20. Sớ Cúng Cha I
(Phụ Khí Thung Đình)
Nguyên văn:
伏以
父棄椿庭、莫抱終天之痛、
佛居蓮座、敢忘投地之恭、俯鑒丹忱、仰祈敎示。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺世尊、俯垂炤鑒。
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。痛念、劬勞罔極、子道多虧、思痛慕以無禪、庶經乘而可度。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、數杯茶水、迎歸紫府之間、五色祥雲、接出塵寰之外、頓離五濁、直入九蓮。寔賴
佛恩、證明之不可思議也。謹疏。
謹請司命竈君、土公尊神、以事上奏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Phụ khí thung đình,1 mạc bão chung thiên2 chi thống; Phật cư liên tọa, cảm vong đầu địa3 chi cung; phủ giám đơn thầm, ngưỡng kỳ giáo thị.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh ... sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can, Đại Giác Thế Tôn, phủ thùy chiếu giám.
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Thống niệm: Cù lao4 võng cực,5 tử đạo đa khuy; tư thống mộ dĩ vô thiền, thứ kinh thừa nhi khả độ. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện: Sổ bôi trà thủy, nghênh quy Tử Phủ6 chi gian; ngũ sắc7 tường vân, tiếp xuất trần hoàn8chi ngoại; đốn ly Ngũ Trược,9 trực nhập Cửu Liên.10 Thật lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Cẩn thỉnh Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, dĩ sự thượng tấu.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Cha xa cõi đời, ôm trọn nỗi đau trọn kiếp; tòa sen Phật ngự, đâu quên đảnh lễ kính thành; ngưỡng chứng tấc lòng, mong cầu chỉ giáo.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Xót nghĩ: Ân đức không cùng, đạo con thiếu sót; nghĩ xót thương chẳng đạt thông, nhờ kinh văn được siêu độ. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Nước trà vài chén, đón về Tử Phủ chốn xa; năm sắc mây lành, tiếp ra cuộc đời khổ lụy; dứt lìa Năm Trược, vào thẳng sen đài. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Cúi xin Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, đem việc nầy tâu lên.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
- tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Thung Đình (椿庭): chỉ cho người cha, hay nơi người cha ở; vì cây thung (椿, hay xuân) tượng trưng cho sự trường thọ. Như trong phần Hội Giảng (會講) thuộc Kinh Xoa Ký (荊釵記) của Chu Quyền (朱權, 1378-1448) nhà Minh có câu rằng: “Bất hạnh Thung Đình vẫn táng, thâm lại Huyên Đường huấn hối thành nhân (不幸椿庭殞喪、深賴萱堂訓誨成人, không may cha lành qua đời, thảy nhờ mẹ hiền dạy dỗ nên người).” Từ đó, có một số câu được dùng để chúc tụng người cha như: “Thung Đình nhật noãn (椿庭日暖, Thung Đình mỗi ngày một ấm áp, nghĩa là người cha mỗi ngày một mạnh khỏe)”, “Thung Đình trường thanh (椿庭長青, Thung Đình xanh tươi mãi, nghĩa là cha lành vẫn sống mãi)”, v.v.
- Chung thiên (終天): suốt đời, lâu dài. Trong bài thơ Bệnh Trung Khốc Kim Loan Tử (病中哭金鑾子) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu rằng: “Mạc ngôn tam lí địa, thử biệt thị chung thiên (莫言三里地、此別是終天, chớ bảo xa ba dặm, chia tay nầy suốt đời).” Hay trong bài Thuật Ai (述哀) của Phương Văn (方文) nhà Thanh cũng có câu: “Thử hận bão chung thiên, ai ngâm hà thời tất (此恨抱終天、哀吟何時畢, hận nầy ôm suốt đời, buồn ngâm bao giờ nguôi).” Ngoài ra, trong Ai Vĩnh Thệ Văn (哀永逝文) của Phan Nhạc (潘岳) nhà Tấn cũng có đoạn rằng: “Kim nại hà hề nhất cử, mạc chung thiên hề bất phản (今奈何兮一舉、邈終天兮不反, nay làm sao chừ cử động, xa mãi mãi chừ không đáp).” Câu “phụ khí Thung Đình, mạc bão chung thiên chi thống (父棄椿庭、莫抱終天之痛)” có nghĩa là cha lành đã qua đời rồi, làm sao ôm nỗi đau mất mác trọn suốt đời.
- Đầu địa (投地): gieo mình xuống đất, ném vật gì xuống đất, gieo toàn thân năm vóc xuống đất để lễ bái, bày tỏ sự cung kính tối thượng. Trong Ngoại Thích Truyện (外戚傳) của Hán Thư (漢書) có đoạn rằng: “Dĩ thủ tự đảo, dĩ đầu kích bích hộ trụ, tùng sàng thượng tự đầu địa, đề khấp bất khẳng thực (以手自擣、以頭擊壁戶柱、從牀上自投地,啼泣不肯食, lấy tay tự đâm, lấy đầu đập vào tường, trụ nhà, từ trên giường tự gieo mình xuống đất, khóc la chẳng chịu ăn).” Trong Phật Thuyết Phụ Mẫu Ân Trọng Nan Báo Kinh (佛說父母恩重難報經) có đoạn rằng: “Nhĩ thời, Như Lai hướng bỉ khô cốt, ngũ thể đầu địa, cung kính lễ bái (爾時、如來向彼枯骨、五體投地、恭敬禮拜, lúc bấy giờ, đức Như Lai hướng về đống xương khô kia, năm vóc gieo xuống đất, cung kính lễ bái).” Cho nên, Ngũ Thể Đầu Địa (五體投地) được xem như là hình thức lễ bái cung kính nhất trong Phật Giáo, phổ biến nhất ở Tây Tạng, xuất hiện trong một số kinh điển như trong Phật Bát Nê Hoàn Kinh (佛般泥洹經) quyển hạ có câu: “Thái Tử ngũ thể đầu địa, khể thủ Phật túc (太子五體投地、稽首佛足, Thái Tử năm vóc gieo xuống đất, cúi lạy chân Phật)”; hay trong Phẩm Nhập Tự (入寺品) của Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆沙論) có đoạn: “Thị tại gia Bồ Tát nhược nhập Phật tự, sơ dục nhập thời, ư tự môn ngoại ngũ thể đầu địa (是在家菩薩若入佛寺、初欲入時、於寺門外五體投地, vị Bồ Tát tại gia ấy nếu muốn vào chùa Phật, đầu tiên khi muốn vào thì phải năm vóc gieo xuống đất ở ngoài cửa chùa)”; hoặc như trong Thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát Tiêu Phục Độc Hại Đà La Ni Kinh (請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼經) cũng có đề cập rằng: “Như thị tam xưng Tam Bảo, tam xưng Quán Thế Âm Bồ Tát danh, ngũ thể đầu địa, hướng ư Tây phương (如是三稱三寶、三稱觀世音菩薩名、五體投地、向於西方, xưng danh hiệu Tam Bảo ba lần như vậy, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát ba lần, năm vóc gieo xuống đất, hướng về phương Tây).” Câu “Phật cư liên tọa, cảm vong đầu địa chi cung (佛居蓮座、敢忘投地之恭)” có nghĩa là đức Phật ngự trên tòa sen, đâu dám quên cung kính gieo mình xuống đất đảnh lễ.
- Cù lao (劬勞): sự lao khổ, cực nhọc, vất vả nuôi con của cha mẹ. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義) hồi thứ 36 có đoạn: “Như thư đáo nhật, khả niệm cù lao chi ân, tinh dạ tiền lai, dĩ toàn hiếu đạo (如書到日、可念劬勞之恩、星夜前來、以全孝道, như thư đến ngày, có thể nhớ đến công ơn lao khổ của cha mẹ, sao đêm trước khi đến, phải vẹn toàn đạo hiếu).” Hay trong Thi Kinh (詩經), chương Tiểu Nhã (小雅), Lục Nga (蓼莪) có câu: “Lục lục giả nga, phỉ nga y hao, ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao (蓼蓼者莪、匪莪伊蒿、 哀哀父母、生我劬勞, cao lớn cỏ nga, nào phải cỏ ngãi, thương thay cha mẹ, sanh ta lao khổ).” Thi hào Nguyễn Du lại có câu rằng: “Nhớ ơn chín chữ cù lao, một ngày một ngả bóng dâu tà tà”; hay trong ca dao Việt Nam cũng có câu tương tự như vậy: “Nhớ ơn chín chữ cù lao, ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình.”
- Võng cực (罔極): vô cùng, không cùng tận. Như trong Thi Kinh, chương Tiểu Nhã có câu: “Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, … dục báo chi đức, hạo thiên võng cực (父兮生我、母兮鞠我…欲報之德、昊天罔極, cha chừ sanh ta, mẹ chừ nuôi ta, … muốn báo đức ấy, trời cao vô tận).” Hay trong bản Cầu Thông Thân Thân Biểu (求通親親表) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc cũng có câu: “Chung hoài lục nga võng cực chi ai (終懷蓼莪罔極之哀, mãi nhớ đến nỗi đau buồn vô cùng tận khi mất cha mẹ).” Chu Hy Tập Truyện (朱熹集傳) có câu rằng: “Ngôn phụ mẫu chi ân, như thiên vô cùng, bất tri sở dĩ vi báo dã (言父母之恩、如天無窮、不知所以爲報也, gọi là ơn cha mẹ như trời đất vô cùng, không biết lấy gì để báo đáp được vậy).” Từ đó, sau nầy từ võng cực được dùng để chỉ cho sự nhớ tưởng xót xa, đau buồn vô cùng tận của người con đối với cha mẹ.
- Tử Phủ (紫府): theo truyền thuyết thần thoại thì đây là cung khuyết của Thiên đế ở. Trong bài Quy Tư (歸思) của Cao Thiềm (高蟾, ?-?) nhà Đường có câu: “Tử Phủ quy kỳ đoạn, Phương Châu biệt tư điều (紫府歸期斷、芳洲別思迢, Tử Phủ kỳ về hết, Phương Châu riêng nghĩ xa).” Như vậy câu “sổ bôi trà thủy, nghênh quy Tử Phủ chi gian (數杯茶水、迎歸紫府之間)” có nghĩa là sau khi dâng cúng vài chung nước trà xong, xin nghênh đón người về cõi trời. Ngoài ra, Tử Phủ còn có nghĩa là tên của một trong các ngôi sao chủ về vận mạng như Thiên Phủ (天府), Thiên Tướng (天相), Thiên Đồng (天同), Thiên Lương (天梁), Cự Môn (巨門), Tử Phủ (紫府), Tử Tướng (紫相), Võ Tướng (武相), Võ Phủ (武府), Liêm Phủ (廉府), Cự Dương (巨陽), Đồng Lương (同梁) và Đồng Cự (同巨).
- Ngũ sắc (五色): 5 sắc màu, gồm: hồng, vàng, lam, trắng và đen. Theo Đạo Giáo, 5 màu nầy là hồng, vàng, xanh lá cây, trắng và đen; đối ứng với Ngũ Hành, như phương Đông, Giáp Ất, Mộc, thuộc màu xanh lá cây; phương Nam, Bính Đinh, Hỏa, màu hồng; phương Tây, Canh Tân, Kim, màu trắng; phương Bắc, Nhâm Quý, Thủy, màu đen; phương giữa, Mậu Kỷ, Thổ, màu vàng. Ngũ sắc tường vân (五色祥雲) là đám mây lành có 5 sắc màu, như một số câu đối thường dùng trong nhà như: “Tứ thời giai khí thân nhân lí, ngũ sắc tường vân tích thiện gia (四時佳氣親仁里、五色祥雲積善家, bốn thời khí tốt thân nhân xóm, năm sắc mây lành chứa thiện nhà)”, “Nhất đại tường vân huy ngũ sắc, bách niên cảnh phước khánh Tam Đa (一代祥雲輝五色、百年景福慶三多, một đời mây lành sáng năm sắc, trăm năm hưởng phước rạng Ba Điều [phước nhiều, thọ nhiều và sanh con trai nhiều]).”
- Trần hoàn (塵寰): trần thế, thế gian, cõi đời. Trong bài thơ Tống Lý Thành Môn Bãi Quan Quy Tung Dương (送李城門罷官歸嵩陽) của Quyền Đức Dư (權德輿, 759-818) nhà Đường có câu: “Quy khứ trần hoàn ngoại, xuân sơn quế thọ tùng (歸去塵寰外、春山桂樹叢, đi về ngoài cõi thế, xuân núi quế xanh um).” Hay như trong bài từ Vĩnh Ngộ Lạc (永遇樂), Túc Âu Minh Hiên (宿鷗盟軒) của Trương Nguyên Cán (張元幹, 1091-1170) nhà Tống có đoạn rằng: “Thùy nhân trước nhãn, phóng thần bát cực, dật tưởng ký trần hoàn ngoại (誰人著眼、放神八極、逸想寄塵寰外, ai người có mắt, hãy phóng thần ra tám hướng, nhàn tưởng mình đang ở ngoài trần thế [đã chết]).” Hoặc trong Nguyệt Giản Thiền Sư Ngữ Lục (月澗禪師語錄, CBETA No. 1392) quyển Hạ có câu: “Yếm khí trần hoàn tiện quy khứ, xuân phong thanh hiểu vũ hoa tân (厭棄塵寰便歸去、春風清曉雨花新, xa lánh cõi đời bèn đi khỏi, gió xuân sớm mát mưa hoa tươi).” Từ đó có cụm từ “tản thủ trần hoàn (撒手塵寰)” có nghĩa là buông tay, thỏng tay lìa xa khỏi trần thế, tức là qua đời, chết.
- Ngũ Trược (s: pañca kaṣāyāḥ, p: pañcā kasāyā, 五濁): còn gọi là Ngũ Chỉ (五滓), tức trong thời Giảm Kiếp (減刼, thời kỳ thọ mạng của chúng sanh giảm xuống dần) sẽ sanh khởi 5 loại nhơ bẩn hay điều không tốt lành. Theo Bi Hoa Kinh (悲華經) quyển 5, Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 98, Ngũ Trược gồm (1) Kiếp Trược (s: kalpa-kaṣāya, 刼濁): vào thời Giảm Kiếp, khi thọ mạng của chúng sanh giảm xuống còn 30 tuổi thì sẽ sanh ra nạn đói, giảm đến 20 tuổi thì sẽ có bệnh dịch hoành hành, đến 10 tuổi thì xảy ra nạn đao binh, làm cho tất cả chúng sanh thảy đều bị tai hại. (2) Kiến Trược (s: dṛṣṭi-kaṣāya, 見濁): khi chánh pháp đã diệt, tượng pháp xuất hiện, tà pháp chuyển sanh, tà kiến tăng trưởng mạnh và khiến cho mọi người không còn tu theo con đường lành nữa. (3) Phiền Não Trược (s: kleṣa-kaṣāya, 煩惱濁): chúng sanh có nhiều ái dục, bỏn xẻn, keo kiệt, đấu tranh lẫn nhau, ăn chơi trác táng, thọ nhận các tà pháp và làm cho tâm thần bị não loạn. (4) Chúng Sanh Trược (s: sattva-kaṣāya, 衆生濁): còn gọi là Hữu Tình Trược (有情濁), chúng sanh có nhiều điều xấu ác, tệ hại, không hiếu kính cha mẹ, tôn trưởng, không biết sợ nghiệp quả báo, không làm việc phước thiện công đức, không tu hạnh bố thí trí tuệ cũng như ăn chay, không giữ gìn các giới cấm, v.v. (5) Mạng Trược (s: āyu-kaṣāya, 命濁): hay còn gọi là Thọ Trược (壽濁), từ ngàn xưa thọ mạng con người là 80.000 tuổi, thời nay do vì ác nghiệp tăng trưởng nhiều, cho nên tuổi thọ giảm dần, vì vậy người thọ 100 tuổi rất hiếm có. Như vậy, trong Ngũ Trược, Kiếp Trược là chung và bốn loại kia là riêng. Như trong A Di Đà Kinh (阿彌陀經) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật, năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta Bà quốc độ ngũ trược ác thế, kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (釋迦牟尼佛、能爲甚難希有之事、能於娑婆國土五濁惡世、劫濁、見濁、煩惱濁、眾生濁、命濁中、得阿耨多羅三藐三菩提, Phật Thích Ca Mâu Ni có thể làm những việc rất khó khăn hiếm có, có thể nơi quốc độ Ta Bà có năm món trược, gồm kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược, mà chứng quả giải thoát hoàn toàn).” Hay trong bài Lô Sơn Huệ Viễn Pháp Sư Lụy (廬山慧遠法師誄) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống, thời Nam Triều có câu: “Linh thanh tục chấn, Ngũ Trược tạm long (令聲續振、五濁暫隆, khiến cho thanh danh mãi chấn động, Ngũ Trược tạm thời ngừng phát triển).” Hoặc trong bài Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Tràng Tán (佛頂尊勝陀羅尼幢贊) của Độc Cô Cập (獨孤及, 725-777) nhà Đường cũng có câu: “Mang mang Ngũ Trược, khách trần phú chi (茫茫五濁、客塵覆之, mịt mờ Năm Trược, khách trần lấp che).” Hơn nữa, trong bài tựa của Kinh Lăng Nghiêm (楞嚴經) cũng có đoạn: “Phục thỉnh thế tôn vị chứng minh, Ngũ Trược ác thế thệ tiên nhập, như nhất chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê Hoàn (伏請世尊爲證明、五濁惡世誓先入、如一眾生未成佛、終不於此取泥洹, cúi xin Thế Tôn chứng minh cho, đời ác Năm Trược thề vào trước, nếu một chúng sanh chưa thành Phật, trọn không nơi đây nhập Niết Bàn).”
Cửu Liên (九蓮): từ gọi tắt của Cửu Phẩm Liên Đài (九品蓮臺), là đài sen có 9 phẩm của hành giả ngồi lên khi được vãng sanh. Lúc hành giả lâm chung, đức Phật A Di Đà cùng các Thánh chúng cầm đài sen đến tiếp rước, hành giả ngồi lên đài sen và hoa tự khắc dẫn đến cõi Tịnh Độ. Khi đến nơi, hoa nở ra, thân tướng đầy đủ. Phẩm vị của hành giả được phân làm 9 loại, được gọi là Cửu Phẩm Vãng Sanh (九品徃生), gồm Thượng Phẩm Thượng Sanh (上品上生), Thượng Phẩm Trung Sanh (上品中生), Thượng Phẩm Hạ Sanh (上品下生), Trung Phẩm Thượng Sanh (中品上生), Trung Phẩm Trung Sanh (中品中生), Trung Phẩm Hạ Sanh (中品下生), Hạ Phẩm Thượng Sanh (下品上生), Hạ Phẩm Trung Sanh (下品中生) và Hạ Phẩm Hạ Sanh (下品下生). Từ đó, đài sen cũng có 9 phẩm khác nhau. Các phẩm nầy được thuật rõ trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經). Trong đó, trừ Trung Phẩm Hạ Sanh không có tên gọi, còn lại các phẩm khác theo thứ tự có tên như sau: Kim Cang Đài (金剛臺), Tử Kim Đài (紫金臺), Kim Liên Hoa (金蓮華), Liên Hoa Đài (蓮華臺), Thất Bảo Liên Hoa (七寶蓮華), Bảo Liên Hoa (寶蓮華), Liên Hoa (蓮華) và Kim Liên Hoa (金蓮華). Như trong Huệ Lâm Tông Bổn Thiền Sư Biệt Lục (慧林宗本禪師別錄, CBETA No. 1450) có câu: “Thử phương thân dĩ tạ, Tịnh Quốc Cửu Liên khai (此方身已謝、淨國九蓮開, chốn nầy thân đã hết, Tịnh Độ Chín Sen khai).” Hay trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, CBETA No. 1215) cũng có câu: “Ức niệm Di Đà thanh triệt để, phản văn Phật hiệu tự ưu du, Lục Căn bất động thường điềm tĩnh, vạn pháp quy nguyên tận bãi hưu, phao khước nhân gian danh lợi sự, nhất tâm đốn nhập Cửu Liên chu (憶念彌陀清徹底、返聞佛號自優游、六根不動常恬靜、萬法歸源盡罷休、拋卻人閒名利事、一心頓入九蓮舟, nhớ niệm Di Đà trong triệt để, phản nghe Phật hiệu tự thong dong, Sáu Căn chẳng động thường điềm tĩnh, muôn pháp về nguồn dứt nghĩ luôn, vứt bỏ nhân gian danh lợi chuyện, nhất tâm vào thẳng Chín Sen thuyền).”