29. Sớ Cúng Anh Em Trai
(Bi Tụy Linh Nguyên)
Nguyên văn:
伏以
悲悴鴒原、孰軫急難之義、文垂像敎、敢希趨度之恩、式陳淨供、仰薦眞游。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒。
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。痛念、生則同胞、常篤天倫之愛、死分二路、永懷地魄之歸、隔幾月之音容、痛百年之手足、日月逝永、常乖卜兆之籤、風雨凄凉、空憶對床之語。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、三途止息、常遊兜率之天、六欲全超、更入寶嚴之土、罪花彫落于長空、善果敷榮于勝地。仰賴
佛恩、證明之不可思議也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Bi tụy1 linh nguyên,2 thục chẩn cấp nạn chi nghĩa; văn thùy tượng giáo,3 cảm hy xu độ chi ân; thức trần tịnh cúng, ngưỡng tiến chơn du. Sớ vị:
Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Thống niệm: Sanh tắc đồng bào, thường đốc thiên luân4 chi ái; tử phân nhị lộ, vĩnh hoài địa phách chi quy; cách kỷ nguyệt chi âm dung, thống bách niên chi thủ túc; nhật nguyệt thệ vĩnh, thường quai bốc triệu5 chi thiêm; phong vũ thê lương, không ức đối sàng chi ngữ. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện: Tam Đồ6 chỉ tức, thường du Đâu Suất chi thiên;7 Lục Dục8 toàn siêu, cánh nhập bảo nghiêm chi độ;9 tội hoa điêu lạc vu trường không; thiện quả phu vinh vu thắng địa. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Buồn mất anh em, ai người tai nạn nâng đỡ; văn mang giáo pháp, dám quên cứu độ ơn dày; cung bày phẩm vật, dâng cúng chơn như.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Xót nghĩ: Một ruột sanh cùng, thường khuyên anh em yêu mến; chết chia hai nẻo, mãi thương hồn phách đất về; cách bao tháng ấy bóng hình, xót trăm năm tình thân thiết; tháng ngày cách mãi, thường sai quẻ bói chọn mồ; mưa gió thê lương, thơ thẩn bên giường lặng tiếng. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Ba Đường dứt sạch, thường chơi Đâu Suất Thiên Cung; Sáu Dục thảy siêu, được vào trang nghiêm quốc độ; hoa tội rơi rụng giữa không trung, quả lành tốt tươi nơi đất quý. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Bi tụy (悲悴, 悲瘁): buồn thương, bi thương, đau xót. Trong Vấn Tiến Sĩ Sách Đề Ngũ Đạo (問進士策題五道) của Âu Dương Tu (歐陽修, 1007-1072) nhà Tống có đoạn: “Nhất nhân chi vi vịnh ca, hoan lạc bi tụy nghi nhược sở hệ giả vị vi trọng hỉ (一人之爲詠歌、歡樂悲瘁宜若所繫者未爲重矣, một người vì vịnh ca, hoan lạc, buồn thương, nên nếu ai bị trói buộc thì vẫn chưa xem là trọng).” Lại nữa, trong Hiền Ngu Kinh (賢愚經) quyển thứ 3, Cứ Đà Thân Thí Phẩm (鋸陀身施品) thứ 15 có đoạn: “Thiên thời thạnh thử, đáo nhiệt sa đạo, thần càn khát phạp, uất chưng dục tử, cùng toan khổ thiết, bi tụy nhi ngôn: ‘Thùy hữu từ bi, căng mẫn ngã giả, đương kiến chửng tế, cứu ngã thân mạng (天時盛暑、到熱沙道、唇乾渴乏、鬱蒸欲死、窮酸苦切、悲悴而言、誰有慈悲、矜愍我者、當見拯濟、救我身命, lúc ấy trời nóng bức, sức nóng bốc lên trên đường cát, môi khô khát mệt, hơi bốc muốn chết, hết chua đắng cạn, buồn đau nói rằng: ‘Ai có từ bi, thương xót tôi với, thấy vậy cứu vớt, cứu thân mạng tôi’).”
- Linh nguyên (鴒原): vốn phát xuất từ trong Thi Kinh (詩經), Chương Tiểu Nhã (小雅), Đường Lệ (棠棣): “Tích linh tại nguyên, huynh đệ cấp nạn (鶺鴒在原、兄弟急難, chim chìa vôi ở đồng, anh em có hoạn nạn cùng cứu nhau).” Về sau, người ta thường dùng từ “tích linh tại nguyên (鶺鴒在原)” hay “tích linh nguyên (鶺鴒原)” “linh nguyên” để chỉ ví dụ tình cảm thương yêu đùm bọc của anh em ruột thịt. Như trong bài thơ Nhập Hạp Ký Đệ (入峽寄弟) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đường có câu: “Lệ triêm minh nguyệt hạp, tâm đoạn tích linh nguyên (淚沾明月峽、心斷鶺鴒原, lệ tuôn trăng sáng núi, tâm dứt tình anh em).” Hay như trong bài thơ Tống Tạ Võ Tuyển Thiếu An Khao Sư Cố Nguyên Nhân Hoàn Thục Hội Huynh Táng (送謝武選少安犒師固原因還蜀會兄葬) của Tạ Chăn (謝榛, 1495-1575) nhà Minh cũng có câu: “Nhất đối Bì Đồng trường dục đoạn, tích linh nguyên thượng thảo tiêu tiêu (一對郫筒腸欲斷、鶺鴒原上草蕭蕭, khi đến Bì Đồng ruột muốn đứt, anh em chia cách cỏ tiêu điều).” Trong bài Cát Tiên Ông Chước Đài (葛仙翁釣臺) của Hoa Trấn (華鎮, 1051-?) lại có câu: “Văn thuyết phong lưu tạ khách nhi, linh nguyên tương ứng nhật minh phi, tiên ông di tích vân thâm xứ, huề thủ hành ngâm tống lạc huy (聞說風流謝客兒、鴒原相應日鳴飛、仙翁遺跡雲深處、携手行吟送落暉, nghe bảo phong lưu tạ khách hay, anh em cùng ứng ngày xa bay, tiên ông lưu dấu mây cùng chốn, tay thỏng ngâm nga tiễn chiều về).” Câu “bi tụy linh nguyên, thục chẩn cấp nạn chi nghĩa (悲悴鴒原、孰軫急難之義)” có nghĩa là thật đau xót khi mất anh em, ai là người thực hiện ý nghĩa lúc gặp hoạn giúp đỡ cho nhau.
- Tượng giáo (像敎): đồng nghĩa với tượng hóa (像化), là sự giáo hóa trong thời đại Tượng Pháp (s: saddharma-pratirūpaka, 像法). Sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 500 năm, Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, lúc ấy đúng vào thời đại Tượng Pháp, cho nên sự giáo hóa của Phật Giáo đương thời được gọi là tượng giáo hay tượng hóa. Như trong bài Tống Trí Huyền Thủ Tòa Quy Thục Trung Cựu Sơn (送智玄首座歸蜀中舊山) của Lưu Đắc Nhân (劉得仁) nhà Đường có câu: “Tượng giáo đắc trùng hưng, nhân sư thuyết Đại Thừa, tùng lai ngộ minh chủ, kim khứ đăng cao tăng, Thục quốc yên hà dị, Linh Sơn thủy nguyệt trừng, hương lư chư thiện hữu, hỷ tợ kiến Nam Năng (像敎得重興、因師說大乘、從來悟明主、今去證高僧、蜀國煙霞異、靈山水月澄、鄉閭諸善友、喜似見南能, tượng giáo được trùng hưng, vì sư nói Đại Thừa, xưa nay gặp minh chúa, nay chứng đắc cao tăng, nước Thục khói mây phủ, Linh Sơn trăng nước trong, cổng làng các bạn tốt, vui như gặp Huệ Năng).”
- Thiên luân (天倫): (1) Đạo lý tự nhiên. (2) Chỉ mối quan hệ thân thiết của cha con, anh em; cho nên có thuật ngữ “thiên luân chi lạc (天倫之樂)” được dùng để chỉ niềm lạc thú của gia đình, sự đoàn tụ của mọi người trong nhà. Như trong bài Xuân Dạ Yến Tùng Đệ Đào Hoa Viên Tự (春夜宴從弟桃花園序) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Hội đào hoa chi phương viên, tự thiên luân chi lạc sự (會桃花之芳園、序天倫之樂事, gặp chốn vườn thơm đào hoa, bày chuyện vui thú gia đình).” Hay như trong hồi thứ 17, 18 của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) có đoạn: “Điền xá chi gia, tuy tê diêm bố bạch, chung năng tụ thiên luân chi lạc (田舍之家、雖虀鹽布帛、終能聚天倫之樂, nhà nghèo nàn, tuy ăn dưa muối, mặc vải bố, nhưng cuối cùng vẫn có thể tập trung niềm vui thú gia đình).” Câu “sanh tắc đồng bào, thường đốc thiên luân chi ái (生則同胞、常篤天倫之愛)” có nghĩa là sanh cùng một bào thai, nên thường phải khuyến khích nhau tình thương yêu của anh em ruột thịt.
- Bốc triệu (卜兆): người xưa thường đốt mai rùa, xem thử hình thái các đường nứt trên mai con rùa ấy như thế nào để đoán tốt xấu; đó gọi là triệu (兆). Trong bài Phục Chí Phú (復志賦) của thi sĩ Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có câu: “Giả đại quy dĩ thị triệu hề, cầu u trinh chi sở lô (假大龜以視兆兮、求幽貞之所廬, giả rùa lớn để xem bói chừ, tìm nơi vui sống u nhàn).” Từ đó, bốc triệu có nghĩa là bói tìm huyệt chôn. Như trong Ngụy Thư (魏書) quyển 14 có đoạn: “Tích Hiên Viên bốc triệu quy tiêu, bốc giả thỉnh phỏng chư hiền triết, Hiên Viên nãi vấn Thiên lão, Thiên lão vị vi thiện, toại tùng kỳ ngôn, chung trí xương cát (昔軒轅卜兆龜焦、卜者請訪諸賢哲、軒轅乃問天老、天老謂爲善、遂從其言、終致昌吉, xưa kia Hiên Viên đốt mai rùa để bói tìm mộ huyệt chôn; khi bói thì phải thỉnh ý của các bậc hiền triết, Hiên Viên bèn hỏi ông Trời; ông Trời bảo là tốt, liền nghe lời ông Trời, cuối cùng thì được tốt đẹp).” Hay như trong Đại Nhật Bản Sử (大日本史), quyển 111 có đoạn: “Liêm Túc thường vị Định Tuệ viết: ‘Đàm phong chi vi địa dã, đông liên Y Thế Sơn, tây đối Kim Cang Sơn, nam giới Kim Phong Sơn, bắc lân Đại Thần Sơn, kỳ linh thánh bất hạ Đường chi Ngũ Đài; ngã bách tuế hậu, bốc triệu vức ư thử, tắc hậu diệp phồn diễn hỷ’ (鎌足嘗謂定慧曰:談峰之爲地也、東連伊勢山、西對金剛山、南界金峰山、北鄰大神山、其靈聖不下唐之五臺、我百歲後、卜兆域於此、則後葉繁衍矣, Tướng Quân Liêm Túc thường nói với Định Tuệ rằng: ‘Bàn luận đỉnh núi để chọn đất, phía đông gắn liền với Y Thế Sơn, phía tây đối diện với Kim Cang Sơn, phía nam giáp giới Kim Phong Sơn, phía bắc gần với Đại Thần Sơn, sự linh thiêng của mấy ngọn núi nầy chẳng thua gì Ngũ Đài Sơn bên nhà Đường; sau khi ta qua đời, nên chọn đất mộ chôn ở nơi đây, tất sau nầy con cháu hưng thịnh vậy’).”
- Tam Đồ (三途・三塗): ba đường gồm hỏa đồ, đao đồ và huyết đồ, đồng nghĩa với Địa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh của Ba Đường Ác, do vì các nghiệp ác của thân, miệng và ý gây ra nên dẫn đến kết quả sanh vào ba đường nầy. (1) Hỏa Đồ (tức đường Địa Ngục): do vì chúng sanh của cõi nầy thường chịu nỗi khổ bức bách, nóng bỏng của lò sôi, vạt cháy, hoặc do vì nơi ấy lửa tích tụ rất nhiều, nên có tên gọi là Hỏa Đồ. (2) Đao Đồ (tức đường Ngạ Quỷ): do chúng sanh ở cõi nầy thường chịu cái khổ bức bách của đao gậy nên có tên gọi như vậy. (3) Huyết Đồ (tức đường Súc Sanh): do chúng sanh ở cõi nầy tranh giành cấu xé lẫn nhau, người mạnh lấn áp kẻ yếu, uống máu ăn thịt nhau, nên có tên gọi như vậy. Trong hồi cuối cùng của Tây Du Ký (西遊記) có đoạn: “Như thị đẳng nhất thiết thế giới chư Phật, nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, thượng báo tứ trọng ân, hạ tế Tam Đồ khổ, nhược hữu kiến văn giả, tất phát bồ đề tâm, đồng sanh Cực Lạc quốc, tận báo thử nhất thân, thập phương tam thế nhất thiết Phật, chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật (如是等一切世界諸佛、願以此功德、莊嚴佛淨土、上報四重恩、下濟三途苦、若有見聞者、悉發菩提心、 同生極樂國、盡報此一身、十方三世一切佛、諸尊菩薩摩訶薩、摩訶般若波羅密, các đức Phật trong tất cả thế giới như vậy, nguyện đem công đức nầy, trang nghiêm cõi Tịnh Độ Phật, trên báo đáp bốn ơn nặng, dưới cứu độ cảnh khổ Ba Đường; nếu có ai thấy nghe, đều phát tâm bồ đề, cùng sanh về nước Cực Lạc, tận báo một thân nầy, mười phương ba đời hết thảy các đức Phật, các đấng Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật).” Hay như trong Dục Hải Hồi Cuồng Tập (欲海回狂集) quyển 1 của Hoài Tây Cư Sĩ Chu An Sĩ (懷西居士周安士) nhà Thanh có đoạn: “Sanh tao ngũ đẳng chi tru, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, một thọ Tam Đồ chi tội, tùng tiền ân ái, đáo thử thành không (生遭五等之誅、地獄、餓鬼、畜生、沒受三途之罪、從前恩愛、到此成空, sống gặp năm loại trách phạt, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, không còn chịu tội báo của Ba Đường, những ân ái từ trước, đến đây đều thành không).”
- Đâu Suất Thiên (s: Tuṣita, p: Tusita, t: Dgaḥ-ldan, 兜率天): từ gọi tắt của Đâu Suất Đà Thiên (兜率陀天), còn gọi là Đô Suất Thiên (都率天), Đâu Thuật Thiên (兜術天), Đâu Suất Đa Thiên (兜率多天), Đâu Sư Đà Thiên (兜師陀天), Đổ Sử Đa Thiên (覩史多天), Đâu Sử Đa Thiên (兜駛多天); ý dịch là Tri Túc Thiên (知足天), Diệu Túc Thiên (妙足天), Hỷ Túc Thiên (喜足天), Hỷ Lạc Thiên (喜樂天); là cõi trời thứ 4 trong 6 cõi trời của Dục Giới, nằm giữa cõi Dạ Ma Thiên (夜摩天) và Nhạo Biến Hóa Thiên (樂變化天), giữa hư không mây dày đặc. Cõi trời nầy nằm cách cõi Diêm Phù Đề (s, p: Jampudīpa, 閻浮提) 320.000 do tuần (s, p: yojana, 由旬), cách cõi trời Dạ Ma Thiên 160.000 do tuần. Về tên cõi trời nầy, Lập Thế A Tỳ Đàm Luận (立世阿毘曇論) quyển 6 có giải thích rằng cõi nầy hoan lạc, no đủ, vật chất chẳng thiếu gì, nên có tên gọi như vậy. Phật Địa Kinh Luận (佛地經論) quyển 5 lại cho rằng hậu thân của Bồ Tát sẽ giáo hóa ở cõi nầy và tu nhiều về pháp Hỷ Túc, nên có tên là Hỷ Túc Thiên (喜足天). Cõi trời nầy có hai viện nội và ngoại. Đâu Suất Nội Viện (兜率內院) là chỗ ở của vị sắp thành Phật (tức Bồ Tát bổ xứ), nay là cõi Tịnh Độ của Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Vị nầy hiện cũng là Bồ Tát bổ xứ, đang tuyên thuyết Phật pháp tại đây; nếu trú tại đây tròn 40 năm, vị ấy sẽ hạ sanh xuống cõi người, thành Phật dưới cây Long Hoa (龍華). Hơn nữa, xưa kia đức Thích Ca Như Lai khi còn là thân Bồ Tát, cũng từ cõi trời nầy hạ sanh xuống nhân gian và thành Phật. Tương truyền nội viện có 49 ngôi viện, có thể là y cứ vào Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經, Taishō 14, 419) cho rằng: “Thử Ma Ni quang hồi toàn không trung, hóa vi tứ thập cửu trùng vi diệu bảo cung (此摩尼光廻旋空中、化爲四十九重微妙寶宮, ánh sáng viên ngọc Ma Ni nầy xoay quanh trong không trung, hóa thành bốn mươi chín lớp cung điện báu vi diệu)”. Ngoại viện thuộc về Dục Giới Thiên (欲界天), là nơi cư trú của thiên chúng, hưởng thọ dục lạc. Tuổi thọ của chúng sanh trên cõi trời nầy khoảng 4.000 năm, một ngày đêm trên đó tương đương với 400 năm dưới cõi người. Thọ mạng 4.000 tuổi ấy được tính tương đương với 6.700.000.000 (thực tế là 5.670.000.000) năm. Ngoài ra, khi chúng sanh của cõi nầy động tình dục thì cả hai đều chấp tay, tự nhiên thành âm dương; đứa bé sơ sanh của họ giống như hài nhi 8 tuổi dưới dương gian; đến 7 tuổi đứa bé thành nhân, thân dài 4 do tuần, áo dài 8 do tuần, rộng 4 do tuần, v.v. Mật Giáo an trí vị Thiên tử nầy tại phương Tây Bắc của Kim Cang Bộ Viện (金剛部院), ngoài Hiện Đồ Thai Tạng Giới Mạn Trà La (現圖胎藏界曼茶羅). Hình tượng của vị trời nầy có thân hình lộ sắc da màu trắng, tay phải gập lại, đặt nơi ngực, cầm cành hoa sen búp; tay trái bắt ấn, kê trên bắp đùi; hai bên có hai người nữ hầu, thân cũng để lộ da trắng, tay phải của họ đều cầm cành sen búp. Chủng tử của vị trời nầy là taṃ, hình Tam Muội Da là cành hoa sen búp trên lá. Tại Điện Di Lặc (彌勒殿) của Thái Vân Tự (白雲寺) ở Thái Châu (泰州), Tỉnh Giang Tô (江蘇省) có hai câu đối: “Thử Như Lai đại đỗ bao dung bả thế gian sự toàn hóa thành vô biên Phật pháp, thị Bồ Tát mãn tâm hoan hỷ tương Đâu Suất Cung tận cố tác Tỳ Lô đạo tràng (此如來大肚包容把世間事全化成無邊佛法、是菩薩滿心歡喜將兜率宮盡做作毗盧道塲, Như Lai nầy bụng lớn bao dung lấy chuyện thế gian thảy hóa thành vô biên Phật pháp, Bồ Tát ấy đầy tâm hoan hỷ đem Cung Đâu Suất trọn biến làm Tỳ Lô đạo tràng).”
- Lục Dục (六欲): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho sáu loại dục vọng đối với người khác tánh, gồm: tham muốn về sắc, tham muốn về hình tướng, tham muốn về uy nghi, tham muốn về ngôn ngữ âm thanh, tham muốn về sự mềm mại, tham muốn về tướng người. (2) Chỉ sáu căn sản sinh ra dục vọng là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. (3) Từ gọi tắt của Lục Dục Thiên (六欲天, sáu tầng trời của cõi dục), gồm: Tứ Đại Vương Thiên (s: Cāturmahārājakāyika-deva, 四大王天, có bốn vị trời Trì Quốc [持國], Tăng Trưởng [增長], Quảng Mục [廣目], Đa Văn [多聞] cùng quyến thuộc của họ); Tam Thập Tam Thiên (s: Trayastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 三十三天, còn gọi là Đao Lợi Thiên [忉利天]); Diệm Ma Thiên (s: Yāma, 焰摩天, còn gọi là Dạ Ma Thiên [夜摩天], Viêm Ma Thiên [炎摩天], Thời Phân Thiên [時分天]); Đâu Suất Thiên (s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率天, còn gọi là Đâu Suất Đà Thiên [兜率陀天], còn gọi là Đô Suất Thiên [都率天], Đâu Thuật Thiên [兜術天], Đâu Suất Đa Thiên [兜率多天], Đâu Sư Đà Thiên [兜師陀天], Đổ Sử Đa Thiên [覩史多天], Đâu Sử Đa Thiên [兜駛多天]); Hóa Tự Tại Thiên (s: Nirmāṇa-rati, 化自在天, còn gọi là Lạc Biến Hóa Thiên [樂變化天], Vô Kiều Lạc Thiên [無憍樂天], Vô Cống Cao Thiên [無貢高天], Ni Ma La Thiên [尼摩羅天]); và Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Paranirmita-vaśa-vartin, 他化自在天, còn gọi là Tha Hóa Tự Chuyển Thiên [他化自轉天], Tha Hóa Lạc Thiên [他化樂天], Hóa Ứng Thanh Thiên [化應聲天], Ba La Ni Mật Thiên [波羅尼蜜天]).
- Bảo nghiêm chi độ (寶嚴之土): quốc độ thanh tịnh được trang nghiêm bằng các thứ trân báu, tức quốc độ của chư Phật. Trong Tây Phương Phát Nguyện Văn (西方發願文) của Liên Trì Đại Sư (蓮池大師, 1535-1615), tổ thứ 8 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, có đoạn: “Nguyện Thiền quán chi trung, mộng mị chi tế, đắc kiến A Di Đà Phật kim sắc chi thân, đắc lịch A Di Đà Phật bảo nghiêm chi độ, đắc mông A Di Đà Phật Cam Lồ quán đảnh, quang minh chiếu thân, thủ ma ngã đầu, y phú ngã thể (願禪觀之中、夢寐之際、得見阿彌陀佛金色之身、得歷阿彌陀佛寶嚴之土、得蒙阿彌陀佛甘露灌頂、光明照身、手摩我頭、衣覆我體, mong sao trong khi hành Thiền quán, ngay trong lúc mộng mị, được thấy thân sắc vàng của đức Phật A Di Đà, được đi qua quốc độ trang nghiêm bằng trân báu của đức Phật A Di Đà, được đức Phật A Di Đà rưới nước Cam Lồ trên đầu, ánh sáng chiếu khắp thân, lấy tay xoa đầu con, lấy y che lên thân con).” Câu “Lục Dục toàn siêu, cánh nhập bảo nghiêm chi độ (六欲全超、更入寶嚴之土)” có nghĩa là khi đã vượt qua sáu cõi dục rồi thì sẽ được nhập vào quốc độ trang nghiêm bằng trân báu của chư Phật.