23. Sớ Cúng Mẹ II
(Tuyết Sầu Bắc Lãnh)
Nguyên văn:
伏以
雪愁北嶺、月落西池、想音容永隔於千秋、供甘旨催殘於一日、仰看斗星星拱北、回頭望月月傾西。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒。
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。竊念、 劬勞德重、三年乳哺之勤、養育恩深、十月懷胎之苦、親萱已逝、難酬菽水之歡、聖善離塵、未盡彩衣之樂。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、天垂寶蓋、地湧金蓮、聞貝葉之經聲、罪消五濁、拜金花之法席、授記一乘。寔賴
佛恩、證明之不可思議也。謹疏。
謹請司命竈君、土公尊神、以事上奏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Tuyết sầu Bắc lãnh, nguyệt lạc Tây trì; tưởng âm dung vĩnh cách ư thiên thu, cung cam chỉ1 thôi tàn2ư nhất nhật; ngưỡng khán đẩu tinh tinh củng Bắc,3 hồi đầu vọng nguyệt nguyệt khuynh Tây.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh … sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Thiết niệm: Cù lao đức trọng, tam niên nhũ bộ4 chi cần; dưỡng dục ân thâm, thập nguyệt hoài thai chi khổ; thân huyên5 dĩ thệ, nan thù thục thủy chi hoan;6 thánh thiện7 ly trần, vị tận thái y chi lạc.8 Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện: Thiên thùy bảo cái, địa dũng kim liên; văn Bối Diệp chi kinh thanh, tội tiêu ngũ trược; bái kim hoa chi pháp tịch, thọ ký Nhất Thừa. Thật lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Cẩn thỉnh Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, dĩ sự thượng tấu.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Tuyết sầu núi Bắc, trăng rụng hồ Tây; nhớ bóng hình mãi cách biệt thiên thu, dâng ngon ngọt còn đâu trong ngày ấy; trông nhìn ngàn sao sao chầu Bắc, quay đầu trăng ngắm trăng ngã Tây.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Xót nghĩ: Cù lao đức nặng, ba năm bú mớm ân cần; nuôi nấng ơn sâu, mười tháng mang thai khổ nhọc; mẹ hiền quá vãng, khó đền đạm bạc niềm vui; thánh thiện lìa trần, chưa trọn hiếu tình áo lỗ. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Trời che lọng báu, đất vọt sen vàng; nghe lá bối ấy lời kinh, tội tiêu Năm Trược; lễ hoa vàng nơi chiếu pháp, thọ ký Nhất Thừa. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Cúi xin Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, đem việc nầy tâu lên.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Cam chỉ (甘旨): (1) ngon ngọt; như trong Luận Quý Túc Sớ (論貴粟疏) của Triều Thác (晁錯, 200-154 tdl) nhà Hán có câu: “Phù hàn chi ư y, bất đãi khinh noãn, cơ chi ư thực, bất đãi cam chỉ (夫寒之於衣、不待輕煖、飢之於食、不待甘旨, hễ lạnh thì nhờ vào áo mặc, chẳng kể thứ nhẹ ấm; hễ đói thì nhờ vào thức ăn, chẳng đợi đồ ngon ngọt)”. (2) Loại thực vật ngon ngọt. Như trong Kim Lâu Tử (金樓子), Lập Ngôn (立言) của Lương Nguyên Đế (梁元帝, tại vị 552-554) thời Nam Triều có câu: “Cam chỉ bách phẩm, nguyệt tế nhật tự (甘旨百品、月祭日祀, trăm thứ ngon ngọt, tháng cúng ngày thờ).” Hay như trong Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), chương Cửu Sơn Vương (九山王) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh cũng có đoạn rằng: “Nga nhi hành tửu tiến soạn, bị cực cam chỉ (俄而行酒薦饌、僃極甘旨, trong chốt lát thì tiến hành dâng cúng rượu, mâm cỗ, chuẩn bị loại ngon ngọt nhất).” (3) Chỉ loại thức ăn dùng để nuôi dưỡng song thân. Trong tờ Tấu Trần Tình Trạng (奏陳情狀) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có đoạn: “Thần mẫu đa bệnh, thần gia tố bần, cam chỉ hoặc khuy, vô dĩ vi dưỡng, dược bính hoặc khuyết, không trí kỳ ưu (臣母多病、臣家素貧、甘旨或虧、無以爲養、藥餌或闕、空致其憂, mẹ thần nhiều bệnh, nhà thần nghèo cùng, thức ăn ngon ngọt có khi thiếu thốn, chẳng lấy gì nuôi dưỡng song thân, thuốc men khuyết hụt, không có gì làm cho người yên lòng).” Từ đó, có cụm từ “cung cam chỉ (供甘旨)” nghĩa là cung phụng cha mẹ hết mực để báo hiếu. Như trong Nhị Thập Tứ Hiếu (二十四孝), câu chuyện Phụ Mễ Dưỡng Thân (負米養親, vác gạo nuôi song thân) của Tử Lộ (子路) có đoạn thơ rằng: “Phụ mễ cúng cam chỉ, ninh từ bách lí diêu, thân vinh thân dĩ một, do niệm cựu cù lao (負米供甘旨、寧辭百里遙、身榮親已沒、猶念舊劬勞, vác gạo nuôi cha mẹ, chẳng từ trăm dặm xa, giàu sang người đã mất, còn nhớ công ơn xưa).” Hay trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Pháp Ngữ (大慧普覺禪師法語, CBETA No. 1998A) quyển 20 có đoạn: “Phụ mẫu bất cúng cam chỉ, Lục Thân cố dĩ khí ly, thân cư thanh tịnh già lam, mục đỗ cam dung thánh tướng (父母不供甘旨、六親固以棄離、身居清淨伽藍、目睹紺容聖相, cha mẹ chẳng tròn hiếu đạo, Lục Thân lại phải xa rời, thân sống già lam thanh tịnh, mắt trông thánh tướng dung hiền).” Hoặc trong Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策) của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐) cũng có câu tương tự như vậy: “Phụ mẫu bất cung cam chỉ, Lục Thân cố dĩ khí ly, bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự (父母不供甘旨、六親固以棄離、不能安國治邦、家業頓捐繼嗣, cha mẹ chẳng tròn hiếu đạo, Lục Thân lại phải xa rời, chẳng thể an nhà trị nước, gia nghiệp dứt bỏ kế thừa).”
- Thôi tàn (催殘): mau hết, mau tàn, chợt hết. Trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) quyển 10, bài Thị Trì Kinh Sa Di (示持經沙彌) của Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) có đoạn: “Ngũ Trược mông lung dạ vị ương, nhất thanh kê hoán lậu thiên trường, đản tương duyên chủng thôi tàn mộng, tự tự toàn chương Phật đảnh quang (五濁朦朧夜未央、一聲雞喚漏偏長、但將緣種催殘夢、字字全彰佛頂光, Năm Trược mông lung đêm chưa tan, tiếng gà gáy sáng vẳng canh trường, mầm duyên còn đó thôi dứt mộng, mỗi chữ rõ ràng Phật phóng quang).” Câu “cung cam chỉ thôi tàn ư nhất nhật (供甘旨催殘於一日)” có nghĩa là cung phụng các thức ăn vật uống ngon ngọt cho song thân với tâm chí thành báo hiếu, chợt chấm dứt trong một ngày khi song thân đã qua đời.
- Tinh củng Bắc (星拱北): sao chầu hướng Bắc. Nguyên văn của nó là “chúng tinh củng Bắc (眾星拱北)”, xưa kia được dùng chỉ cho vị minh quân (vua) có đức độ, được tất cả thần dân trong thiên hạ ủng hộ. Nó vốn xuất xứ từ chương Vi Chính (爲政) của Luận Ngữ (論語): “Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi (爲致以德、譬如北辰、居其所而眾星拱之, làm chính trị phải dùng đức, giống như sao Bắc, tuy ở tại chỗ của nó mà các sao khác đều hướng về).” Trong tác phẩm Lệ Xuân Đường (麗春堂) của Vương Thật Phủ (王實甫, 1260-1336) nhà Nguyên cũng có câu: “Cáp tiện tợ chúng tinh củng Bắc, vạn thủy triều Đông (恰便似眾星拱北、萬水朝東, cũng giống như các ngôi sao chầu hướng Bắc, vạn sông đều đỗ về hướng Đông).” Câu “ngưỡng khán đẩu tinh tinh củng Bắc, hồi đầu vọng nguyệt nguyệt khuynh Tây (仰看斗星星拱北、回頭望月月傾西)” ở trên có nghĩa là ngẩng đầu lên nhìn các vì sao thì sao đều chầu về phương Bắc, quay đầu ngắm trăng thì trăng đã ngã về hướng Tây rồi. Có nghĩa rằng khi mất mẹ là mất hết tất cả; vạn sự vạn vật trên cõi đời đều xa vời, trống vắng, không còn giá trị đối với người con mất mẹ.
- Tam niên nhũ bộ (三年乳哺): ba năm trường mẹ cho con bú và mớm cơm cho con ăn. Trong Địa Mẫu Kinh (地母經) của Đạo Giáo có câu: “Thùy phi phụ mẫu sanh, thập nguyệt hoài thai khổ, tam niên nhũ bộ tân (誰非父母生、十月懷胎苦、三年乳哺辛, ai là người không phải do cha mẹ sanh ra, mười tháng mang thai cực khổ, ba năm cho con bú mớm nhọc nhằn).” Ngoài ra, trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 78 cũng có đoạn: “Thiên vô nhị nhật, nhân vô nhị lý, dưỡng dục hài đồng, phụ tinh mẫu huyết, hoài thai thập nguyệt, đãi thời nhi sanh, sanh hạ nhũ bộ tam niên, tiệm thành thể tướng, khởi hữu bất tri chi lý (天無二日、人無二理、養育孩童、父精母血、懷胎十月、待時而生、生下乳哺三年、漸成體相、豈有不知之理, trời không có hai mặt trời, người không có hai lý, nuôi dưỡng con nhỏ, tinh cha huyết mẹ, mang thai mười tháng, đợi đến lúc sanh con, sanh xong cho bú mớm ba năm, dần dần thành hình tướng, liệu làm sao chẳng biết lý ấy).” Hay như trong Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn (勸發菩提心文) của Tỉnh Am Đại Sư (省庵大師, 1686-1734) có câu: “Vân hà niệm phụ mẫu ân ? Ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao, thập nguyệt tam niên, hoài thai nhũ bộ (云何念父母恩、哀哀父母、生我劬勞、十月三年、懷胎乳哺, Thế nào là nhớ đến công ơn cha mẹ ? Thương thay cha mẹ, sanh ta khó nhọc, mười tháng ba năm, mang thai bú mớm).”
- Thân huyên (親萱): từ chỉ cho người mẹ. Huyên (萱) là loại cây cỏ sống lâu năm, Huyên Thảo (萱草) là loại Kim Châm (金針), tương truyền khi ăn vào thì làm cho người ta quên đi ưu sầu, phiền muộn; nên được gọi là Vong Ưu Thảo (忘憂草, Cỏ Quên Buồn) và thường được dùng thay thế cho người mẹ. Nơi người mẹ cư ngụ được gọi là Huyên Đường (萱堂), tức là nơi có trồng nhiều loại cỏ Huyên để giúp cho mẹ quên đi mọi ưu phiền. Cho nên “thân huyên dĩ thệ (親萱已逝)” có nghĩa là mẹ hiền đã qua đời.
- Thục thủy chi hoan (菽水之歡): thục thủy (菽水) là đậu hòa với nước, món ăn rất tầm thường, đạm bạc, hình dung sinh hoạt đơn sơ, thanh đạm. Như trong phần Đàn Cung Hạ (檀弓下) của Lễ Ký (禮記) có đoạn rằng: “Tử Lộ viết: ‘Thương tai ! Bần dã ! Sanh vô dĩ vi dưỡng, tử vô dĩ vi lễ dã.’ Khổng Tử viết: ‘Xuyết thục ẩm thủy tận kỳ hoan, tư chi vị hiếu’ (子路曰:傷哉!貧也!生無以爲養、死無以爲禮也。孔子曰:啜菽飲水盡其歡、斯之謂孝, Tử Lộ nói rằng: ‘Thương thay ! Nghèo thay ! Cha mẹ sống không có gì để nuôi dưỡng, chết chẳng lấy gì để cúng lễ.’ Khổng Tử dạy: ‘Mút đậu uống nước mà vui vẻ đến tột cùng, đó chính là hiếu’).” Cho nên, người ta thường dùng câu “thục thủy chi hoan” hay “thục thủy thừa hoan (菽水承歡)” để ví dụ cho người con gái hiếu thuận, hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, tuy thức ăn thô sơ, đạm bạc, nhưng cũng có thể làm cho cha mẹ vui lòng với tất cả tâm hiếu kính của mình. Như trong Tỳ Bà Ký (琵琶記), phần Thái Trạch Chúc Thọ (蔡宅祝壽) của Cao Minh (高明, 1305-1368) nhà Nguyên có đoạn rằng: “Nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, chẩm ly bạch phát chi song thân, đáo bất như tận thục thủy chi hoan (入則孝、出則弟、怎離白髮之雙親、到不如盡菽水之歡, vào thì hiếu, ra thì thuận, sao rời được song thân bạc đầu, không gì bằng tận hưởng niềm vui ăn món đạm bạc [hiếu kính]).”
- Thánh thiện (聖善): người mẹ được xem như là người thánh thiện nhất trên đời với đức từ cao cả và sự độ lượng, bao đung vô bờ bến.
- Thái y chi lạc (彩衣之樂): thuật ngữ nầy vốn phát xuất từ điển cố Lão Lai Tử (老萊子) nhà Chu, câu chuyện thứ 17 trong Nhị Thập Tứ Hiếu (二十四孝). Ông là người rất chí hiếu, hết mình phụng dưỡng song thân; dầu đến tuổi 70 mà ông vẫn chưa bao giờ cho là già, thường mặc áo 5 sắc màu ngộ nghĩnh, loang lổ, giả làm trẻ nít đùa giỡn trước mặt song thân để làm cho hai người vui; hay lấy nước rưới lên nhà rồi giả sẩy chân té, khóc như đứa con nít. Cho nên có bài thơ tán thán rằng: “Hý vũ học kiêu si, xuân phong động thái y, song thân khai khẩu tiếu, hỷ khí mãn đình vi (戲舞學驕癡、春風動彩衣、雙親開口笑、喜氣滿庭幃, múa chơi giả ngu si, gió xuân động màu y, song thân cười mở miệng, niềm vui tỏa khắp nhà).” Từ đó, xuất hiện cụm từ “ban y hý thái (班衣戲采)” có nghĩa là mặc áo loang lổ, có nhiều sắc màu, đùa giỡn để làm trò cho cha mẹ được vui; cho nên, cụm từ nầy và “thái y chi lạc” đều được dùng để chỉ cho người con hiếu thảo, cho dù tuổi đã già nhưng vẫn một lòng hiếu dưỡng song thân. Trong Hoàng Tiêu Dưỡng Hồi Đầu (黃蕭養回頭) có câu rằng: “Tuy vô nhi, hiệu Lão Lai, ban y hỷ thái (雖無兒,效老萊、班衣戲采, tuy không có con, vẫn bắt chước Lão Lai, mặc áo loang lỗ có sắc màu đùa chơi).” Câu “thánh thiện ly trần, vị tận thái y chi lạc (聖善離塵、未盡彩衣之樂)” có nghĩa bậc thánh thiện như người mẹ xa lìa cõi đời thì vẫn chưa hưởng trọn hết niềm vui nhìn áo sắc màu loang lỗ khi đứa con mặc vào làm trò đùa cho mẹ.