19. Sớ Cúng Tạ Quá Hoàn Kinh Đàn Tràng I
(Tội Do Tâm Tạo)
Nguyên văn:
伏以
罪由心造、福自己求、一念清而萬福莊嚴、六根動而罪愆悉集。疏爲越南國...省...郡...社...村、家居奉
佛修香献供諷經謝過還滿祈安右念和南証明事。今懺主...、號...仝壇衆等、一一諸人。稽首頓首、誠惶誠恐、百拜冐干、
覺皇慈父、萬德能仁、俯垂炤鑒。言念、同壇衆等、質稟凡愚智非明、慮攻文而有漏、恐宣演以多乖、唱白失儀、談言雜語、齋主誠心無竭力、鼓樂法器不和音、香燈不正、厨碗不潔、助齋菜饌不精、一一等人皆謝過。恭望、十方諸
佛、慈悲赦罪、三界聖賢、仝垂護祐。伏願、罪障消除、道心堅固、般若花開於此日、菩提果熟於今辰、凡所運爲、悉皆如意、亡魂超度、齋主康寧。仰賴
佛聖証明。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時。齋主...等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Tội do tâm tạo, phước tự kỷ sanh; nhất niệm thanh nhi vạn phước trang nghiêm, Lục Căn động nhi tội khiên tất tập.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh ... Quận ... Xã ... Thôn, gia cư phụng Phật tu hương hiến cúng phúng kinh tạ quá hoàn mãn kỳ an, hữu niệm hòa nam chứng minh sự. Kim Sám Chủ …, hiệu …, đồng đàn chúng đẳng, nhất nhất chư nhân, khể thủ đốn thủ, thành hoàng thành khủng,1 bách bái mạo can, Giác Hoàng Từ Phụ, Vạn Đức Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.
Ngôn niệm: Đồng đàn chúng đẳng, chất bẩm phàm ngu trí phi minh, lự công văn nhi hữu lậu; khủng tuyên diễn dĩ đa quai, xướng bạch thất nghi, đàm ngôn tạp ngữ; trai chủ thành tâm vô kiệt lực, cổ nhạc pháp khí bất hòa âm; hương đăng bất chánh, trù oản bất khiết; trợ trai thái soạn bất tinh; nhất nhất đẳng nhân giai tạ quá.
Cung vọng: Thập phương chư Phật, từ bi xá tội; Tam Giới Thánh Hiền, đồng thùy hộ hựu.
Phục nguyện: Tội chướng tiêu trừ, đạo tâm kiên cố; Bát Nhã hoa khai ư thử nhật, Bồ Đề quả thục ư kim thần; phàm sở vận vi, tất giai như ý; vong hồn siêu độ, trai chủ khương ninh. Ngưỡng lại Phật Thánh chứng minh. Cẩn sớ.
Phật lịch … Tuế thứ … niên … nguyệt … nhật thời.
Trai chủ … đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Tội do tâm tạo, phước tự mình cầu; một niệm trong thì vạn phước trang nghiêm, Sáu Căn động thì tội lỗi chiêu tập.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh dâng cúng tạ tội hoàn mãn, cầu an, nguyện xin chứng minh. Hôm nay Sám Chủ …, hiệu …, cùng toàn thể đàn tràng mỗi một người chúng con, cúi đầu sát đất, cung kính nép mình; trăm lạy ngưỡng mong, Giác Hoàng Từ Phụ; Vạn Đức Năng Nhân, xót thương chiếu giám.
Nép nghĩ: Đàn tràng chúng con, trí chẳng sáng chất vốn ngu mê; sợ công văn có sai trái, e tuyên bày phạm lỗi lầm; xướng bạch sai nghi, lời lẽ tạp loạn; trai chủ thành tâm không tận lực, cổ nhạc pháp khí chẳng hòa âm; hương đăng không đúng, chén bát chẳng sạch; cỗ chay rau quả không tinh, mỗi một chúng con đều tạ tội. Cúi xin mười phương chư Phật, từ bi tha tội; Ba Cõi Thánh Hiền, cùng thương hộ trợ.
Lại nguyện: Tội chướng tiêu trừ, đạo tâm vững chắc; Bát Nhã ngày hôm nay hoa nở, Bồ Đề quả chín vào lúc này; phàm mọi việc làm, thảy đều như ý; vong hồn siêu độ, trai chủ an khang. Ngưỡng trông Phật thánh chứng minh. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Trai chủ … chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Thành hoàng thành khủng (誠惶誠恐): vô cùng sợ hãi với tâm kính trọng, kính ngữ dùng khi thưa tâu của một kẻ bầy tôi, kẻ dưới đối với bậc trên cao, đấng tôn kính như nhà vua, đức Phật, Bồ Tát, thần thánh, v.v.; còn gọi là thành hoàng thành cụ (誠惶誠懼), thành khủng thành hoàng (誠恐誠惶). Như trong Triều Châu Sắc Sứ Tạ Thượng Biểu (潮州刺史謝上表) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có câu: “Thần mỗ thành hoàng thành khủng, đốn thủ đốn thủ (臣某誠惶誠恐、頓首頓首, Thần … nép mình cung kính, cúi đầu sát đất).” Hay trong Đại Tống Tuyên Hòa Di Sự (大宋宣和遺事) cũng có câu: “Thần Lữ Hối thành hoàng thành khủng, bách bái tấu vu Hoàng Đế Bệ Hạ (臣呂誨誠惶誠恐、百拜奏于皇帝陛下, Thần Lữ Hối nép mình cung kính, trăm lạy tâu lên Hoàng Đế Bệ Hạ).” Hoặc như trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義) hồi thứ 105 có đoạn: “Chinh Tây Đại Tướng Quân Nam Trịnh Hầu thần Ngụy Diên, thành hoàng thành khủng, đốn thủ thượng ngôn, Dương Nghi tự tổng binh quyền, suất chúng tạo phản (征西大將軍南鄭侯臣魏延、誠惶誠恐、頓首上言、楊儀自總兵權、率眾造反, Thần Chinh Tây Đại Tướng Quân Nam Trịnh Hầu Ngụy Diên, nép mình cung kính, cúi đầu sát đất thưa rằng Dương Nghi tự ý nắm binh quyền, thống lãnh mọi người tạo phản).”