25. Sớ Cúng Mẹ IV

(Chơn Như Nhất Tướng)

 

Nguyên văn:

 

伏以

眞如一相、出生諳法之源、至行多端、趣向無爲之望、思親彌切、常懷風木之悲、孝感慇懃、毎有望雲之念。疏爲越南國...省...縣[]...社...村、家堂奉

修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干

大覺能仁、俯垂炤鑒。

奉爲...之香靈。仝承

佛法以弘深、全賴經文而解脫。竊念、劬勞德重、三年乳哺之勤、養育恩深、十月懷胎之苦、萱堂逝世、難酬菽水之歡、辱子在塵、未盡彩衣之樂、皈投大覺、聯伸薦悼之情、舒展靈文、篤起孝慈之志。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏

南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。

南無接引導師阿彌陀佛作大證明。

南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。

南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、神靈不昧、遨遊瑪瑙之堦、魂魄炤然、徐歩金繩之路、白蓮花內、常聞中道之香、碧沼池間、辰聽無聲之旨。寔賴

佛恩證明之不可思議也。謹疏。

謹請司命竈君、土公尊神、以事上奏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Chơn như nhất tướng, xuất sanh am pháp1 chi nguyên; chí hạnh2 đa đoan, thú hướng vô vi chi vọng; tư thân di thiết,3 thường hoài phong mộc chi bi;4 hiếu cảm ân cần, mỗi hữu vọng vân chi niệm.

Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.

Phụng vị … chi hương linh.

Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.

Thiết niệm: Cù lao đức trọng, tam niên nhũ bộ chi cần; dưỡng dục ân thâm, thập nguyệt hoài thai chi khổ; huyên đường thệ thế, nan thù thục thủy chi hoan, nhục tử5 tại trần, vị tận thái y chi lạc; quy đầu đại giác, liên thân tiến điệu chi tình; thư triển linh văn,6 đốc khởi hiếu từ chi chí. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu:

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.

Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.

Phục nguyện: Thần linh bất muội, ngao du Mã Não7 chi giai; hồn phách chiếu nhiên, từ bộ kim thằng chi lộ; Bạch Liên8 hoa nội, thường văn Trung Đạo9 chi hương, bích chiểu trì gian, thần thính vô thanh10 chi chỉ. Thật lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.

Cẩn thỉnh Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, dĩ sự thượng tấu.

Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Chơn như một tướng, sanh ra các pháp tỏ tường; hạnh tốt nhiều đường, thảy hướng vô vi trông vọng; nhớ người tha thiết, thường vương cây cỏ buồn thương; hiếu cảm ân cần, mỗi độ nhìn mây tưởng niệm.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:

Hương linh ...

Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.

Xót nghĩ: Cù lao đức nặng, ba năm bú mớm ân cần; nuôi nấng ơn sâu, mười tháng mang thai khổ nhọc; mẹ hiền quá vãng, khó đền đạm bạc niềm vui; con ở lại đời, chưa trọn hiếu tình áo lỗ; quy y Đại Giác, cùng nhau dâng cúng ân tình; phô diễn linh văn, hưng khởi hiếu từ chí cả. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:

Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.

Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.

Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.

Lại nguyện: Thần linh sáng tỏ, ngao du Mã Não thềm cao; hồn phách rạng nhiên, từ bước thừng vàng muôn nẻo; trong hoa sen trắng, thường nghe Trung Đạo hương thơm; nơi hồ ngọc xanh, luôn thọ vô thanh diệu chỉ. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.

Cúi xin Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, đem việc nầy tâu lên.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Am pháp (諳法): am tường, hiểu rõ các pháp, sự vật hiện tượng.
  2. Chí hạnh (至行): phẩm hạnh tuyệt vời, trác tuyệt, đạt đến tột cùng. Như trong Chu Xung Truyện (朱衝傳) của Tấn Thư (晉書) có đoạn: “Thiếu hữu chí hạnh, nhàn tĩnh quả dục, hiếu học nhi bần, thường dĩ canh nghệ vi sự (少有至行閑靜寡欲好學而貧常以耕藝爲事, lúc nhỏ đã có phẩm hạnh tốt, thích thanh vắng, ít ham muốn, hiếu học mà nghèo, thường lấy nghề canh nông mà sống).” Hay như trong Trầm Khải Truyện (沉顗傳) của Nam Sử (南史) cũng có câu rằng: “Khải tự Xử Mặc, ấu thanh tĩnh hữu chí hành (顗字處默幼清靜有至行, Trầm Khải có tên chữ là Xử Mặc, lúc nhỏ có phẩm hạnh tốt, thích thanh tĩnh).” Câu “chí hạnh đa đoan (至行多端)” có nghĩa là phẩm hạnh tuyệt vời có nhiều cách, đầu mối khác nhau.
  3. Di thiết (彌切): tha thiết, da diết. Như trong quyển thứ 76 của Đại Nhật Bản Sử (大日本史, Dainihonshi) có đoạn: “Trung cung châu kỵ, đương lai nguyệt nhị thập bát nhật, lễ chế hốt chung, tân tuế tu cập, kỵ cảnh nga lâm, di thiết võng cực chi thống (中宮周忌當來月二十八日禮制忽終新歲須及忌景俄臨彌切罔極之痛, lễ kỵ trong cung, nhằm ngày 28 tháng sau, tang chế chợt hết, năm mới lại đến, cảnh kỵ chợt về, đau xót nhớ tưởng song thân vô cùng tận).” Hay trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 788, Tả Phụ Nguyên (左輔元) có hai câu liên cú rằng: “Kinh trúc xuy di thiết, quá tùng vận cánh u (經竹吹彌切過松韻更幽, qua trúc thổi da diết, xuyên tùng tiếng lại buồn).”
  4. Phong mộc chi bi (風木之悲): phong mộc (風木) hay phong thọ (風樹) đều được dùng để ví cho cha mẹ qua đời, cho nên người con hiếu rất đau xót, bi thương không có được dịp nữa để hầu hạ, cung phụng cha mẹ. Cụm từ nầy phát xuất từ Thanh Sam Ký (青衫記), phần Nguyên Bạch Sủy Ma (元白揣摩) của Cố Đại Điển (顧大典, ?-1596) nhà Minh: “Tảo niên thất hỗ, thường hoài phong mộc chi bi, tráng tuế cổ bồn, cửu hư cầm sắt chi lạc (早年失怙常懷風木之悲壯歲鼓盆久虛琴瑟之樂, tuổi nhỏ mất cha, thường buồn đau tiếc không được cung phụng người; lớn lên lại chịu tang vợ, lâu sau mới được hưởng vui thú chồng vợ thuận hòa).”
  5. Nhục tử (辱子): từ dùng một cách khiêm tốn khi nói về con mình. Như trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義) của La Quán Trung (羅貫中, 1330?-1400?) nhà Minh có câu: “Huyền Đức nộ viết: ‘Nhục tử hữu hà diện mục phục lai kiến ngô.’ Đối viết: ‘Thúc phụ chi nạn, phi bất cứu’ (玄德怒曰辱子有何面目復來見吾封曰叔父之難 不救, Huyền Đức tức giận bảo: ‘Nhục tử, ngươi còn mặt mũi nào trở lại đây gặp ta nữa chứ ?’ Đáp rằng: ‘Thúc phụ gặp nạn, không thể không cứu’).”
  6. Linh văn (靈文): văn chương linh nghiệm, linh thiêng. Như Đạo Giáo có Ngũ Thiên Linh Văn (五篇靈文) gồm: Ngọc Dịch Chương (玉液章, Chương Dịch Ngọc), Sản Dược Chương (產藥章, Chương Trồng Thuốc), Thái Dược Chương (採藥章, Chương Hái Thuốc), Đắc Dược Chương (得藥章, Chương Có Thuốc) và Ôn Dưỡng Chương (溫養章, Chương Dưỡng Ấm). Câu “thư triển linh văn, đốc khởi hiếu từ chi chí (舒展靈文、篤起孝慈之志)” có nghĩa là thong thả diễn bày lời văn linh thiêng để dốc hết lòng phát khởi chí nguyện hiếu từ của người con.
  7. Mã Não (s: aśmagarbha, p: asama, 瑪瑙, agate): âm dịch là A Thấp Ma Yết Lạp Bà (阿濕摩掲拉婆), A Xá Ma Yết Bà (阿舍摩掲婆), A Du Ma Kiệt Bà (阿輸摩竭婆); còn gọi là Thạch Tạng (石藏), Thai Tạng (胎藏), Chử Tạng (杵藏); là tên gọi của một trong 7 loại trân báu (vàng [], bạc [], Lưu Ly [琉璃], Xa Cừ [硨磲], Mã Não [瑪瑙], San Hô [珊瑚] Hổ Phách [琥珀]). Có thuyết cho rằng ngoại hình nguyên thạch của mã não giống y hệt não bộ con ngựa, nên có tên gọi như vậy. Trong kinh điển Phật Giáo hay Cựu Ước Thánh Kinh đều có ghi rõ sự tích của mã não. Nó là một loại khoáng vật, thuộc loại Ngọc Tủy (玉髓). Từ xưa đến nay, Mã Não được con người rất ưa chuộng, yêu thích, được xếp vào một trong 7 loại báu. Do nó có vân và sắc màu mỹ lệ, từ ngàn xưa người ta đã dùng nó làm đồ trang sức; như trong một số di vật được khai quật lên, thường thấy có những xâu chuỗi hột Mã Não tròn. Tại Trung Quốc, hầu hết các tỉnh đều có loại khoáng vật quý hiếm nầy, nhiều nhất là ở các địa phương Hắc Long Giang (黑龍江), Liêu Ninh (遼寧), Hồ Bắc (湖北), v.v. Trên thế giới, có nhiều ở Âu Châu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á. Nơi nỗi tiếng nhất về Mã Não là Ấn Độ, Ba Tây (Brazil), v.v. Sắc màu của nó rất phong phú, nhiều loại khác nhau, nhưng màu hồng là quý hiếm nhất; cho nên trong Cách Cổ Yếu Luận (格古要論) có câu rằng: “Mã Não vô hồng nhất thế cùng (瑪瑙無紅一世窮, Mã Não không hồng một đời hết).” Tuy là màu hồng nhưng nó vẫn có đậm nhạt khác nhau như thuần hồng, hồng tía, hồng đậm, hồng nhạt, hồng vàng, hồng trắng, v.v. Từ đó, người xưa thường gọi Mã Não là Xích Ngọc (赤玉, ngọc đỏ) hay Quỳnh (). Hiện tại, một số màu sắc của Mã Não được phân loại thành: Hồng Mã Não (紅瑪瑙, Mã Não Hồng), Lam Mão Não (藍瑪瑙, Mã Não Lam), Tử Mão Não (紫瑪瑙, Mã Não Tía), Lục Mão Não (綠瑪瑙, Mã Não Xanh), Hắc Mã Não (黑瑪瑙, Mã Não Đen), Bạch Mã Não (白瑪瑙, Mã Não Trắng), v.v. Trong Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 妙法蓮華經) có đề cập đến loại trân báu nầy: “Nhược hữu bách thiên vạn ức chúng sanh, vị cầu kim, ngân, Lưu Ly, Xa Cừ, Mã Não, San Hô, Hổ Phách, chân châu đẳng bảo (若有百千萬億眾生爲求金銀琉璃硨磲瑪瑙珊瑚琥珀珠等寶, nếu có trăm ngàn ức chúng sanh, vì đi tìm các loại của báu, châu ngọc thật như vàng, bạc, Lưu Ly, Xa Cừ, Mã Não, San Hô, Hổ Phách, v.v.).” Hay như trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經) cũng có đoạn rằng: “Thượng hữu lâu các, diệc dĩ kim, ngân, Lưu Ly, Pha Lê, Xa Cừ, Xích Châu, Mã Não nhi nghiêm sức chi (上有樓閣、亦以金、銀、琉璃、玻璃、硨磲、赤珠、瑪瑙而嚴飾之, trên có lầu gác, cũng lấy vàng, bạc, lưu ly, pha lê, ngọc đỏ, mã não để trang trí thật trang nghiêm).”
  8. Bạch Liên (s, p: puṇḍarīka, 白蓮): âm dịch là Phân Đà Lợi Ca (分陀利迦), Bôn Trà Lợi Ca (奔茶利迦), Phân Trà Lợi Ca (分茶利迦); là một loại hoa sen màu trắng. Theo Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) quyển 15 cho biết rằng loại hoa nầy tuyết trắng như bạc, sáng rực có thể làm hoa mắt, hương của nó rất thơm, chủ yếu sống trong hồ A Nậu Đạt (阿耨達); con người ít khi thấy được nó. Vốn sanh từ trong bùn ra, nhưng không nhiễm ô mùi bùn, vì vậy hoa nầy thường được ví cho Phật tánh; tuy ở trong phiền não nhưng không bị phiền não làm cho ô nhiễm. Như trong phần bạt hậu của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka, 妙法蓮華經) có giải thích rằng loại hoa nầy khi chưa nở thì gọi là Khuất Ma La (屈摩羅), khi sắp rụng cánh là Ca Ma La (迦摩羅) và khi đang nở rộ là Phân Đà Lợi (分陀利). Kinh nầy ví diệu pháp của Phật như là hoa sen trắng lớn. Quẻ bói thứ 22, Bính Ất (丙乙), loại thượng cát (上吉, rất tốt) của Đạo Giáo, tên là Lý Thái Bạch Ngộ Đường Minh Hoàng (李太白遇唐明皇) có câu: “Bích ngọc trì trung khai bạch liên, trang nghiêm sắc tướng tự thiên nhiên, sanh lai cốt cách siêu phàm tục, chánh thị nhân gian đệ nhất tiên (碧玉池中開白蓮、莊嚴色相自天然、生來骨骼超凡俗、正是人間第一仙, bích ngọc hồ trong nở trắng sen, trang nghiêm sắc tướng tự thiên nhiên, sanh ra cốt cách siêu phàm tục, quả đúng trên đời đệ nhất tiên).” Thi sĩ Lục Quy Mông (陸龜蒙, ?-881) nhà Đường có làm bài thơ tựa đề Bạch Liên như sau: “Tố hoa đa mông biệt diễm khi, thử hoa đoan hợp tại Diêu Trì, vô tình hữu hận hà nhân kiến, nguyệt hiểu phong thanh dục đọa thì (素花多蒙別艷欺此花端合在瑤池、無情有恨何人見、月曉風清欲墮時, hoa thẹn thùng che đẹp chớ khi, hoa nầy rất hợp ở Diêu Trì, vô tình mang hận không người thấy, gió mát trăng thanh lại rụng đi).”
  9. Trung Đạo (s: madhyamā-pratipad, p: majjhima-paṭipadā, 中道): Trung không có nghĩa là ở giữa, trung gian, mà có nghĩa là vượt qua hai lập trường cực đoan tương hổ, đối lập mâu thuẩn lẫn nhau, không trú ở bên nào cả và cũng không trú ở giữa. Đạo chỉ cho phương pháp thực tiễn. Nó chỉ cho sự chứng ngộ của đức Thích Tôn nhờ Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇa-mārga, p:ariyāṭṭhagika-magga, 八正道) với nội dung tập trung tinh thần, không thiên chấp một bên nào cả, không nghiêng theo chủ nghĩa khổ hạnh hay chủ nghĩa khoái lạc. Đó được gọi là Trung Đạo của Không Khổ Không Lạc. Trong Phật Giáo thời kỳ đầu, Trung Đạo của Không Khổ Không Lạc nầy đóng vai trò chủ chốt; nhưng Trung Đạo của Không Đoạn Không Thường hay Trung Đạo của Phi Hữu Phi Vô cũng được đề cập đến. Tác phẩm Trung Luận (s: Mādhyamakakārikā, 中論) của Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250) đặt Duyên Khởi (緣起), Không Tánh (空性), Giả () và Trung Đạo đồng hàng với nhau; cho nên, Trung Quán Phái lấy Trung Đạo làm tiêu chỉ. Theo Du Già Hành Phái (瑜伽行派) đối tượng nhận thức không phải là cái bên ngoài, mà chỉ là sự hiển hiện của Thức, nên nó không phải là có (phi hữu); nhưng vì sự hiển hiện của Thức vốn tồn tại trong hiện thực, nên nó cũng không phải không có (phi vô). Vì vậy, họ chủ trương Duy Thức Trung Đạo (唯識中道); có nghĩa rằng trong Nhất Thiết Duy Thức (一切唯識, tất cả đều là tác dụng của nhận thức), tìm ra Trung Đạo. Ngoài ra, tại Trung Quốc, trên cơ sở của Trung Luận, Tam Luận Tông (三論宗) thì chủ trương Bát Bất Trung Đạo (八不中道) trên cở sở của Bất Sanh Bất Diệt (不生不滅, không sanh không diệt), Bất Thường Bất Đoạn (不常不斷, không thường không đoạn), Bất Nhất Bất Dị (不一不異, không một không khác), Bát Lai Bất Khứ (不來不去, không đến không đi); Thiên Thai Tông (天台宗) thì thuyết về Trung Đạo theo Tam Quán (三觀) của Không, Giả, Trung.
  10. Vô thanh (無聲): không có âm thanh, không có tiếng. Trong Thi Kinh có câu: “Thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú (上天之載無聲無臭, trên trời chở che, không tiếng không hôi).” Vô thanh còn là một công án trong Thiền Tông, như câu chuyện Phó Đại Sĩ (傅大士) giảng Kinh Kim Cang (s: Vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra, 金剛經) cho Lương Võ Đế (梁武帝). Sau khi thăng tòa, ông dùng cây thủ xích vỗ xuống bàn một cái, xong bước xuống tòa và trở về phương trượng. Khi ấy, Bảo Chí (寶誌) đứng một bên bảo rằng: “Đại Sĩ giảng kinh xong rồi !” Cũng như trường hợp Tu Bồ Đề (s, p: Subhūti, 須菩提) đang ngồi an tọa trong hang động, bỗng nhiên Thích Đề Hoàn Nhân (釋提恒因) rưới mưa hoa cúng dường. Thấy vậy, Tu Bồ Đề hỏi rằng: “Tại sao vì tôi mà rãi hoa ?”. Đế Thích đáp: “Tôi tôn kính người, khéo thuyết Bát Nhã, nên rưới mưa hoa cúng dường.” Tu Bồ Đề bảo rằng: “Tôi chưa từng thuyết pháp mà !” Đế Thích trả lời: “Người không thuyết, tôi không nghe, đó chính là cốt tủy chân thật của Bát Nhã.” Trong Pháp Hỷ Chí (法喜志) quyển 2 có đoạn rằng: “Hữu thanh chi thời, thị thanh trần tự sanh; vô thanh chi thời, thị thanh trần tự diệt; nhi thử văn tánh, bất tùy thanh sanh, bất tùy thanh diệt (有聲之時是聲塵自生無聲之時是聲塵自滅而此聞性不隨聲生不隨聲滅, khi có tiếng thì tiếng nghe tự sanh; khi không có tiếng thì tiếng nghe tự diệt; cho nên tánh nghe nầy không theo tiếng mà sanh, chẳng theo tiếng mà diệt).”