34. Sớ Cúng Cầu Đăng Khoa
(Nho Khoa Dĩ Đức Hạnh)
Nguyên văn:
伏以
儒科以德行爲首、事乃可成、釋敎以誠敬爲先、求之必應、凡心不隔、聖眼非遙。拜疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家居奉
佛聖修香獻供諷經求登科迎祥集福事。今弟子...等、惟日仰干
蓮眼俯鑒葵心。言念、叨生秀士、幸覩科塲、文才恐未冠於群儒、俊德念罔優於多士、禮機莫測、天命難知、于今肅啟丹誠、卽日禮陳素節、恭祈保佑、願舒乾体以撫資、仰賴霑恩、望廣坤維之用助。茲者...筵奉、諸位善神、雲咸使者、奏天健克達之功、咸蒙焦面大士、土地靈官、普及十類孤魂、運神德默扶之力、俾以茲科應成大業、速成文而筆勢翻翻、策對而言辭洒洒、名題金榜、志偶遂於男兒、桂折蟾宮、恩仰憑於
佛力、來日用陳禮謝、永世不負洪恩。寔賴
佛聖扶持之加惠也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Nho khoa dĩ đức hạnhvi thủ, sự nãi khả thành; Thích Giáo dĩ thành kính vi tiên, cầu chi tất ứng; phàm tâm bất cách, Thánh nhãn phi diêu.
Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia cư phụng Phật Thánh tu hương hiến cúng phúng kinh cầu đăng khoa nghinh tường tập phước sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật ngưỡng can Liên Nhãn, phủ giám quỳ tâm.
Ngôn niệm: Phao sanh tú sĩ, hạnh đỗ khoa trường; văn tài khủng vị quan ư quần Nho, tuấn đức niệm cương ưu ư đa sĩ; lễ cơ mạc trắc, thiên mạng nan tri; vu kim túc khải đơn thành, tức nhật lễ trần tố tiết; cung kỳ bảo hựu, nguyện thư càn thể dĩ phủ tư; ngưỡng lại triêm ân, vọng quảng khôn duy chi dụng trợ. Tư giả …
Diên phụng: Chư vị thiện thần, Vân Hàm Sứ Giả; tấu thiên kiện khắc đạt chi công, hàm mông Tiêu Diện Đại Sĩ; Thổ Địa linh quan, cập Thập Loại cô hồn, vận thần đức mặc phù chi công, tỷ dĩ tư khoa ứng thành đại nghiệp; tốc thành văn nhi bút thế phiên phiên, sách phong nhi ngôn từ sái sái; danh đề kim bảng,1 chí ngẫu toại ư nam nhi, quế chiết Thiềm Cung,2 ân ngưỡng bằng ư Phật lực, lai nhật dụng trần lễ tạ, vĩnh thế bất phụ hồng ân. Thật lại Phật Thánh phò trì chi gia huệ dã. Cẩn sớ.
Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Nho gia lấy đức hạnh làm trước, việc mới tựu thành; Phật Giáo chọn thành kính làm đầu, cầu tất có ứng; tâm phàm chẳng cách, mắt Thánh nào xa.
Sớ tâu: Nay có gia đình … ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện …, Tỉnh …, nước Việt Nam, vâng lời Phật Thánh, dâng hương hiến cúng tụng kinh cầu thi đỗ, đón lành gom phước. Đệ tử …, hôm nay ngưỡng trông đấng Mắt Sen, chứng giám lòng thành.
Nép nghĩ: Sanh làm học sĩ, may gặp khoa trường; văn tài e chưa đủ với nhà Nho, đức mọn lo sao bằng cùng bạn lứa; lễ nghĩa khó xét, mạng trời ai hay; giờ nầy bày tấc lòng thành, hôm nay lễ dâng chút mọn; cúi xin phò trợ, nguyện ban thể chất được sáng soi; ngưỡng lạy ơn trên, trông lên trời đất ngầm giúp đỡ. Nay gặp …
Cùng xin: Các vị thiện thần, Vân Hàm Sứ Giả, tâu trời mau thành đạt công lao, cùng mong Tiêu Diện Đại Sĩ, Thổ Địa linh quan, khắp cùng Mười Loại cô hồn, vận đức thần ngầm luôn phò trợ, giúp cho khoa cử thành nghiệp lớn; mau thành văn mà bút chảy ào ào, đối ứng cho ngôn từ trôi chảy; tên đề vàng bảng, chí được thỏa nguyện nam nhi; thi đỗ khoa trường, ơn đội nương trên Phật lực; hôm sau thiết bày lễ tạ, muôn đời chẳng phụ hông ân. Ngưỡng trông Phật Thánh, phò trì ban cho ân huệ. Kính dâng sớ.
Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Kim bảng (金榜): bảng vàng, thường đi chung với kim bảng đề danh (金榜題名) có nghĩ là bảng vàng ghi tên người thi đỗ. Như trong bài thơ Dung Trai Tứ Bút (容齋四筆), phần Đắc Ý Thất Ý Thi (得意失意詩) của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống có câu: “Động phòng hoa chúc dạ, kim bảng quải danh thì (洞房花燭夜、金榜掛名時, đêm động phòng hoa chúc, lúc bảng vàng nêu tên).” Hay trong bài Lý Viên Tùng Thoại (履園叢話), phần Khoa Đệ (科第), Cầu Thiêm (求籤) của Tiền Vịnh (錢泳, 1759-1844) nhà Thanh cũng có câu: “Hoài dựng sanh nam dĩ hữu kỳ, hậu lai kim bảng quải danh thì (懷孕生男已有期、後來金榜掛名時, mang thai sanh trai đã có kỳ, mai sau bảng vàng nêu tên khi).”
- Thiềm Cung (蟾宮): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Nguyệt Cung (月宮, Cung Trăng), như trong bài thơ Trung Thu Nguyệt (中秋月) của Hứa Trú (許晝, ?-?) nhà Đường có câu: “Ưng thị Thiềm Cung biệt hữu tình, mỗi phùng thu bán bội trừng thanh (應是蟾宮別有情、每逢秋半倍澄清, nếu biết Cung Trăng có riêng tình, mỗi lần thu đến lại trong thanh).” Hay như trong Ngọc Kính Đài Ký (玉鏡臺記), phần Khuê Tư (閨思) của Chu Đỉnh (朱鼎, ?-?) nhà Minh lại có đoạn rằng: “Tuế nguyệt dị suy thiên, thúc nhĩ kinh niên, hựu thị thu chi bán, Thiềm Cung kỉ khuyết viên (歲月易推遷、倏爾經年、又是秋之半、蟾宮幾缺圓, năm tháng dễ đổi dời, thoáng chốc đã qua năm, lại đến giữa mùa thu, Cung Trăng mấy bận khuyết tròn).” (2) Kể từ thời nhà Đường trở đi, người ta gọi việc thi đỗ khoa cử là “Thiềm Cung chiết quế (蟾宮折桂, bẻ cành quế trên Cung Trăng)”; từ đó, Thiềm Cung còn được dùng để chỉ cho khoa cử ứng thí. Như trong bài thơ Tống Hoàn Tú Tài (送黃秀才) của Lý Trung (李中) thời Nam Đường có câu: “Thiềm Cung tu triển chí, ngư đĩnh mạc khiên tâm (蟾宮須展志、漁艇莫牽心, khoa trường nên bày chí, thuyền con chớ nao lòng).” Hay như trong bài Lạc Dương Tấn Thân Cựu Văn Ký (洛陽搢紳舊聞記), đoạn Đào Phó Xa Cầu Tiến Kiến Kỵ (陶副車求薦見忌) của Trương Tề Hiền (張齊賢, 943-1014) nhà Tống lại có câu: “Hảo khứ Thiềm Cung thị quy lộ, minh niên ưng chiết quế chi hương (好去蟾宮是歸路、明年應折桂枝香, khéo rời khoa trường về vạn nẻo, sang năm nên thi đỗ tỏa hương).” Như vậy nghĩa trong bài nầy là khoa cử ứng thí.