30. Sớ Chúc Thọ Khánh Sanh
(Thọ Niên Đản Tiết)
Nguyên văn:
伏以
壽年誕節、欣祈壽算增隆、壽歲添齡、常祝壽星高炤、仰惟
覺皇、早證壽香。拜疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家居奉
佛聖上香献供...。言念、秀瞻岳氣、種望文星、荷乾坤覆載之恩、賴日月炤臨之德、難流向善、願入慈航、上干
佛聖以綏成、下祝遐齡而永保。茲者...伏願、佛垂擁護、聖降扶持、壽數比河沙之數、無量無邊、福基等山岳之基、益堅益固。仰賴
佛聖扶持之加惠也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Thọ niên đản tiết, hân kỳ thọ toán tăng long; thọ tuế thiêm linh, thường chúc Thọ Tinh1 cao chiếu; ngưỡng duy Giác Hoàng, tảo chứng thọ hương.
Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia cư phụng Phật Thánh thượng hương hiến cúng …
Ngôn niệm: Tú chiêm nhạc khí, chủng vọng Văn Tinh;2 hà càn khôn phú tải chi ân, lại nhật nguyệt chiếu lâm chi đức; nan lưu hướng thiện, nguyện nhập từ hàng; thượng can Phật Thánh dĩ thỏa thành, hạ chúc hà linh3 nhi vĩnh bảo. Tư giả …
Phục nguyện: Phật thùy ủng hộ, Thánh giáng phò trì; thọ số tỷ hà sa chi số, vô lượng vô biên; phước cơ đẳng sơn nhạc chi cơ, ích kiên ích cố. Ngưỡng lại Phật Thánh phò trì chi gia huệ dã. Cẩn sớ.
Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
- thọ khánh đản, vui cầu tuổi thọ tăng thêm; thọ thêm dài lâu, thường chúc Sao Thọ cao chiếu; ngưỡng trông Giác Hoàng, sớm chứng hương thọ.
Sớ tâu: Nay có gia đình … ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện …, Tỉnh …, nước Việt Nam, vâng lời Phật dạy, dâng hương cúng lễ ...
Nép nghĩ: Trông vời khí tốt, ngóng dõi Sao Văn; đội càn khôn che chở ơn sâu, nương trời trăng chiếu sáng đức cả; khó theo hướng thiện, nguyện nhập thuyền từ; trên nhờ Phật Thánh được tựu thành, dưới chúc thọ cao luôn mãi giữ. Nay xin …
Cúi mong: Phật thương ủng hộ, Thánh ban phò trì; số tuổi thật nhiều như cát sông, vô lượng vô biên; nền phước vững chắc như núi cả, càng kiên càng cố. Ngưỡng trông đức Thánh, phò trì ban cho ân huệ. Kính dâng sớ.
Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Thọ Tinh (壽星): tên của một vị thần tiên, ngôi sao chủ quản về tuổi thọ của con người, như trong Sử Ký Sách Ẩn (史記索隱) có giải thích rằng: “Thọ Tinh, cái Nam Cực Lão Nhân tinh dã; kiến tắc thiên hạ lý an, cố từ chi dĩ kỳ phước thọ (壽星、蓋南極老人星也、見則天下理安、故祠之以祈福壽, Thọ Tinh là sao Nam Cực Lão Nhân; thấy sao nầy tất thiên hạ được yên; cho nên thờ phụng sao nầy để cầu phước thọ).” Vì vậy, Thọ Tinh còn có tên gọi khác là Thọ Tinh Công (壽星公), Nam Cực Lão Nhân (南極老人), Nam Cực Lão Nhân Thọ Đức Tinh Quân (南極老人壽德星君), Nam Cực Tiên Ông (南極仙翁). Nguyên lai, xưa kia Nam Cực Lão Nhân chủ quản về vận mạng đất nước, quốc gia; nhưng đến thời nhà Chu (周, 1134-250 ttl) thì biến thành quản lý về thọ mạng con người. Trong Sử Ký Chánh Nghĩa (史記正義) gọi Thọ Tinh là “vi nhân chủ chiêm thọ mạng diên trường chi ứng (爲人主占壽命延長之應, chủ yếu chiêm đoán ứng nghiệm thọ mạng dài lâu cho con người).” Sao nầy thường đi chung với Phước Tinh (福星), Lộc Tinh (祿星), được gọi là Phước Lộc Thọ Tam Tinh (福祿壽三星). Trong bài Thái Thượng Huyền Linh Bắc Đẩu Bổn Mạng Diên Sanh Chơn Kinh (太上玄靈北斗本命延生眞經) thường được Hoàng Triều đọc tụng hằng ngày để cầu nguyện chư vị thần linh gia hộ, ngoài tên Tam Thanh (三清), Ngọc Đế (玉帝), Bắc Đẩu Cửu Tinh Quân (北斗九星君), còn có các danh hiệu như Nam Cực Lão Nhân Thọ Đức Tinh Quân (南極老人壽德星君), Thượng Thanh Phước Đức Tinh Quân (上清福德星君), Thượng Thanh Lộc Đức Tinh Quân (上清祿德星君). Sau nầy trong Kim Lục Kỳ Thọ Tảo Triêu Nghi (金籙祈壽早朝儀) được biên soạn dưới thời nhà Minh có câu: “Nam Cực Lão Nhân Phước Lộc Thọ Tam Tinh Chơn Quân (南極老人福祿壽三星眞君).” Như vậy, cả ba sao Phước Lộc Thọ đều quy về danh xưng Nam Cực Lão Nhân. Hiện tại, trong Đạo Giáo cho rằng Phước Tinh là Thiên Quan (天官), Lộc Tinh là Văn Xương (文昌) và Thọ Tinh là Nam Cực Lão Nhân.
- Văn Tinh (文星): tức Văn Xương Tinh (文昌星), hay Văn Khúc Tinh (文曲星). Tương truyền sao nầy chủ quản về học thuật, văn chương; cho nên người thuộc sao nầy thì có tài hoa về nhiều phương diện khác nhau. Sao nầy đồng cung với Thiên Lương (天梁), Tử Vi (紫微), Thiên Tướng (天相), Thiên Phủ (天府), Võ Khúc (武曲), Lộc Tồn (祿存). Như trong bài thơ Hiến Huỳnh Dương Công (獻滎陽公) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường có câu: “Từ Hải khiêu ba dũng, Văn Tinh phất tọa huyền (詞海跳波湧、文星拂坐懸, Từ Hải đạp sóng vượt, Văn Tinh phủi bàn ngồi).” Hay trong bài Hồi Tố Đài Ca (懷素臺歌) của Bùi Thuyết (裴說) nhà Đường lại có câu: “Đỗ Phủ, Lý Bạch dữ Hoài Tố, Văn Tinh, Tửu Tinh, Thảo Thư Tinh (杜甫、李白 與 懷素、文星酒星草書星, Đỗ Phủ, Lý Bạch cùng Hoài Tố là Văn Tinh, Tửu Tinh và Thảo Thư Tinh).” Hoặc trong Đào Viên Thi Thoại (隨園詩話) của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh có câu: “Lưỡng giang nguyệt đán quy danh sĩ, hựu báo Văn Tinh nhập tòa lai (兩江月旦歸名士、又報文星入座來, hai bờ đầu tháng về danh sĩ, lại báo Văn Tinh vào tòa ngồi).”
- Hà linh (遐齡): tuổi thọ cao, trường thọ. Từ nầy thường đi chung với “thiên tứ hà linh (天賜遐齡, trời ban tuổi thọ cao)”, “tùng hạc hà linh (松鶴遐齡, sống lâu bằng với cây tùng và con hạc)”, “khắc hưởng hà linh (克享遐齡, hưởng mãi tuổi thọ)” dùng để chúc thọ những người cao niên. Như trong bài Biệt Uông Cư Sĩ (別汪居士) của Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, CBETA No. 1452) quyển 24 có câu: “Khất duy toại kỳ viên nhu chi tình, lượng kỳ khuyển mã chi ám, đắc hoàn sơ địa, vĩnh chúc hà linh (乞惟遂其猿猱之情、亮其犬馬之暗、得還初地、永祝遐齡, cúi mong trọn vẹn tấm tình vượn khỉ, sáng tỏ tối tăm chó ngựa, trở về nguyên quán, chúc được sống lâu).”