19. Điệp Vợ Cúng Cho Chồng I

(Tư Độ Vãng Sanh)

 

Nguyên văn:

 

資度往生  爲牒薦事。茲據

越南國......()......村、家居奉

佛修香諷經...之晨祈超度事。今...維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于

奉爲...香靈

嗚呼、天倫配合、永爲家室之歡、人道非常、不遂和諧之志、無奈黃梁西境、何期夢斷南柯、茫茫世事似浮花、冉冉生塵如幻夢、朝思暮想以難尋、日往月來而永別、思懷曷慨、望想無虧、欲酬道義之倫、須仗慈悲之力。茲者...之晨、虔仗六和之念、諷誦大乘法寶經文、加持徃生淨土神咒、集此良因、祈生樂國。今則儀筵完滿、法事云終、薦牒宣揚、香靈收執。

惟願、承斯善利、早獲生天、九品妙蓮、彌陀授記。須至牒者。

右牒薦  

香靈冥中鑒知收執。故牒。

.........日時 、請薦牒

 

Phiên âm:

 

Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.

Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ..., duy nhật cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:

Phụng vị ... chi hương linh.

Ô hô ! Thiên luân phối hợp, vĩnh vi gia thất chi hoan; nhân đạo phi thường, bất toại hòa hài chi chí; vô nại Hoàng Lương1 Tây cảnh, hà kỳ mộng đoạn Nam Kha;2 mang mang thế sự tợ phù hoa, nhiễm nhiễm sanh trần như huyễn mộng; triêu tư mộ tưởng dĩ nan tầm, nhật vãng nguyệt lai nhi vĩnh biệt; tư hoài hạt khái, vọng tưởng vô khuy; dục thù đạo nghĩa chi luân, tu trượng từ bi chi lực. Tư giả ... chi thần, kiền trượng Lục Hòa chi niệm; phúng tụng Đại Thừa pháp bảo kinh văn, gia trì Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú; tập thử lương nhân, kỳ sanh Lạc Quốc. Kim tắc nghi diên hoàn mãn, pháp sự vân chung; tiến điệp tuyên dương, hương linh thu chấp.

Duy nguyện: Thừa tư thiện lợi, tảo hoạch sanh thiên; Cửu Phẩm diệu liên, Di Đà thọ ký. Tu chí điệp giả.

Hữu Điệp Tiến

Hương linh minh trung giám tri thu chấp. Cố điệp.

Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.

 

Dịch nghĩa:

Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.

Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:

Kính vì hương linh ...

Than ôi ! Ý trời phối hợp, mãi là gia thất hân hoan; đạo người khác thường, chẳng vẹn hoài hoài chí nguyện; chẳng ngại Hoàng Lương Tây cảnh, mong gì mộng dứt Nam Kha; mênh mang thế sự hoa trôi, lần lữa bụi trần như huyễn mộng; sáng thương chiều nhớ thật khó tìm, ngày tháng qua đi mãi cách biệt; xót thương cảm khái, nhớ tưởng nào vơi; muốn đền đạo nghĩa luân thường, nên nương từ bi năng lực. Hôm nay gặp lúc ..., nương sức chúng tăng hộ niệm, trì tụng Đại Thừa pháp báu kinh văn, gia trì Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ; lấy nhân lành nầy, cầu sanh Cực Lạc. Đến nay nghi cúng hoàn mãn, pháp sự vẹn toàn; điệp cúng tuyên bày, hương linh nhận lấy.

Cúi mong: Nhờ lợi lành nầy, sớm sanh cõi trời; Chín Phẩm hoa sen, Di Đà thọ ký. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Cúng

Hương linh nơi cõi âm soi biết nhận lấy. Kính điệp.

Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.

 

Chú thích:

  1. Hoàng Lương (黃梁黃粱): kê vàng. Giấc mộng Hoàng Lương vốn phát xuất từ tiểu thuyết truyền kỳ Chẩm Trung Ký (枕中記) của Thẩm Ký Tế (沉旣濟, 750-800) nhà Đường. Chuyện kể rằng vào năm thứ 7 (719) niên hiệu Khai Nguyên (開元) nhà Đường, có Lô Sanh (盧生) cỡi con ngựa xanh, mặc áo đẹp lên kinh đô dự thi; nhưng kết quả công danh không toại nguyện, anh thất vọng trở về. Một hôm nọ, khi đi ngang qua Hàm Đan (邯鄲, thuộc tỉnh Hà Bắc ngày nay), nhân vào hàng cơm nghỉ chân, chàng họ Lô tình cờ gặp một ông lão Đạo sĩ cũng họ Lô vốn biết thuật thần tiên (trong tác phẩm Hàm Đan Ký [邯鄲記] của Thang Hiển Tổ [湯顯祖, 1550-1616] nhà Minh thì đổi ông lão họ Lô thành Lữ Đồng Tân [呂洞賓] của Bát Tiên). Chàng trai bèn tâm sự về gia cảnh nghèo cùng của mình, nghe vậy ông lão cho mượn một cái gối nằm. Lô Sanh ngủ và chiêm bao thấy cưới được người vợ đẹp, hiền thục, nết na; rồi đỗ Tiến Sĩ, làm quan đứng đầu Thiểm Châu (陝州), Kinh Triệu (京兆), cuối cùng được thăng quan lên đến Hộ Bộ Thượng Thư (戶部尚書) kiêm Ngự Sử Đại Phu (御史大夫), Trung Thư Lệnh (中書令), và được phong làm Yến Quốc Công (燕國公). Ngay cả 5 người con của Lư Sinh cũng làm quan lớn, hưởng bổng lộc triều đình. Họ Lô con cháu đầy đàn, tận hưởng vinh hoa phú quý. Đến lúc 80 tuổi, ông bị bệnh trị mãi không lành, cuối cùng qua đời. Ngay khi trút hơi thở ra đi, Lô Sanh kinh hoàng tỉnh giấc, ngồi dậy, nhìn qua hai bên, mới biết tất cả đều như cũ; ông lão vẫn còn ngồi một bên mình, và chủ tiệm nấu nồi cháo kê vẫn còn chưa chín. Đó chính là xuất xứ giấc mộng Hoàng Lương, gởi gắm cho hậu thế một bức thông điệp tha thiết rằng cuộc đời này vốn vô thường, tạm bợ, không bền lâu, cho dù có 80 năm như trong câu chuyện trên đi nữa, cũng chỉ là một giấc mộng mà thôi, nhanh đến nỗi nầu nồi cháo kê vẫn còn chưa chín. Như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 34, bài Tống Lão Phụ Quy (送老父歸), có câu: “Trần hoàn đa thiểu Hoàng Lương mộng, thâu dữ thâm sơn chẩm thạch đầu (塵寰多少黃梁夢輸與深山枕石頭, trên đời nhiều ít Hoàng Lương mộng, về với núi sâu đá gối đầu).” Hay trong Liên Bang Tiêu Tức (蓮邦消息, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1193) lại có câu: “Phú quý công danh bất thường tại, chẩm thượng Hoàng Lương mộng vị tỉnh(富貴功名不常在枕上黃梁夢未醒, giàu sang công danh không thưỡng mãi, trên gối mộng Kê Vàng chưa tỉnh).” Trong Thiền môn có bài tán “Nhất Điện Mộng Hoàng Lương (一殿夢黃粱)” được dùng khá phổ biến trong các buổi lễ cúng linh hay tang lễ để chuyển tải bức thông điệp vô thường: “Nhất điện mộng Hoàng Lương, nhân sanh thế vô thường, nhất triêu thương hải biến, như diệp thượng ngưng sương (一殿夢黃粱人生世無常一朝蒼海變如葉上凝霜, điện nhất mộng Hoàng Lương, đời người lắm vô thường, một mai biển xanh đổi, như trên lá đọng sương).”
  2. Nam Kha (南柯): cành cây chầu về hướng nam; ngoài ra còn có nghĩa là giấc mộng Nam Kha, vốn xuất xứ từ Nam Kha Thái Thú Truyện (南柯太守傳) của Lý Công Tả (李公佐, ?-?) nhà Đường. Chuyện kể rằng có một chàng hiệp sĩ tên Thuần Vu Phần (淳于棼), nhà ở phía đông quận Quảng Lăng (廣陵郡, nay là Dương Châu [揚州], Giang Tô [江蘇]). Tại phía nam nhà anh có một cây hòe cổ thụ lớn, anh thường cùng bạn bè ngâm nga uống rượu dưới gốc cây nầy. Có một hôm nọ, do uống quá say, hai người bạn phải dẫn anh về nhà, giữa đường anh hôn mê ngủ thiếp đi lúc nào không hay; chợt thấy có hai sứ giả mặc Tử Y, tự xưng là phụng mạng vua Hòe An Quốc (槐安國) đến mời anh đi. Họ dẫn anh lên xe, nhắm hướng cây hòe mà đi, vào trong động sâu, thấy núi sông, đường sá, hoàn toàn một thế giới riêng. Khi đến Hòe An Quốc, chàng hiệp sĩ vào bái kiến quốc vương, được phong chức Phò Mã và nhậm chức Thái Thú quận Nam Kha (南柯郡). Nhà vua lại gả con gái Kim Chi Công Chúa (金枝公主) cho Thuần Vu Phần, cho nên tại Hòe An Quốc, chàng tận hưởng vinh hoa phú quý. Tại chức trong vòng 20 năm, anh đã lập được nhiều công trạng, được nhà vua rất tín nhiệm. Sau có quân nước Đàn La (檀蘿) đến xâm chiếm, Thuần Vu Phần điều binh khiển tướng nghênh địch, nhưng đại bại và được nhà vua tha tội chết. Tuy nhiên, không bao lâu sau, vợ anh bị bệnh nặng qua đời; Vu Phần vô cùng đau xót, cáo bệnh từ quan và trở về kinh thành. Vì anh giao du rộng rãi, kẻ ra người vào tấp nập, tiếng tăm vang dậy, làm cho nhà vua nghi kỵ, ra lệnh tước đoạt hết các thị vệ và nghiêm cấm không cho giao du. Vu Phần uất ức không được vui trong lòng; cuối cùng nhà vua cho sứ giả đưa anh trở về nhà cũ. Khi về đến nơi, ông tỉnh giấc mộng, thấy hai người bạn vẫn còn đó, bóng tà dương vẫn chưa khuất về Tây. Nhớ đến câu chuyện trong mộng, anh cùng hai bạn tìm huyệt động nơi gốc cây hòe, thì thấy bầy kiến lúc nhúc bên trong, tích chứa đất làm thành hình dáng giống như thành quách, cung điện, rất khớp với cảnh trong mộng. Hòe An Quốc là quốc gia kiến, quận Nam Kha cũng như các nơi anh đã từng đi qua đều hiện rõ. Anh giật mình kinh hoàng, mới hay tất cả chỉ là một giấc mộng, cuộc đời và mạng người vô thường, ngắn ngủi; nhân đó, anh quy y với Đạo môn, dứt tuyệt không uống rượu nữa và ba năm sau thì qua đời. Tác phẩm Nam Kha Thái Thú Truyện nầy cũng tương tự với Chẩm Trung Ký (枕中記) với câu chuyện Hoàng Lương Mộng (黃梁夢, Mộng Kê Vàng) của Lô Sanh (盧生). Dựa trên tác phẩm Nam Kha Thái Thú Truyện, sau nầy Thang Hiển Tổ (湯顯祖, 1550-1616) nhà Minh có sáng tác Nam Kha Ký (南柯記). Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴, 1685-1768), vị Thiền tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản cũng có trước tác bộ Hòe An Quốc Ngữ (槐安國, Kaiankokugo, 2 quyển). Trong bài thơ Đề Thành Sơn Vãn Đối Hiên Bích (題城山晚對軒壁) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Nhất chẩm thanh phong mộng lục la, nhân gian tùy xứ thị Nam Kha (一枕清風夢綠蘿、人間隨處是南柯, tựa gối gió thanh mơ lục la, trên đời có chỗ ấy Nam Kha).” Hay như trong Ngọc Trâm Ký (玉簪記), phần Trùng Hiệu (重效), của Cao Liêm (高濂, ?-?) nhà Minh cũng có câu: “Tùng giáo phân thủ xứ, hữu mộng thác Nam Kha (從敎分手處、有夢托南柯, theo lời đi khắp chốn, vói mộng gởi Nam Kha).” Viên Nhân Pháp Sư (圓因法師, 1910-2002) có sáng tác bài Nam Kha Nhất Mộng (南柯一夢) trong Mao Bồng Trát Ký (茅篷札記): “Tảo lộ phong đăng thiểm điện quang, tổng thị Nam Kha nhất mộng trường, nhân quy hà xứ thanh sơn tại, thanh sơn vô ngữ thán nhân vong (草露風燈閃電光、總是南柯夢一塲、人歸何處青山在,青山無語嘆人亡, sương sớm gió trong ánh chớp loang, thảy đều Nam Kha giấc mộng trường, người về nào chốn núi xanh đó, núi xanh lặng lẽ khóc người thương).” Về phía Việt Nam, trong tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) lại có câu: “Giấc Nam Kha khéo bất bình, bừng con mắt dậy thấy mình tay không.” Hoặc trong bài Lạc Đường của Tú Xương (1871-1907) có câu: “Giấc mộng Nam Kha khéo chập chờn.” Trong Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du (1765-1820) cũng có câu: “Tiếng sen sẽ động giấc hòe, bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.” Ngoài ra, trong các bài tán cúng cầu siêu cho hương linh quá cố có bài: “Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức cửu liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai (南柯一夢斷、西域九蓮開、飜身歸淨土、合掌禮如來, Nam Kha giấc mộng dứt, Tây phương chín sen khai, chuyển thân về Tịnh Độ, chấp tay lễ Như Lai).”