22. Điệp Cúng Khiển Điện III
(Tư Độ Linh Diên)
Nguyên văn:
資度靈筵 爲牒奠事。茲據
越南國...省...縣(郡)...社...村、哀堂奉
佛修香諷經遷柩歸山安墳淨土遣奠之禮、報德酬恩祈超度事。今...維日謹以香花齋盤庶品菲禮之儀置奠于
奉爲...之靈柩。
嗚呼、寸草三春、一朝千古、嗟何及矣、于以奠之。玆者撤靈床、將還祖道、仗僧伽而接引、依科範以宣揚、拔出幽途、超歸淨域。今則靈輀旣駕、文牒敷宣、香魂承此歩金堦、靈魄從玆歸福地。須至牒者。
右牒奠
香靈案前鑒知收執。謹牒。
歲次...年...月...日時 。請奠牒
Phiên âm:
Tư Độ Linh Diên Vị điệp điện sự.
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, ai đường phụng Phật tu hương phúng kinh thiên cửu quy sơn an phần Tịnh Độ Khiển Điện chi lễ, báo đức thù ân, kỳ siêu độ sự.
Kim ... duy nhật cẩn dĩ hương hoa trai bàn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi trí điện vu.
Phụng vị … chi linh cữu.
Ô hô ! Thốn thảo1 tam xuân,2 nhất triêu3 thiên cổ; ta hà cập hĩ, vu dĩ điện chi. Tư giả triệt linh sàng, tương hoàn tổ đạo; trượng Tăng Già nhi tiếp dẫn, y khoa phạm dĩ tuyên dương; bạt xuất u đồ, siêu quy Tịnh Vức. Kim tắc linh nhi ký giá, văn điệp phu tuyên; hương hồn thừa thử bộ kim giai, linh phách tùng tư quy phước địa. Tu chí điệp giả.
Hữu Điệp Điện
Hương linh án tiền giám tri thu chấp. Cẩn điệp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh điện điệp.
Dịch nghĩa:
Diên Cúng Siêu Độ Vì điệp dâng cúng.
Nay căn cứ: Việc gia đình đau buồn hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam, thờ Phật dâng hương tụng kinh dời quan về núi yên mộ phần Tịnh Độ, lễ cúng đưa đi, báo đức đền ơn cầu siêu độ. Nay ..., hôm nay kính lấy nghi lễ hương hoa cỗ chay phẩm vật lễ mọn, kính cúng lên:
Kính vì hương linh ...
Than ôi ! Tấc cỏ ba xuân, một mai thiên cổ; than sao cùng tận, lấy mà cúng dâng. Nay lúc hạ linh sàng, trả về Tổ đạo; nhờ Tăng Già mà tiếp dẫn, theo khoa lễ để tiến hành; thoát khỏi đường u, siêu về cõi tịnh. Nay thời xe linh lên giá, văn điệp đọc xong; hương hồn nhờ đó lên thềm vàng, vía linh từ đây về đất phước. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp Cúng
Hương linh trước tòa chứng biết nhận lấy. Kính điệp.
Lúc ... ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.
Chú thích:
- Thốn thảo (寸草): có ba nghĩa. (1) Loại cỏ nhỏ. Như trong bài thơ Thu Hoài (秋懷) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có câu: “Bại ngu thiên kim khí, đắc tỷ thốn thảo vinh (敗虞千金棄、得比寸草榮, hỏng lầm ngàn vàng bỏ, sánh được tấc cỏ tươi).” (2) Một cành cỏ non. (3) Tỷ dụ tâm ý vi tế, nhỏ nhoi của người con đem so sánh với sự vĩ đại to tát của cha mẹ. Như trong bài Du Tử Ngâm (遊子吟) của Mạnh Giao (孟郊, 751-815) nhà Đường có câu: “Thùy ngôn thốn thảo tâm, báo đắc tam xuân huy (誰言寸草心、報得三春暉, ai bảo lòng tấc cỏ, báo được ơn ba xuân).” Hay trong bài thơ Tự Táo Dạ Bạc Lỗ Cảng (祀灶夜泊魯港) của Phương Văn (方文, 1612-1669) nhà Thanh lại có đoạn: “Biện hương vô xứ nghênh tiên tổ, thốn thảo hà thời báo lão thân (瓣香無處迎先祖、寸草何時報老親, nén hương không chốn mời tiên tổ, tấc dạ lúc nào báo song thân).”
- Tam xuân (三春): có 3 nghĩa chính. (1) Ba tháng mùa Xuân, gồm tháng Giêng là Mạnh Xuân (孟春), tháng 2 là Trọng Xuân (仲春) và tháng 3 là Quý Xuân (季春). Như trong bài thơ Chung Nam Sơn Phú (終南山賦) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán có đoạn: “Tam xuân chi quý, Mạnh Hạ chi sơ, thiên khí túc thanh, châu lãm bát ngung(三春之季、孟夏之初、天氣肅清、週覽八隅, cuối ba tháng Xuân, vào đầu tháng tư, khí trời trong lành, rong chơi khắp chốn).” (2) Chỉ tháng thứ ba của mùa Xuân, tức cuối Xuân. Như trong bài Lâm Thao Long Hưng Tự Huyền Thượng Nhân Viện Đồng Vịnh Thanh Mộc Hương Tùng (臨洮龍興寺玄上人院同詠青木香叢) của Sầm Tham (岑參, 715-770) nhà Đường có đoạn: “Lục nguyệt hoa tân thổ, tam xuân diệp dĩ trường (六月花新吐、三春葉已長, tháng 6 hoa hé nụ, cuối Xuân lá đã dài).” (3) Ba mùa Xuân, tức 3 năm. Như trong bài thơ Đáp Giả Mật (答賈謐) của Lục Cơ (陸機, 261-303) nhà Tấn có câu: “Du khóa tam xuân, tình cố tam thu (遊跨三春、情固三秋, chơi vượt ba xuân, tình chặt ba thu).”
- Nhất triêu (一朝): có 2 nghĩa. (1) Một buổi sáng sớm. Như trong Thi Kinh (詩經), chương Tiểu Nhã (小雅), phần Đồng Cung (彤弓), có câu: “Chung cổ ký thiết, nhất triêu hưởng chi (鐘鼓旣設、一朝饗之, chuông trống đã đặt, một sáng tế chung).” (2) Nhất thời, một mai. Như trong Bát Quan Trai Pháp (八關齋法, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1130) có câu: “Nhất triêu nghiệp quả hiện tiền, truy hối hà cập (一朝業果現前、追悔何及, một mai quả nghiệp trước mắt, hối hận sao kịp).”