22. Sớ Cúng Mẹ I

(Võng Cực Hữu Dư)

 

Nguyên văn:

 

伏以

罔極有餘、涙血染霜前之葉、慈光遍炤、誠心仰日下之葵、稽首千花臺上、香焚一辨爐中。疏爲越南國...省...縣[]...社...村、家堂奉

修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干

大覺能仁、俯垂炤鑒。

奉爲...之香靈。仝承

佛法以弘深、全賴經文而解脫。痛念、奄辭人世、徃天宮、孝眷興思、盡是傷心之涙、兒孫追想、無非悲血之哀。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏

南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。

南無接引導師阿彌陀佛作大證明。

南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。

南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、天垂寶蓋、地湧金蓮、聞貝葉之經聲、罪消五濁、拜金花之法席、授記一乘。寔賴

佛恩證明之不可思議也。謹疏。

謹請司命竈君、土公尊神、以事上奏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Võng cực hữu dư, lệ huyết nhiễm sương tiền chi diệp; từ quang biến chiếu, thành tâm ngưỡng nhật hạ chi quỳ; khể thủ thiên hoa đài thượng, hương phần nhất biện lô trung.

Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.

Phụng vị … chi hương linh.

Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.

Thống niệm: Yếm từ nhân thế, trực vãng Thiên Cung; hiếu quyến hưng tư, tận thị thương tâm chi lệ; nhi tôn truy tưởng, vô phi bi huyết chi ai. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.

Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.

Phục nguyện: Thiên thùy bảo cái, địa dũng kim liên;1 văn Bối Diệp2 chi kinh thanh, tội tiêu Ngũ Trược; bái kim hoa chi pháp tịch,3 thọ ký Nhất Thừa.4 Thật lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.

Cẩn thỉnh Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, dĩ sự thượng tấu.

Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Ơn đức khôn cùng, lệ máu nhiễm trước sương trên lá; ánh từ chiếu khắp, thành tâm ngưỡng chứng giám trời cao; cúi đầu ngàn hoa đài bái, hương đốt một nén trong lò.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:

Hương linh ...

Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.

Xót nghĩ: Xa rời cõi thế, thẳng hướng Thiên Cung; hiếu quyến nhớ thương, cạn cùng thương tâm nước mắt; cháu con tưởng niệm, buồn đau máu chảy ngấn dài. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:

Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.

Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.

Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.

Lại nguyện: Trời che lọng báu, đất vọt sen vàng; nghe lá bối ấy lời kinh, tội tiêu Năm Trược; lễ hoa vàng nơi chiếu pháp, thọ ký Nhất Thừa. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.

Cúi xin Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, đem việc nầy tâu lên.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên (天垂寶蓋、地湧金蓮): trên trời rũ lọng báu xuống, dưới đất vọt lên hoa sen vàng ròng. Trong Độ Kiều Khoa Ngân Kiều Nghi (度橋科銀橋儀) của Đạo Giáo có đoạn: “Thiên thùy bảo cái trùng trùng hiện, địa dõng kim liên đóa đóa tiên, sám hối do như liên xuất thủy, siêu thăng hảo tợ nguyệt đương viên (天垂寶蓋重重現、地湧金蓮朵朵鮮懺悔猶如蓮出水,超升好似月當圓, Trời buông lọng báu lớp lớp hiện, đất vọt sen vàng đóa đóa nguyên, sám hối giống như sen khỏi nước, siêu thăng nào khác nguyệt đang tròn).” Hay trong Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Sở Thạch Thiền Sư Ngữ Lục (佛日普照慧辯楚石禪師語錄, Taishō No. 1420) quyển 1 cũng có câu: “Thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên, nhất cú vô tư, như hà chúc tán (天垂寶蓋地湧金蓮一句無私如何祝贊, trời buông lọng báu, đất vọt sen vàng, một câu vô tư, làm sao chúc tán ?).” Trong văn cúng thỉnh Phật an vị cũng có đoạn rằng: “Nam mô nhất tâm phụng thỉnh: thiên hoa đài thượng, bách bảo quang trung, Tam Thập Nhị Tướng chi Năng Nhân, Bát Thập Chủng Hảo chi Đại Giác, quá hiện vị lai vô lượng Phật Đà Gia. Duy nguyện: thiên thùy bảo cái, địa dõng kim liên, quang giáng đạo tràng, chứng minh công đức (南無一心奉請、千花臺上、百寶光中、三十二相之能仁、八十種好之大覺、過現未來無量佛陀耶。惟願、天垂寶蓋地湧金蓮、光降道塲、證明功德, Kính thành một lòng phụng thỉnh: trên đài ngàn hoa, trăm báu ánh sáng, Ba Hai Tướng Tốt đấng Năng Nhân, Tám Mươi Vẻ Đẹp bậc Đại Giác, quá khứ, hiện tại, tương lai vô lượng các đức Phật. Cúi mong: trời ban lọng báu, đất nỗi sen vàng, giáng xuống đạo tràng, chứng minh công đức).”
  2. Bối Diệp (s: pattra, p: patta, 貝葉): Lá Bối, âm dịch là Bối Đa La (貝多羅), gọi tắt là Bối Diệp, Bối Đa (貝多), là lá của loại cây Đa La (多羅, Corypha umbraculifera). Lá của nó dài và rộng, khắc chữ lên lá bằng bút sắt thì rất thích hợp. Trước khi phát minh ra giấy, dưới thời cổ đại Ấn Độ, người ta dùng loại lá cây nầy thay thế giấy để viết các văn thư, kinh điển và bảo tồn có thể kéo dài đến cả ngàn năm. Từ đó, Bối Diệp chỉ cho quyển kinh. Kinh điển được viết trên Lá Bối xuất hiện đầu tiên tại Ấn Độ, sau khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, các thư tịch nầy cũng được lưu truyền. Hiện tại, ở các tự viện thuộc tỉnh Vân Nam cũng như Tây Tạng vẫn còn bảo trì một số lượng rất lớn loại kinh văn Lá Bối nầy. Như trong bài Sơn Cư (山居) của Tử Bá Lão Nhân Tập (紫柏老人集, CBETA No. 1452) quyển 26 có đoạn: “Bạch nhật lai tham phục hổ Thiền, nạp y thùy cọng nhiễm hương yên, phong trần hữu lộ thông tâm địa, thủy nguyệt vô nhân vấn tánh thiên, không tưởng huyền am phiên Bối Diệp, diêu tri lôi vũ hộ kim điền, lãnh lãnh tùng hạ thính hàn lãng, vạn kiếp tình căn nhất sái nhiên (白日來參伏虎禪衲衣誰共染香煙風塵有路通心地水月無人問性天空想玄菴翻貝葉遙知雷雨護金田冷冷松下聽寒浪萬劫情根一洒然, cọp quỳ ban ngày tham vấn Thiền, rách y ai nhuộm khói hương thêm, phong trần có nẻo thông tâm địa, trăng nước không người hỏi tánh thiên, không tưởng am huyền phiên kinh điển, xa hay mưa sấm giúp ruộng vàng, buốt giá cội tùng nghe sóng lạnh, muôn kiếp tình căn rửa sạch liền).” Hay như trong Tây Nham Liễu Huệ Thiền Sư Ngữ Lục (西巖了慧禪師語錄, CBETA No. 1391) cũng có câu: “Hồ tăng phiên Bối Diệp, Vương Lão tước sanh khương (胡僧翻貝葉王老嚼生薑, Rợ tăng dịch kinh điển, Vương Lão nhấm gừng non).”
  3. Pháp tịch (法席): chỗ ngồi thuyết pháp. Như trong bài Quán Thế Âm Bồ Tát Ứng Hiện Ký (觀世音菩薩應現記) của Viên Anh Đại Sư Văn Tập (圓瑛大師文集) có đoạn: “Kim Phổ Đà đảnh sơn tự Văn Chất Lão Hòa Thượng trùng hưng dĩ lai, đại khai pháp tịch, nhi hưng tiền hậu tự thành đỉnh túc chi thế, đạo phong nhật chấn (今普陀頂山自文質老和尚重興以來大開法席而與前後寺成鼎足之勢道風日振, hiện tại kể từ khi Văn Chất Lão Hòa Thượng trùng hưng đỉnh núi Phổ Đà đến nay, chùa mở pháp hội lớn, làm cho phát triển trước sau, chùa trở thành thế chân vạc, đạo phong của người ngày càng vang xa).” Hay trong bài Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策) của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐, 771-853) cũng có câu: “Tỳ ni pháp tịch, tằng vị thao bồi, liễu nghĩa thượng thừa, khởi năng chân biệt (毘尼法席曾未叨陪了義上乘豈能甄別, pháp tịch giảng dạy Luật tạng, chưa từng học hỏi thực hành, giáo lý thượng thừa liễu nghĩa, làm sao phân biệt được).” Trong tác phẩm Bảo Khánh Ký (寶慶記, Hōkeiki) của Thiền Sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253) có đoạn rằng: “Đạo Nguyên con hồi còn nhỏ đã phát bồ đề tâm, đến tham vấn chư sư nơi bổn quốc, mới biết được chút do lai của nhân quả. Tuy nhiên, thế mà vẫn chưa xác định rõ việc quy y theo Phật Pháp Tăng, cứ mãi bị ràng buộc trong vòng danh tướng. Sau đến tham học Thiên Quang Thiền Sư, lần đầu tiên được nghe tông phong của Lâm Tế. Nay con theo hầu Toàn Pháp Sư sang nhà Tống nầy. Biển khơi vạn dặm, phó mặc huyễn thân nầy cho sóng cả nghìn trùng. Cuối cùng mới có thể đến được nhà Đại Tống, và dự vào pháp tịch của Hòa Thượng. Có lẽ đây là điều may mắn nhất trong đời. Ngưỡng mong Hòa Thượng đại từ đại bi, kẻ tiểu nhân nơi chốn xa nước ngoài đến đây, chỉ nguyện rằng chẳng kể thời quang trôi qua, không màng đầy đủ uy nghi, chỉ mong sao được thỉnh giáo ngu hoài lên phương trượng. Sống chết là việc lớn, vô thường chóng qua mau, chẳng trông đợi một ai, rời xa Thánh đạo tất ân hận một đời. Tiểu tăng Đạo Nguyên xin trăm lạy cúi đầu khẩn thỉnh.
  4. Nhất Thừa (s: eka-yāna, p: ekāyana, 一乘): hay còn gọi là Nhất Phật Thừa (一佛乘), là từ dùng để đối với Tam Thừa (s: tri-yāna, 三乘, gồm Thanh Văn [聲聞], Duyên Giác [] và Bồ Tát [菩薩]). Phát xuất từ lời dạy trong Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) rằng: “Thập phương Phật độ trung, duy hữu Nhất Thừa pháp, vô nhị diệc vô tam. Chư Phật dĩ phương tiện lực, ư Nhất Phật Thừa phân biệt thuyết tam (十方佛土中、唯有一乘法、無二亦無三、 諸佛以方便力、於一佛乘分別說三, trong quốc độ của mười phương các đức Phật, chỉ có một pháp Nhất Thừa, không có hai cũng chẳng có ba. Các đức Phật dùng sức phương tiện nơi Nhất Phật Thừa mà phân biệt nói thành ba)”, Kinh Pháp Hoa lấy ba loại xe dê, nai và trâu để ví dụ cho Tam Thừa (ba cỗ xe), còn xe trâu trắng thì ví cho Nhất Thừa (một cỗ xe).