chưa mưa lớn).”
  5. Hùng bi (熊羆): đồng nghĩa với hùng hổ (熊虎), nghĩa là gấu và cọp, tỷ dụ một người dũng mãnh, dũng sĩ thiện chiến. Vì vậy thường có từ “hùng bi chi sĩ (熊羆之士, người có sức mạnh oai dũng như con gấu, cọp).” Như trong Thư Kinh (書經), Khang Vương Chi Cáo (康王之誥) có câu: “Tắc diệc hữu hùng bi chi sĩ, bất nhị tâm chi thần, bảo nghệ vương gia (則亦有熊羆之士不二心之臣保乂王家, ắt sẽ có dũng sĩ hùng mạnh, trung thần một lòng tận lực, bảo vệ vương gia).” Trong Thi Kinh (詩經), phần Tiểu Nhã (小雅), Tư Can (斯干) có câu: “Đại nhân chiêm chi, duy hùng duy bi, nam tử chi tường, duy hủy duy xà, nữ tử chi tường (大人占之維熊維羆男子之祥維虺維蛇女子之祥, người lớn đoán rằng, là gấu là cọp, điềm lành con trai; là hổ mang là rắn, điềm lành con gái).” Cho nên nằm mơ thấy con gấu hay cọp, những con vật tượng trưng cho sức mạnh hùng dũng, đó là điềm lành báo mộng sanh con trai. Như trong Tam Quốc Chí (三國志) quyển 24 có câu: “Bệ Hạ thông đạt, cùng lý tận tánh, nhi khoảnh Hoàng Tử liên đa yểu thệ, hùng bi chi tường vị cảm ứng (陛下聰達窮理盡性而頃皇子連多夭折熊羆之祥又未感應, Bệ Hạ thông đạt, xét cùng lý lẽ, nhưng trong chốc lát mà mấy Hoàng Tử liên tục chết yểu, điềm lành gấu cọp vẫn chưa cảm ứng).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng quyển 2, phần Bảo Thai, có câu: “Hùng bi ứng mộng, thả cư do dự chi trung, xà hủy trình tường, diệc tại hồ nghi chi vức, duy kí bảo an chi nhị tự, cảm vong trí kính vu Tam Tôn (熊羆應夢且居猶豫之中蛇虺呈祥亦在狐疑之域惟冀保安之二字敢忘致敬于三尊, gấu cọp ứng mộng, sao còn do dự làm chi; rắn mang điềm tốt, liệu mang nghi ngờ lưỡng lự; chỉ mong bình an trong hai chữ, dám quên kính ngưỡng đấng Tam Tôn).” Hoặc trong bài Diệm Khẩu Triệu Thỉnh Văn (焰口召請文) tương truyền do Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống trước tác, được thâu lục trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, CBETA No. 1083), Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽集要施食儀軌, CBETA No. 1080), cũng có câu nói về giấc mộng hùng bi: “Hoài thai thập nguyệt, tọa thảo tam triêu, sơ hân loan phụng hòa minh, thứ vọng hùng bi hiệp mộng (懷胎十月坐草三朝初欣鸞鳳和鳴次望熊羆叶夢, mang thai mười tháng, nằm cỏ ba hôm, mới mừng loan phụng cùng vui, kế trông gấu beo báo mộng).”
  6. Chương (): cây hốt bằng ngọc. Trong Thi Kinh phần Tiểu Nhã, Tư Can có câu: “nãi sinh nam tử, tải tẩm chi sàng, tải y chi thường, tải lộng chi chương (乃生男子載寢之床載衣之裳、載弄之, khi sanh con trai, cho nằm trên giường, cho mặc áo xiêm, cho chơi hốt ngọc)”. Cho nên chương ngõa trình tường (璋瓦呈祥) có nghĩa là “báo điềm lành sanh con trai và con gái”. Từ đó, xuất hiện cụm từ “lộng chương chi hỷ (弄璋之喜)”, có nghĩa là người xưa lấy cây ngọc hốt cho đứa con trai chơi, với hy vọng tương lai con mình sẽ có được phẩm đức quý giá như ngọc ngà vậy. Người ta thường dùng câu nầy để chúc mừng gia đinh sanh con trai. Đối với con trai, khi sanh con gái người ta dùng câu “lộng ngõa chi hỷ (之喜)”. Như trong bài Diệm Khẩu Triệu Thỉnh Văn của Tô Thức có câu: “chương ngõa vị phân, mẫu tử giai quy trường dạ (璋瓦未分母子皆歸長夜, gái trai chưa hay, mẹ con đều về chín suối).”
  7. Cả đoạn từ tần phiền dung chất … cảm vong trí kính Tam Tôn (蘋蘻庸質...敢忘致敬三尊)” được tìm thấy nguyên bản trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng quyển 2, phần Bảo Thai; nhưng có chỗ nội dung hơi khác: “Thiết niệm: Mỗ dựng thê, tần phiền dung chất, bồ liễu vi xu; tương lâm ngọa nhục chi kỳ, thâm chẩn triệt tang chi niệm; hùng bi ứng mộng, thả cư do dự chi trung; xà hủy trình tường, diệc tại hồ nghi chi vức; duy kí bảo an nhị tự, cảm vong trí kính Tam Tôn (切念某孕妻蘩蘋賤質蒲柳微軀將臨臥蓐之期深軫徹桑之念熊羆應夢且居猶豫之中蛇虺呈祥亦在狐疑之域惟冀保安之二字敢忘致敬于三尊, Nép nghĩ: vợ mang thai … yếu mềm hèn mọn, thân mảnh bồ liễu; đến kỳ chuyển bụng sinh con, xót thương niềm lo lót ổ; gấu cọp ứng mộng, sao còn do dự làm chi; rắn mang điềm tốt, liệu mang nghi ngờ lưỡng lự; chỉ mong bình an trong hai chữ, dám quên kính ngưỡng đấng Tam Tôn).”
  8. Tọa thảo (坐草): ngồi trên cỏ. Như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō No. 125) có câu: “Sở vị Ưu Đa La Tỳ Kheo thị hằng tọa thảo nhục, nhật phước độ nhân (所謂優多羅比丘是恒坐草蓐日福度人, Tỳ Kheo tên Ưu Đa La là người thường ngồi trên cỏ nhục, hằng ngày làm phước độ người).” Bên cạnh đó, như trong tác phẩm Kinh Hiệu Sản Bảo (經效產寶) của Tàm Ân (昝殷, 797-859) nhà Đường cho biết rằng từ nầy còn là tên gọi khác của lâm bồn, lâm sản, chuyển bụng sinh con. Vì tương truyền ngày xưa người phụ nữ khi chuyển bụng thì ngồi trên loại cỏ nhục để sinh con, nên có tên gọi như vậy. Như trong bài Diệm Khẩu Triệu Thỉnh Văn của Tô Thức nhà Tống trước tác, có câu: “Hoài thai thập nguyệt, tọa thảo tam triêu (懷胎十月坐草三朝, mang thai mười tháng, nằm cỏ ba hôm).” Hoặc trong kinh Thiên Huyền Võ (天玄賦), Chương Lục Giáp (六甲章) của Đạo Giáo có câu: “Giao trùng bạch hổ, nãi tri tọa thảo vô ngu (交重白虎乃知坐草無虞, giao nhằm hổ trắng, mới biết sinh nở chẳng lo).” Cả đoạn văn “lâm bồn hữu khánh, tọa thảo vô ngu (臨盆有慶、坐草無虞, lâm bồn tốt đẹp, sinh nở không lo)” của lòng văn sớ trên được tìm thấy trong Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn Ngọc Xu Bảo Kinh (九天應元雷聲普化天尊玉樞寶經) của Đạo Giáo như: “Thỉnh tụng thử kinh, tức đắc Cửu Thiên vệ phòng, Thánh Mẫu mặc dữ bão tống; cố năng lâm bồn hữu khánh, tọa thảo vô ngu (請誦此經得九天衛房聖母默與抱送故能臨盆有慶坐草無虞, thỉnh tụng kinh nầy, tức Cửu Thiên sẽ bảo vệ phòng, Thánh Mẫu sẽ ngầm che chở; cho nên khi lâm bồn tốt đẹp, sinh nở chẳng lo).” Hay như trong Kim Bình Mai (金瓶梅) hồi thứ 30 của Lan Lăng Tiếu Tiếu Sanh (蘭陵笑笑生) nhà Minh, cũng có đoạn tương tợ như vậy: “Yếu kỳ mẫu tử bình an, lâm bồn hữu khánh, tọa thảo vô ngu (要祈母子平安,臨盆有慶,坐草無虞, cầu mong mẹ con bình an, lâm bồn tốt đẹp, sinh nở chẳng lo).”