21. Sớ Cúng Cha II
(Lục Nga Phế Độc)
伏以
蓼莪廢讀、痛嚴父歸壽之辰、風木興懷、嗟孝子事親之念、非投我佛之靈、莫報昊天之德。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒。
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。痛念、情牽風木、望切雲霓、潔栴檀蘋藻以皈依、仗法懺盆延而報本。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、數杯茶水、迎歸紫府之間、五色祥雲、接出塵寰之外、頓離五濁、直入九蓮。寔賴
佛恩、證明之不可思議也。謹疏。
謹請司命竈君、土公尊神、以事上奏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Lục Nga phế độc,1 thống nghiêm phụ2 quy thọ3 chi thần; phong mộc hưng hoài,4 ta hiếu tử sự thân chi niệm; phi đầu ngã Phật chi linh, mạc báo hạo thiên5 chi đức.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh ... sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Thống niệm: Tình khiên phong mộc, vọng thiết vân nghê;6 khiết Chiên Đàn7 tần tảo8 dĩ quy y, trượng pháp sám bồn diên nhi báo bổn. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện:9 Sổ bôi trà thủy, nghênh quy Tử Phủ chi gian; ngũ sắc tường vân, tiếp xuất trần hoàn chi ngoại; đốn ly Ngũ Trược, trực nhập Cửu Liên. Thật lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Cẩn thỉnh Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, dĩ sự thượng tấu.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Lục Nga thôi đọc, xót cha hiền vào lúc lìa trần; gió cây tiếc thương, than con hiếu báo thân mỗi niệm; chẳng nương Phật pháp hương linh, sao báo trời cao đức cả.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Xót nghĩ: Tình vương cây gió, trông tận trời xanh; rửa Chiên Đàn dâng cúng để quy y, nương pháp sám bồn diên mong báo đáp. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Nước trà vài chén, đón về Tử Phủ chốn xa; năm sắc mây lành, tiếp ra cuộc đời khổ lụy; dứt lìa Năm Trược, vào thẳng sen đài. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Cúi xin Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, đem việc nầy tâu lên.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Lục Nga phế độc (蓼莪廢讀): bỏ không đọc phần Lục Nga (蓼莪) của Thi Kinh (詩經). Điển cố nầy phát xuất từ câu chuyện chí hiếu của Vương Bầu (王裒) nhà Ngụy thời Tam Quốc, như trong Bát Đức Cố Sự (八德故事), Hiếu Thiên (孝篇) có ghi lại như sau: “Vương Bầu khấp mộ, vị mẫu úy lôi, Lục Nga phế độc, khái niệm ai ai. Ngụy Vương Bầu, phụ Nghi, vi Tấn Văn Đế sở sát, Bầu chung thân vị hướng Tây tọa, thị bất thần Tấn. Mẫu úy lôi, mỗi văn lôi, tức bôn mộ tiền bái khấp cáo viết: ‘Bầu tại thử, mẫu vật cụ’. Thường phàn mộ tiền bá thọ hiệu khấp, lệ trước thọ, thọ vị chi khô. Độc thi chí ‘ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao’, tất tam phục lưu thế, môn nhân tận phế ‘Lục Nga’ thiên (王裒泣墓、爲母畏雷、蓼莪廢讀、慨念哀哀。魏王裒、父儀、爲晉文帝所殺、裒終身未向西坐、示不臣晉。母畏雷、每聞雷、卽奔墓前拜泣告曰、裒在此、母勿懼。嘗攀墓前柏樹號泣、淚著樹、樹爲之枯。讀《詩》至「哀哀父母、生我劬勞」、必三復流涕、門人盡廢《蓼莪》篇, Vương Bầu khóc mộ, vì mẹ sợ sấm, Lục Nga bỏ đọc, xót nhớ bùi ngùi. Vương Bầu nhà Ngụy, cha là Nghi, bị Tấn Văn Đế giết, Bầu suốt đời chưa từng ngồi hướng về phía Tây, chứng tỏ không thần phục nhà Tấn. Mẹ ông sợ sấm sét, mỗi lần nghe sấm sét, ông liền chạy ra trước mộ mẹ, lạy khóc và thưa rằng: ‘Bầu con ở đây, mẹ đừng sợ’. Ông thường vin vào cây bách trước mộ mà khóc thảm thiết, nước mắt dính cây, cây liền khô héo. Ông đọc Thi Kinh đến đoạn ‘thương thay cha mẹ, sanh ta khổ nhọc’, cả ba lần đều rơi lệ; môn nhân thấy vậy, phế bỏ đi thiên ‘Lục Nga’ ấy).” Sự cố nầy cũng được ghi lại trong Nhị Thập Tứ Hiếu (二十四孝), câu chuyện Văn Lôi Khấp Mộ (聞雷泣墓, nghe sấm khóc mộ). Từ đó, Lục Nga Phế Độc còn có nghĩa là cha mẹ đã qua đời.
- Nghiêm phụ (嚴父): người cha nghiêm nghị, từ dùng để thể hiện sự tôn kính đối người cha; đối với từ mẫu (慈母, mẹ hiền). Như trong phần Thánh Trị (聖治) của Hiếu Kinh (孝經) có câu: “Nhân chi hạnh mạc đại ư hiếu, hiếu mạc đại ư nghiêm phụ (人之行莫大於孝、孝莫大於嚴父, hạnh của con người không gì lớn bằng hiếu, hiếu không gì lớn đối với người cha).” Tam Tự Kinh (三字經) còn giải thích thêm rằng: “Tử bất giáo, phụ chi quá (子不敎、父之過, con không dạy, đó là lỗi của cha).” Nghiêm phụ từ mẫu (嚴父慈母) là thuật ngữ đặc biệt của Đạo Giáo, mẹ hiền được ví như là ngọn lửa văn làm cho ấm áp trong nhà, còn cha nghiêm nghị được xem như là ngọn lửa võđề phòng nơi cửa nhà. Trong Chu Dịch Tham Đồng Khế (周易參同契) có ghi rõ rằng: “Từ mẫu dục dưỡng, hiếu tử báo ân, nghiêm phụ thí lịnh, giáo sắc tử tôn (慈母育養、孝子報恩、嚴父施令、敎敕子孫, mẹ hiền nuôi dưỡng, con hiếu báo ơn, cha nghiêm ban lệnh, dạy dỗ con cháu).” Hơn nữa, trong Hạ Hầu Thậm Truyện (夏侯湛傳) của Tấn Thư (晉書) cũng có đoạn rằng: “Thọ học ư tiên bối, nạp hối ư nghiêm phụ từ mẫu (受學於先輩、納誨於嚴父慈母, thọ học ở bậc đi trước, chịu sự dạy bảo nơi cha nghiêm mẹ hiền).” Hay trong Tư Mã Quang Truyện (司馬光傳) của Tống Sử (宋史) lại có đoạn: “Tại lạc thời, mỗi vãng Hạ Huyện triển mộ, tất quá kỳ huynh Đán, Đán niên tương bát thập, phụng chi như nghiêm phụ, bảo chi như anh nhi (在洛時、每徃夏縣展墓、必過其兄旦、旦年將八十、奉之如嚴父、保之如嬰兒, khi ở kinh đô, mỗi lần đến Huyện Hạ để thăm mộ, đều phải đi qua nhà anh Đán, anh ấy tuổi sắp tám mươi, kính thờ anh như cha nghiêm, giữ gìn anh như con trẻ).”
- Quy thọ (歸壽): qua đời, thọ thế. Trong Thủy Hử Truyện (水滸傳) hồi thứ 21 có câu: “Nhĩ bách niên quy thọ thời, ngã khước tái dữ nhĩ ta tống chung chi tư (你百年歸壽時、我卻再與你些送終之資, khi ngươi qua đời trăm tuổi, ta lui về cùng người tống táng toàn bộ của cải).” Hay trong bài thơ Đoan Ngọ (端午) của Lý Long Cơ (李隆基, 685-762, tức Đường Huyền Tông) lại có câu rằng: “Ức triệu đồng quy thọ, quần công cọng bảo xương (億兆同歸壽、群公共保昌, ức triệu người thọ thế, công khanh cùng xương long).” Câu “Lục Nga phế độc, thống nghiêm phụ quy thọ chi thần (蓼莪廢讀、痛嚴父歸壽之辰)” có nghĩa là bỏ đi không còn đọc thiên Lục Nga trong Thi Kinh nữa, vì rất đau xót khi cha lành qua đời.
- Phong mộc hưng hoài (風木興懷): gió cây thương tiếc, như trong Nghênh Xuân Dạ Thoại (迎春夜話) của Hứa Vân Tiều (許雲樵) có câu: “Phong mộc hưng hoài thế tự liên, Lục Nga tam phục hận chung thiên (風木興懷涕自漣、蓼莪三復恨終天, cây gió tiếc thương lệ trào tuôn, song thân quá vãng hận triền miên).”
- Hạo thiên (昊天): trời xanh; do vì trời cao rộng vô biên, từ đó nó ví cho ân đức vô cùng to lớn của cha mẹ; như trong Thi Kinh (詩經), chương Tiểu Nhã (小雅), Lục Nga (蓼莪) có câu: “Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực (欲報之德、昊天罔極, muốn báo đức ấy, trời xanh vô tận).” Hay trong bài thơ Trách Cung (責躬) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc cũng có câu: “Hạo thiên võng cực, sanh mạng bất đồ (昊天罔極、生命不圖, trời xanh vô tận, mạng sống chẳng lo toan).” Hoặc như trong Nhị Thập Niên Mục Đỗ Chi Quái Hiện Trạng (二十年目睹之怪現狀), hồi thứ 74 lại có đoạn rằng: “Khuy đắc tổ phụ phủ dưỡng thành nhân, dĩ hữu kim nhật, giá hạo thiên võng cực chi ân, vô tùng bổ báo vạn nhất (虧得祖父撫養成人、以有今日、這昊天罔極之恩、無從補報萬一, may được ông nội nuôi nấng nên người, cho đến ngày nay; ơn tựa trời cao vô cùng ấy, chẳng báo đáp trong muôn một).”
- Vân nghê (雲霓、雲蜺): (1) cái cầu vồng. Như trong phần Lương Huệ Vương Hạ (梁惠王下) của Mạnh Tử (孟子) có câu: “Dân vọng chi, nhược đại hạn chi vọng vân nghê dã (民望之、若大旱之望雲霓也, người dân trông mong, nếu gặp lúc đại hạn thì trông đợi cầu vồng).” Triệu Kì (趙岐, 108-201) chú thích rằng: “Nghê, hồng dã, vũ tắc hồng kiến, cố đại hạn nhi tư kiến chi (霓、虹也、雨則虹見、故大旱而思見之, nghê là cầu vồng, mưa tất sẽ thấy cầu vồng; cho nên khi đại hạn thì mong trông thấy nó).” Trong bản Thiên Địa Xã Tắc Tông Miếu Thần Miếu Đẳng Xứ Kỳ Vũ Chúc Văn (天地社稷宗廟神廟等處祈雨祝文) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống cũng có câu: “Dẫn lãnh vân nghê chi vọng, viên thủ câu hác chi dư (引領雲霓之望、援手溝壑之餘, dắt nhau trông đợi cầu vồng, nắm tay tìm chỗ dòng nước).” (2) Trời cao. Như trong bài thơ Vọng Cửu Hoa Sơn (望九華山) của Sài Quì (柴夔) nhà Đường có câu: “Cửu Hoa như kiếm sáp vân nghê, thanh ái liên không vọng dục mê (九華如劒插雲霓、青靄連空望欲迷, Cửu Hoa như kiếm cắm trời cao, xanh khí bao la trông muốn mê).” Câu “vọng thiết vân nghê (望切雲霓)” có nghĩa là tha thiết trông đợi cầu vồng xuất hiện, hay trông lên trời cao để cầu mong cứu độ cho cha lành.
- Chiên Đàn (s, p: candana, 栴檀 hay 旃檀): âm dịch là Chiên Đàn Na (栴檀那), Chơn Đàn (眞檀), là tên của một loại cây có hương thơm ở các vùng nhiệt đới như Ấn Độ, v.v. Nó là loại thực vật, cây rất to lớn, cao đến mấy trượng, gỗ của nó có mùi thơm ngào ngạt, thuộc khoa Sơn Trà (山茶). Người ta thường dùng nó để tạc tượng Phật và Bồ Tát, còn rễ của nó thì nghiền thành bột làm hương. Có các loại như Hoàng Đàn (黄檀), Bạch Đàn (白檀), Xích Đàn (赤檀), Tử Đàn (紫檀), v.v., phần lớn được dùng làm thuốc. Như cây Bạch Đàn thì trị bệnh sốt, còn Xích Đàn thì trị phù thủng. Nếu nói về hương thì loại Bạch Đàn là thơm nhất. Trong Ngũ Khổ Chương Cú Kinh (五苦章句經, hay Tịnh Trừ Tội Cái Ngu Lạc Phật Pháp Kinh [淨除罪盍娛樂佛法經], do Trúc Đàm Vô Lan [竺曇無蘭] nhà Đông Tấn dịch) có giải thích về loại thực vật quý hiếm nầy rằng: “Mạc quá Chiên Đàn, kỳ hương vô lượng, hương giá quý ư Diêm Phù Đề kim; hựu liệu nhân bệnh, nhân hữu trúng độc, đầu thống thể nhiệt, ma chiên đàn tiết, dĩ đồ kỳ thượng; nhược dĩ phục chi, bệnh tức trừ dũ, nhất thiết chúng sanh, mạc bất nguyện đắc; hữu nhân đại đắc Chiên Đàn Hương thọ, thúc tân mại chi, vô mãi chi giả; Phật tại thế thời, sở thuyết kinh pháp, linh nhân đắc đạo, vô bất độ giả; bát Nê Hoàn hậu, thập nhị bộ kinh, lưu tại thế gian, động hữu quyển số, vô nhân thị giả, diệc như Chiên Đàn, thúc tân mại chi, vô hữu mãi chi giả dã (莫過栴檀、其香無量、香價貴於閻浮提金、又療人病、人有中毒、頭痛體熱、磨栴檀屑、以塗其上、若以服之、病卽除愈、一切眾生、莫不願得、有人大得栴檀香樹、束薪賣之、無買之者、佛在世時、所說經法、令人得道、無不度者、般泥洹後、十二部經、留在世間、動有捲數、無人視者、亦如栴檀、束薪賣之、無有買之者也, chớ có xem thường Chiên Đàn, hương thơm của nó vô lượng, hương giá quý như vàng của cõi Diêm Phù Đề; lại có thể trị được bệnh con người, có người trúng độc, đầu đau thân thể phát nóng, mài bột Chiên Đàn, đem thoa lên chỗ đau nhức; nếu uống nó vào, bệnh tức giảm ngay; hết thảy chúng sanh, nên cầu nguyện để có được; có người may được một cây Chiên Đàn Hương, bó thành củi đem bán, chẳng ai mua nó cả; khi đức Phật còn tại thế, các kinh pháp do ngài thuyết, giúp người đắc đạo, chẳng ai không được độ; sau khi ngài nhập Niết Bàn, mười hai bộ kinh, lưu lại thế gian, có rất nhiều quyển, chẳng ai dòm ngó đến; cũng như Chiên Đàn, bó thành củi đem bán, chẳng ai thèm mua cả vậy).”
- Tần tảo (蘋藻): loại cỏ Tần (thuộc khoa Cỏ Chữ Điền [田字草, Điền Tự Thảo], lá nó bốn cái chấp làm thành hình chữ Điền [田], là loại cỏ sống dưới nước lâu năm; bên cạnh đó, nó là tên gọi của loài cỏ Bồng, sống bềnh bồng trên mặt nước) và cỏ Tảo (rong biển, tên gọi chung các thứ cỏ mọc dưới nước); đều là tên loại cỏ nước. Người xưa thường hái loại cỏ nầy để làm vật cúng tế, từ đó nó có nghĩa là vật phẩm cúng tế hay sự cúng tế. Như trong thiên Chiêu Nam (召南), Thái Tần (采蘋) của Thi Kinh (詩經) có câu: “Ư dĩ thái tần, nam giản chi tân, ư dĩ thái tảo, ư bỉ hàng lạo (於以采蘋、南澗之濱、於以採藻、於彼行潦, sao hái cỏ tần, tận chốn khe nam; sao hái rong biển, nơi vũng nước đọng kia).” Hay trong bài thơ Sương Trung (湘中) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có đoạn: “Tần tảo mãn bàn vô xứ điện, không văn ngư phụ khấu huyền ca (蘋藻滿槃無處奠、空聞漁父扣舷歌, tần tảo đầy mâm đâu chẳng cúng, không nghe chài lão vỗ thuyền ca).” Về sau, từ tần tảo nầy được dùng để chỉ đức tánh cao đẹp của người phụ nữ. Như trong bài thơ ru con của Việt Nam có câu: “Một đời tần tảo sớm hôm, nên bơ gạo trắng nên lòng thẳng ngay, bà ru dạy mẹ tháng ngày, đến nay mẹ lại nhớ lời ru con.” Hay như câu ca dao: “Cô hai buôn tảo bán tần, cô ba đòi nợ chỗ gần chỗ xa, cô tư dọn dẹp trong nhà, cô năm sắc thuốc mẹ già dưỡng nuôi.” Người Trung Quốc vẫn thường dùng câu “Tần Tảo Quyền Dư (蘋藻權輿, tần tảo ngay từ ban đầu)” để chúc tụng vào dịp lễ cưới xuất giá của người con gái. Câu “khiết Chiên Đàn tần tảo dĩ quy y (潔栴檀蘋藻以皈依)” có nghĩa là làm trong sạch, thanh tịnh bằng hương gỗ Chiên Đàn để dâng cúng và xin quy y.
Phần nầy có thể thay bằng lòng văn khác như: “Nội viện u thâm, đắc thọ Long Hoa chi hội; bổn gia an ổn, khai thông viên diệu chi tâm; khổ hải uông dương, giá pháp hàng nhi khả độ; Niết Bàn cao tủng, thùy huệ nhật dĩ tăng quang (內院幽深、得授龍花之會、本家安穩、開通圓妙之心、苦海汪洋、駕法航而可渡、涅槃高聳、垂惠日以增光, nội viện thâm u, được thọ Long Hoa pháp hội; gia đình an ổn, khai thông tâm thể tròn mầu; bể khổ nghìn trùng, cỡi pháp thuyền mà được độ; Niết Bàn cao vợi, ban trời tuệ thêm sáng trong).”