35. Sớ Cúng Ngoại Cảnh Ngoại Càn

(Càn Khôn Hiển Thị)

 

Nguyên văn:

 

伏以

乾坤顯現、運慈心攝化眾生、外乾中天、施妙力救人度世、有求皆應、無願不從。拜疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家居奉

佛聖上香献供...事。今弟子...等、惟日仰干

聖德威光、俯垂炤鑒。言念、弟子等、生居塵世、辛獲勝因、荷乾坤覆載之恩、賴僊聖扶持之德。茲者本月是日、列陳香花、燈茶品供。今則謹具疏文、和南拜奏。恭惟、中天外境外乾諸位神峒、諸位主峒、諸位德婆座前證明。外境乾坤、五行六峒、白兔金精、木精主蘿神德聖婆。三峒火風神女聖婆。洲沙外境尊位聖婆。第四水宮德朱聖婆。中央戊己土德聖婆。上天二位尊翁。上天第三監察尊翁。外境七位行差仙姑。五位行差聖姑。姑外境、姑外乾。普及侍從部下一切威靈同垂炤鑒、共降吉祥。伏願、一誠上達、萬罪冰消、俾弟子以平安、保身躬而壯健。四辰利樂、八節榮昌。仰賴仙

聖扶持之大力也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Càn khôn hiển hiện, vận từ tâm nhiếp hóa quần sanh, ngoại càn trung thiên, thi diệu lực cứu nhân độ thế; hữu cầu giai ứng, vô nguyện bất tùng.

Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia cư phụng Phật Thánh thượng hương hiến cúng ... sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can, Thánh đức oai quang, phủ thùy chiếu giám.

Ngôn niệm: Đệ tử đẳng sanh cư trần thế, hạnh hoạch thắng nhân; hà càn khôn phú tải chi ân, lại Tiên Thánh phò trì chi đức. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, liệt trần hương hoa, đăng trà phẩm cúng. Kim tắc cẩn cụ sớ văn, hòa nam bái tấu.

Cung duy: Trung thiên ngoại cảnh ngoại càn chư vị thần động, chư vị chủ động, chư vị đức bà tọa tiền chứng minh.

Ngoại cảnh càn khôn Ngũ Hành1 Lục Động, Bạch Thố2 Kim Tinh3 Mộc Tinh4 Chúa La Thần Đức Thánh Bà.

Tam Động Hỏa Phong Thần Nữ Thánh Bà.

Châu Sa Ngoại Cảnh Tôn Vị Thánh Bà.

Đệ Tứ Thủy Cung5 Đức Chầu Thánh Bà.

Trung Ương Mậu Kỷ6 Thổ Đức Thánh Bà.

Thượng Thiên Nhị Vị Tôn Ông.

Thượng Thiên Đệ Tam Giám Sát Tôn Ông.

Ngoại Cảnh Thất Vị Hành Sai Tiên Cô.

Ngũ Vị Hành Sai Thánh Cô.

Cô Năm Ngoại Cảnh.

Cô Ba Ngoại Càn.

Phổ cập thị tùng bộ hạ nhất thiết oai linh đồng thùy chiếu giám, cọng giáng cát tường.

Phục nguyện: Nhất thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu; tỷ đệ tử dĩ bình an, bảo thân cung nhi tráng kiện; Tứ Thần7 lợi lạc, Bát Tiết8 vinh xương. Ngưỡng lại Tiên Thánh phò trì chi đại lực dã. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Càn khôn hiện rõ, đem từ tâm hóa độ chúng sanh; ngoại càn giữa trời, ban sức mầu cứu nhân độ thế; có cầu được ứng, không nguyện chẳng linh.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật Thánh, dâng hương tụng kinh …. Hôm nay đệ tử …, ngưỡng trông oai quang Thánh đức, xót thương chiếu giám.

Thiết nghĩ: Đệ tử chúng con, sanh nơi trần thế, may gặp nhân lành; đội trời đất che chở ơn sâu, nương Tiên Thánh trợ giúp đức cả. Hôm nay ngày lành tháng tốt, kính bày hương hoa, đèn trà vật cúng. Nay xin dâng trọn sớ văn, kính thành lạy thỉnh:

Cúi xin: Các vị thần động, các vị chủ động, các vị đức bà ngự trên tòa chứng giám cho.

Kính xin đức Thánh Bà Chúa La Thần, Kim Tinh, Mộc Tinh, Thỏ Trắng của Sáu Động Ngũ Hành nơi ngoại cảnh càn khôn.

Đức Thánh Bà Hỏa Phong Thần của ba động.

Châu Sa Ngoại Cảnh Tôn Vị Thánh Bà.

Đệ Tứ Thủy Cung Đức Chầu Thánh Bà.

Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Thánh Bà.

Hai Vị Tôn Ông Trên Trời.

Đệ Tam Giám Sát Tôn Ông Trên Trời.

Ngoại Cảnh Bảy Vị Hành Sai Tiên Cô.

Năm Vị Hành Sai Thánh Cô.

Cô Năm Ngoại Cảnh.

Cô Ba Ngoại Càn.

Cùng xin hết thảy oai linh, bộ hạ theo hầu, đồng thương chứng giám, ban cho cát tường.

Cúi mong: Lòng thành trên thấu, vạn tội tiêu tan; giúp đệ tử được bình an, cho thân thể thêm khỏe mạnh; suốt ngày lợi lạc, cả năm tốt lành. Ngưỡng trông sức từ to lớn chư vị Tiên Thánh. Kính dâng sớ.

Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con kính thành dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

 

  1. Ngũ Hành (五行): là quan niệm về vật chất của người Trung Quốc cổ đại, phần nhiều được dùng trong các phương diện triết học, y học cũng như bói toán; tức là 5 nguyên tố cần thiết vận hành giữa trời đất gồm Thủy (), Hỏa (), Mộc (), Kim () và Thổ (). Tên gọi khác của Ngũ Thường (五常, 5 yếu tố con người thường cần phải thực hiện) gồm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và Tín. Người Trung Quốc co rằng tự nhiên được cấu thành bởi 5 yếu tố, tùy theo các yếu tố nầy mà thạnh suy, khiến cho tự nhiên sinh ra các biến hóa, có ảnh hưởng đến vận mạng của con người, đồng thời làm cho vũ trụ tuần hoàn không ngừng. Trong các kinh điển luận về Ngũ Hành, trước hết thấy xuất hiện trong Thượng Thư (尚書), phần Hồng Phạm (洪範) có nêu rõ rằng: “Ngũ Hành, nhất viết Thủy, nhị viết Hỏa, tam viết Mộc, tứ viết Kim, ngũ viết Thổ (五行一曰水二曰火三曰木四曰金五曰土, Ngũ Hành, thứ nhất là Thủy, thứ hai là Hỏa, thứ ba là Mộc, thứ tư là Kim, thứ năm là Thổ).” Nguồn gốc của Ngũ Hành vốn phát xuất từ số của sách Hà Đồ (河圖), Lạc Thư (洛書); số 1, 6 là Thủy; 2, 7 là Hỏa; 3, 8 là Mộc; 4, 9 là Kim; 5, 10 là Thổ. Theo Hà Đồ, nếu xoay về bên trái thì tương sinh; theo Lạc Thư, nếu xoay về bên phải thì tương khắc. Như vậy Ngũ Hành tương khắc gồm có Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ Khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Ngũ Hành tương sinh là Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Năm yếu tố nầy có mối quan hệ mật thiết với các truyền thống văn hóa Trung Quốc khác như phương vị, thiên can, địa chi, màu sắc, thời tiết, v.v. Xin liệt kê theo thứ tự các yếu tố Ngũ Hành, Ngũ Tài (五材), Ngũ Sắc (五色, 5 màu sắc), Ngũ Phương (五方), Ngũ Quý (五季, 5 mùa), Ngũ Thời (五時), Ngũ Tiết (五節), Ngũ Tinh (五星, 5 ngôi sao), Ngũ Thanh (五聲, 5 loại tiếng), Ngũ Âm (五音, 5 loại âm), Ngũ Tạng (五臟), Ngũ Phủ (五腑), Ngũ Chí (五志, 5 loại cảm xúc), Ngũ Quan (五官, 5 giác quan), Ngũ Giác (五覺, 5 loại cảm giác), Ngũ Dịch (五液, 5 loại chất dịch), Ngũ Vị (五味, 5 loại mùi vị), Ngũ Xú (五臭), Ngũ Khí (五氣), Ngũ Vinh (五榮), Ngũ Thú (五獸, 5 loại thú thần thoại), Ngũ Súc (五畜, 5 loại súc vật), Ngũ Cốc (五穀), Ngũ Quả (五果), Ngũ Thái (五菜), Ngũ Thường (五常), Ngũ Chính (五政), Ngũ Ác (五惡), Ngũ Hóa (五化), Thiên Can (千干), Địa Chi (地支). Kim thường đi với Kim, màu xanh, phương Đông, mùa xuân, buổi sáng, Tân Niên, Mộc Tinh (木星), tiếng kêu gọi, Giác, gan, mật, bực tức, mắt, màu sắc, nước mắt, chất chua, mùi hôi (của cừu, nai, v.v.), gân, móng, Thanh Long (), con chó, lúa tẻ, trái Mận, rau Hẹ, Nhân, khoan dung, gió, sanh sản, Giáp và Ất, Dần và Mão. Hỏa đi với Hỏa, màu đỏ, phương Nam, mùa hè, giữa ngày, Thượng Tỵ (上巳, tiết hội của người Hán được tổ chức vào ngày Tỵ của thượng tuần tháng 3 Âm Lịch để cầu gió mát), Hỏa Tinh (火星), tiếng cười, Chưng, tim, ruột non, niềm vui, lưỡi, sự xúc chạm, mồ hôi, vị đắng, mùi khét, máu, mặt, Châu Tước (朱雀), con dê, thóc, trái Hạnh, rau Kiệu, Lễ, sự sáng suốt, sức nóng, sự trưởng thành, Bính và Đinh, Tỵ và Ngọ. Thổ đi với Thổ, màu vàng, phương giữa, giữa hè, xế chiều, Đoan Ngọ (端午, mồng 5 tháng 5 Âm Lịch), Thổ Tinh (土星), tiếng ca, Cung, lá lách, bụng, suy tư, miệng, mùi vị, nước dãi, vị ngọt, mùi hương thơm, thịt, môi, Hoàng Lân (黃麟) hay Đằng Xà (), con bò, lúa, trái Táo, rau Quỳ, sự cung kính, ẩm thấp, biến hóa, Mậu và Kỷ, Thìn, Mùi, Tuất và Sửu. Kim đi với Kim, màu trắng, phương Tây, mùa Thu, mặt trời lặn, Thất Tịch (七夕, mồng 7 tháng 7 Âm Lịch), Kim Tinh, tiếng khóc, Thương, phổi, ruột già, sự đau buồn, mũi, hương thơm, nước mũi, vị đắng, mùi tanh, hơi, lông, Bạch Hổ (白虎), con gà, gạo, trái Đào, rau Hành, Nghĩa, sức mạnh, khô ráo, thâu lại, Canh và Tân, Giáp và Dậu. Thủy đi với Thủy, màu đen, phương Bắc, mùa Đông, giữa đêm, Trùng Dương (重陽, mồng 9 tháng 9 Âm Lịch, còn gọi là Trùng Cửu [重九]), Thủy Tinh (水星), tiếng rên rỉ, quả thận, bàng quang, sự lo sợ, lỗ tai, âm thanh, nước bọt miếng, vị mặn, mùi thối mục, xương, tóc, Huyền Võ (玄武), lợn, đậu, hạt dẻ, lá dâu, Trí, sự tĩnh lặng, lạnh lẽo, che giấu, Nhâm và Quý, Hợi và Tý.
  2. Bạch Thố (白兔): thỏ trắng, xưa kia người ta xem con thỏ trắng là điềm báo trước cho hòa bình. Nó còn có nghĩa là mặt trăng, dựa trên truyền thuyết cho rằng trên mặt trăng có con thỏ trắng, đồng nghĩa với Ngọc Thố (, thỏ ngọc). Trong truyện cổ tích về Hằng Nga của Việt Nam, Bạch Thố là con Thỏ Ngọc Trắng giã thuốc tiên. Theo dân gian Việt Nam cũng cho rằng Bạch Thố là cái bóng trên mặt trăng, còn được gọi là Thiềm Thừ (蟾蜍, con cóc). Thơ Hồ Xuân Hương (khoảng cuối tk 18 và đầu tk 19) có câu rằng: “Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi, hởi chị Hằng Nga đã mấy con ?Trong bài thơ “Bả Tửu Vấn Nguyệt (把酒問月, Mượn Rượu Hỏi Trăng)” của thi hào Trung Quốc, Lý Bạch (李白, 701-762), cũng có đoạn rằng: “Bạch Thố đảo dược thu phục xuân, Thường Nga cô thê dữ thùy lân (白兔擣藥秋復春嫦娥孤棲與誰鄰, Thỏ Trắng giã thuốc thu lại xuân, Hằng Nga giường lẽ có ai thương ?)”. Trong dân gian lưu truyền nhiều truyền thuyết về Ngọc Thố như: (1) Trong cung trăng có một con thỏ ngọc màu trắng, đó chính là hóa thân của Thường Nga (嫦娥, tức Hằng Nga). Nhân sau khi Hằng Nga đùa giỡn với mặt trăng xong, xúc phạm đến Ngọc Đế, cho nên đày nàng biến thành con thỏ ngọc; cứ mỗi độ trăng tròn, thường ở tại cung trăng mà giã thuốc để trừng phạt. (2) Tương truyền có 3 vị thần tiên, hóa thân thành 3 lão già rất đáng thương, thường nhắm chồn cáo, khỉ và thỏ để xin ăn. Chồn cáo và khỉ thì lấy thức ăn tiếp tế cho mấy ông lão, chỉ có thỏ thì không cho mà còn đem thức ăn ném vào trong lửa nóng rồi bỏ đi. Nhân đó, chư vị thần tiên bèn bắt thỏ tống vào Quảng Hàn Cung (廣寒宮) và trở thành thỏ ngọc. Từ đó về sau, thỏ ngọc thường làm bạn với Hằng Nga ở Quảng Hàn Cung, chuyên giã chế thuốc trường sanh bất lão. (3) Xưa kia, có một con thỏ tu hành đã ngàn năm, đắc đạo thành tiên. Nó có 4 con thỏ cái rất dễ thương, mỗi con đều trắng tinh và lanh lợi. Một hôm nọ, Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝) cho mời con thỏ đực lên Thiên Cung. Chú thỏ liền từ bỏ vợ con, đạp mây bay lên Thiên Cung. Ngay khi mới đến Nam Thiên Môn, chú thỏ thấy Thái Bạch Kim Tinh cùng các tướng trời đang giải giáp Hằng Nga đi ngang qua. Thỏ tiên chẳng biết chuyện gì xảy ra, bèn hỏi vị thiên thần đang canh gác cổng trời. Nghe xong, thỏ tiên mới biết Hằng Nga bị tội oan, biết sức mình không làm gì được, lại thương cho Hằng Nga phải chịu cảnh cô đơn, lạnh lẽo trong cung trăng, chẳng có ai bầu bạn, rồi chợt nhớ đến vợ con mình, nên thỏ tiên liền bay trở về nhà. Thỏ tiên đem câu chuyện gặp Hằng Nga kể lại cho vợ thỏ nghe và khuyên nên đưa một đứa con lên làm bạn với Hằng Nga. Mặc dù được sự đồng tình của vợ thỏ, mấy thỏ con vẫn không chịu rời xa cha mẹ; nên con nào cũng khóc lóc thảm thiết. Thấy vậy, thỏ tiên bảo rằng: “Nếu như ta cô độc như vậy, các con có đến bầu bạn với ta chăng ? Hằng Nga đã vì bá tánh mà phải chịu lụy hình, chúng ta không biết cảm thương sao ? Nầy các con ! Chúng ta không nên chỉ nghĩ đến bản thân mình mà thôi.” Sau khi hiểu được tâm nguyện của cha, bầy thỏ con phát nguyện ra đi. Cả nhà quyết định nhường cho con thỏ nhỏ nhất ra đi. Từ đó, thỏ con lên cung trăng làm bạn hằng ngày với Hằng Nga. (4) Có thuyết khác cho rằng thỏ ngọc là Hậu Nghệ (羿). Nhân khi Hằng Nga chơi với mặt trăng, lại nhớ đến Hậu Nghệ; thấy Hậu Nghệ tình nguyện biến thành một con động vật rất dễ thương là thọ ngọc để làm cho nàng được vui; nhưng tiếc thay Hằng Nga vẫn không biết chính con thỏ ngọc là Hậu Nghệ mà ngày đêm mình thương nhớ. Trong Nghĩ Thiên Vấn (天問) của Phó Huyền () nhà Tấn có câu: “Nguyệt trung hà hữu, bạch thố đảo dược (月中何有、白兔擣藥, trong trăng có gì, thỏ trắng giã thuốc)”. Thuyết cho rằng “có thỏ ngọc” đã được lưu truyền trong dân gian từ lâu. Cho nên, xưa kia, cứ mỗi dịp tháng 8 Trung Thu, trên các đường phố đều có bán các đồ chơi như “ông thỏ con (兒爺)”, “thỏ ngọc giã thuốc (兔擣藥)”, “thố sơn ()”, v.v. Trong dân gian vẫn thường dùng từ “bạch thố xích ô (白兔赤烏, thỏ trắng quạ đỏ)” để ví dụ cho thời gian trôi qua rất nhanh. Như trong bài thơ Khuyến Tửu Thi (勸酒詩) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu: “Thiên địa điều diêu tự trường cửu, bạch thố xích ô tương sấn tẩu (天地迢遙自長久白兔赤烏相趁走, trời đất xa xăm vốn dài lâu, thời gian thấm thoắt trôi qua mau).” Từ “Kim Ô Ngọc Thố (金烏玉兔, Quạ Vàng Thỏ Ngọc)” thường đi đôi với nhau để chỉ cho mặt trời và mặt trăng, hay chỉ thời gian nói chung. Như trong bài cúng hương linh thường dùng trong Thiền môn có câu: “Kim Ô tợ tiễn, Ngọc Thố như thoan, tưởng cốt nhục dĩ phân ly, đỗ âm dung nhi hà tại (金烏似箭玉兔如梭想骨肉以分離睹音容而何在, Quạ Vàng tên bắn, Thỏ Ngọc thoi đưa, nhớ cốt nhục vừa phân ly, nhìn bóng hình đâu còn nữa).”
  3. Kim Tinh (金精): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho khí ở phương Tây, như trong Văn Tuyển (文選), phần Di Hành (彌衡) có câu: “Thể Kim Tinh chi diệu chất hề, hợp Hỏa Đức chi minh huy (體金精之妙質兮合火德之明輝, thể Kim Tinh là chất mầu chừ, cùng với ánh sáng của Hỏa Đức).” Lý Thiện (李善) chú rằng: “Tây phương vi Kim, mao hữu bạch giả, cố viết Kim Tinh (西方毛有白者故曰金精, phương Tây là Kim, lông có màu trắng, nên gọi là Kim Tinh).” (2) Chỉ nước Tần, như trong bài Cao Tổ Tứ Thủy Đình Bi Minh (高祖泗水亭碑銘) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán, có câu: “Dương uy trảm xà, Kim Tinh tồi thương (揚威斬蛇金精摧傷, dương oai chém rắn, nước Tần hết thương).” (3) Chỉ cho sao Thái Bạch (太白), như trong bài Ai Giang Nam Phú (哀江南賦) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu có câu: “Địa tắc thạch cổ sơn minh, thiên tắc Kim Tinh động tú (地則石鼓山鳴天則金精動宿, đất ắt trống đá núi vang, trời tất Thái Bạch chuyển sao).” (4) Tên một loại thuốc tiên trong truyền thuyết của Đạo Giáo, như trong bài thơ Nhập Cổ Lãi Kinh Tùng Môn Quán Thạch Kính Miến Hoài Tạ Khang Lạc (入彭蠡經松門觀石鏡緬懷謝康樂) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Thủy Bích hoặc khả thái, Kim Tinh bí mạc luận (水碧或可采金精秘莫論, Ngọc Bích còn lấy được, Kim Tinh chớ luận bàn).” (5) Chỉ mặt trăng (nghĩa trong bài), như trong Sơ Học Ký (初學記) có dẫn phần Hà Đồ Đế Lãm Hi (河圖帝覽嬉) câu: “Nguyệt giả, Kim chi tinh dã (月者金之精也, mặt trăng là Kim Tinh).” Hay như trong Lữ Bạc Đồ Giang (旅泊塗江) của Trần Đào (陳陶, khoảng 812-885) cũng có câu: “Đoạn sa nhạn khởi Kim Tinh xuất, cô lãnh viên sầu mộc khách quy (斷沙雁起金精出孤嶺猿愁木客歸, cát sụt nhạn biến mặt trăng hiện, đỉnh non vượn sầu dã nhân về).” (6) Tên gọi khác của Cam Cúc (甘菊, tức Thu Cúc), như trong bài Tiểu Viên Phú (小園賦) của Dữu Tín thời Bắc Chu có câu: “Vân khí ấm vu tùng thi, Kim Tinh dưỡng vu Thu Cúc (雲氣蔭于叢蓍金精養于秋菊, khí mây che rợp bụi lá, Kim Tinh dưỡng nơi Thu Cúc).” Nghê Phan (倪璠, ?-?) nhà Thanh chú dẫn trong Ngọc Hàm Phương (玉函方) rằng: “Cam Cúc, cửu nguyệt thượng Dần nhật thái, danh viết Kim Tinh (甘菊九月上寅日採名曰金精, Cam Cúc, hái vào ngày Dần đầu tháng 9, tên gọi là Kim Tinh).”
  4. Mộc Tinh (木精): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tuế Tinh (歲星), như trong Hậu Hán Thư (後漢書), Truyện Tương Hài (襄楷傳) có câu: “Kim niên Tuế Tinh cửu thủ Thái Vi, nghịch hành Tây chí Dịch Môn, hoàn thiết Chấp Pháp; Tuế vi Mộc Tinh, háo sanh ác sát, nhi yêm lưu bất khứ giả, cữu tại nhân đức bất tu, tru phạt thái khốc (今年歲星久守太微逆行西至掖門還切執法歲爲木精好生惡殺而淹留不去者咎在仁德不修誅罰太酷, năm nay Tuế Tinh giữ lâu nơi Thái Vi, đi ngược về phía Tây đến Dịch Môn, rồi trở lại đi ngang qua sao Chấp Pháp; Tuế là Mộc Tinh, thích giết vật sống, mà lại ở lâu không đi, cũng tại không tu nhân đức, giết phạt rất khốc liệt).” (2) Linh hồn của cây cối (nghĩa trong bài), đồng nghĩa với Mộc Linh (), như trong Thuật Dị Ký (述异記) của Nhiệm Phưởng (任昉, 460-508) nhà Lương thời Nam Triều, có câu: “Thiên niên mộc tinh vi thanh ngưu (千年木精青牛, linh hồn cây cối ngàn năm biến thành con trâu xanh).” (3) Con Lân, như trong Cổ Vi Thư (古微書), phần Xuân Thu Diễn Khổng Đồ (春秋演孔圖) có câu: “Lân, mộc chi tinh dã (木之精也, con Lân là linh hồn của cây cối).” Tống Quân (宋均, ?-?) nhà Ngụy (, 220-266) thời Tam Quốc chú giải rằng: “Lân, mộc tinh, mộc sanh vu thủy cố viết âm, mộc khí hảo thổ, thổ hoàng mộc thanh, cố Lân sắc thanh hoàng (木精木生于水故曰陰木氣好土土黃木青故麟色青黃, Lân là linh hồn cây cối; cây cối sanh nơi nước nên gọi là âm; khí cây cối thích đất; đất màu vàng, cây màu xanh, cho nên màu con Lân là xanh vàng).”
  5. Thủy Cung (水宮): cung điện thần thoại ở trong nước, hay ngôi điện vũ bên nước. Như trong Tập Dị Ký (集異記), phần Tương Sâm (蔣琛) của Tiết Dụng Nhược (薛用弱, ?-?) nhà Đường có câu: “Hành Điện thu vị vãn, Thủy Cung phong sơ lương (行殿秋未晚水宮風初涼, Hành Điện thu chưa muộn, Thủy Cung gió mát tươi).” Hay trong bài thơ Đề Tào Nga Miếu Bích (題曹娥廟壁) của Dương Trác (楊焯, ?-?) nhà Minh lại có câu: “Hán An niên đại việt Giang Đông, giang thượng linh kỳ ánh Thủy Cung (漢安年代越江東江上靈旗映水宮, niên đại Hán An vượt Giang Đông, trên sông cờ xí hiện Thủy Cung).” Trong truyền thuyết dân gian Việt Nam có câu chuyện Công Chúa Thủy Cung cũng khá lý thú. Chuyện kể rằng ngày xưa, có một nàng công chúa xinh đẹp con của vua Thuỷ Tề, một hôm hóa thành con cá bơi ngược dòng sông để du ngoạn. Chẳng may, cá mắc phải lưới của một người thuyền chài, cá công chúa bị bắt, thả vào gầm thuyền, bị đói cả ngày không có gì ăn. May có người con trai ông thuyền chài ngồi ăn, làm rớt cơm xuống, cá công chúa mới khỏi chết đói. Trông thấy cô cái xinh đẹp, người con trai chủ thuyền bắt lên chơi, rồi anh tuột tay làm rơi cá xuống sông. Nhờ vậy, công chúa được trở về Thủy Cung an toàn. Tuy nhiên, từ ngày trở về cung điện, nàng đâm ra tương tư, nhớ đến người con trai ở trần gian đã vô tình cứu mình. Công chúa sinh ốm bệnh tương tư. Vua cha là Thủy Vương hỏi duyên cớ, nàng thật tình thưa lại đầu đuôi câu chuyện, rồi xin phép vua cha đội lốt làm người lên ở trên mặt đất để kết duyên vợ chồng cùng chàng trai nọ. Lúc bấy giờ, chàng trai đang ở Hang Non Nước, thuộc Tỉnh Ninh Bình ngày nay. Sau khi cha mẹ đã qua đời, chàng ngày ngày đi câu cá để kiếm sống. Một hôm, nàng công chúa Thủy Cung tìm đến gặp, làm quen, rồi hai bên lấy nhau thành vợ chồng. Tuy họ sống trong cảnh nghèo túng, nhưng rất hạnh phúc và hết sức thương yêu nhau. Chàng và nàng sống giữa hòn đảo Non Nước vắng vẻ, cách biệt đời sống dân gian. Vợ chồng có tình duyên đằm thắm, cho đến một ngày kia, nàng đưa chồng cùng về thăm Thuỷ Cung. Từ đó trở đi, không còn ai thấy bóng dáng hai người nữa. Dân gian ngày nay có truyền câu ca dao: “Chung quanh những chị em người, giữa Hòn Non Nước mình tôi với chàng” để nhắc đến mối tình hi hữu của nàng công chúa, con của Thần Nước, với anh chàng đánh cá ở miền Bắc Việt Nam.
  6. Mậu Kỷ (): tên gọi 2 can trong 10 can (Giáp [], Ất [], Bính [], Đinh [], Mậu [], Kỷ [], Canh [], Tân [], Nhâm [], Quý []). Mậu () ở vị trí thứ 5, Kỷ () ở vị trí thứ 6; trong Ngũ Hành hai can nầy thuộc về Thổ; về phương hướng chúng ở vị trí trung ương; về thời khắc thì trước giờ ngọ 4 tiếng, hay trước sau giờ ngọ hai tiếng. Cho nên, Mậu Kỷ là tên gọi khác của Thổ. Như trong bài Tư Vô Tà Trai Tán (思無邪齋贊) của Tô Thức (蘇軾, 1036-1101) nhà Tống có câu: “Bồi dĩ Mậu Kỷ, canh dĩ Xích Xà (培以戊己耕以赤蛇, bồi thêm đất tốt, canh nơi rắn đỏ).” Theo tín ngưỡng của Đạo Mẫu, Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan (中央戊己土德黃虎神官) còn là tên gọi của một trong 5 vị quan Ngũ Hổ. Trong Tế Công Thiền Sư Độ Thế Diệu Pháp Kinh (濟公禪師度世妙法經) của Đạo Giáo có câu: “Đông phương Giáp Ất Mộc, nhân chi dức dã; Nam phương Bính Đinh Hỏa, lễ chi đức dã; trung ương Mậu Kỷ Thổ, tín chi đức dã; Tây phương Canh Tân Kim, nghĩa chi đức dã; Bắc phương Nhâm Quý Thủy, trí chi đức dã (東方甲乙木、仁之德也、南方丙丁火、禮之德也、中央戊己土、信之德也、西方庚辛金、義之德也、北方壬癸水智之德也, phương Đông là Giáp Ất thuộc về Mộc, là đức của lòng nhân; phương Nam là Bính Đinh thuộc về Hỏa, là đức của lễ; ở trung ương là Mậu Kỷ thuộc về Thổ, là đức của niềm tin; phương Tây là Canh Tân thuộc về Kim, là đức của nghĩa; phương Bắc là Nhâm Quý thuộc về Thủy, là đức của trí).”
  7. Tứ thần (四辰): đồng nghĩa với tứ thời (四時) nghĩa là sáng, trưa, chiều và tối (nghĩa trong bài); hay nó còn có nghĩa là bốn mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông. Như trong Tấn Cố Dự Chương Nội Sử Hạ Phủ Quân Lụy (晉故豫章內史夏府君誄) của Lục Vân (陸雲, 262-303) nhà Tấn có câu: “Hàn thử cùng hóa, Tứ Thần giao thác (寒暑窮化四辰交錯, lạnh nóng đến cùng, Bốn Thời sai khác).”

Bát Tiết (八節): tám tiết chính trong một năm, gồm tiết Xuân (, đầu năm), tiết Nguyên Tiêu (元霄, tức Thượng Nguyên [上元], nhằm đêm rằm tháng Giêng âm lịch, còn gọi là Nguyên Tịch [元夕], Nguyên Dạ [元夜]), tiết Thanh Minh (清明, vào tháng 3 âm lịch, nhằm ngày 5, 6 tháng 4 dương lịch), tiết Đoan Ngọ (端午, vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, còn gọi là Đoan Ngũ [端五], Đoan Dương [端陽], Trùng Ngũ [重五]), tiết Quỷ (, tức Trung Nguyên [中元], vào ngày rằm tháng 7 âm lịch), tiết Trung Thu (中秋, vào ngày rằm tháng 8), tiết Trùng Dương (重陽, vào ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, còn gọi là Trùng Cửu [重九]), tiết Hạ Nguyên (下元, vào ngày rằm tháng 10 âm lịch), tiết Lạp (, tiết cuối năm vào tháng 12 âm lịch). Cũng có thuyết khác cho rằng Bát Tiết là Lập Xuân (立春), Lập Hạ (立夏), Lập Thu (立秋), Lập Đông (立冬), Xuân Phân (春分), Hạ Chí (夏至), Thu Phân (秋分) và Đông Chí (冬至). Như trong Chu Bễ Toán Kinh (周髀算經) quyển hạ có đoạn: “Phàm vi Bát Tiết Nhị Thập Tứ Khí (凡爲八節二十四氣, phàm là Tám Tiết, Hai Mươi Bốn Khí).” Hay trong Hàn Sơn Thi (寒山詩) cũng có câu: “Tứ Thời chu biến dị, Bát Tiết cấp như lưu (四時周變易八節急如流, Bốn Thời xoay đổi khác, Tám Tiết nhanh nước chảy).” Hoặc như trong Tây Du Ký (四游記), phần Hoa Quang Lai Thiên Điền Quốc Hiển Linh (華光來千田國顯靈) có câu: “Hữu Tứ Thời bất tạ chi hoa, Bát Tiết trường xuân chi cảnh (有四時不謝之花八節長春之景, có Bốn Thời hoa chẳng rụng, Tám Tiết cảnh sắc trường xuân).”