35. Sớ Cúng Vợ I

(Tam Minh Hiển Đạt)

 

Nguyên văn:

 

伏以

三明顯達、能消煩惱稠林、六度圓修、方到菩提覺岸、度生莫測、故開方便之門、愍物無窮、特啟歸原之路。疏爲越南國...省...縣[]...社...村、家堂奉

修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干

大覺能仁、俯垂炤鑒。

奉爲...之香靈。仝承

佛法以弘深、全賴經文而解脫。竊念、天倫配合、永爲家室之歡、月下婚書、巳定和諧之好、瑤琴絲斷、今生憂感之懷、臼夢成、從有鼓盆之嘆、

彌陀垂降、能超中道之人、法寶開函、不入下凡之地。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏

南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。

南無接引導師阿彌陀佛作大證明。

南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。

南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、莊嚴果德、登究竟之階、灌漑仁花、移到圓常之道、珠纓寶君、隨坐樓臺池閣、金沙用子、逍遙寶所。仰賴

佛恩證明之不可思議也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Tam Minh1 hiển đạt, năng tiêu phiền não trù lâm; Lục Độ2 viên tu, phương đáo Bồ Đề giác ngạn; độ sanh mạc trắc, cố khai phương tiện chi môn; mẫn vật vô cùng, đặc khải quy nguyên chi lộ. Sớ vị:

Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái Can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.

Phụng vị … chi hương linh.

Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.

Thiết niệm: Thiên luân phối hợp, vĩnh vi gia thất chi hoan; nguyệt hạ3 hôn thư,4 dĩ định hòa hài chi hảo; dao cầm ty đoạn, kim sanh ưu cảm chi hoài; xuy cữu mộng5 thành, tùng hữu cổ bồn6 chi thán; Di Đà thùy giáng, năng siêu Trung Đạo chi nhân; pháp bảo khai hàm, bất nhập hạ phàm chi địa. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.

Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.

Phục nguyện: Trang nghiêm quả đức, trực đăng cứu cánh chi giai; quán khái nhân hoa, di đáo viên thường chi đạo; châu anh7 bảo quân, tùy an tọa lâu đài trì các; kim sa8 dụng tử, tiêu dao bảo sở. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.

Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

  1. Minh chứng đạt, làm tiêu phiền não rừng sâu; Sáu Độ tròn tu, mới đến Bồ Đề bờ giác; độ sanh vô tận, nên bày phương tiện cửa huyền; thương vật vô cùng, riêng mở về nguồn đường lớn.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:

Hương linh ...

Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.

Xót nghĩ: Duyên trời phối hợp, mãi tròn gia thất hân hoan; Nguyệt Lão xe tơ, đã định hòa giai điềm tốt; dây đàn đứt đoạn, một đời ưu cảm u hoài; mộng đốt cối thành, ấy cũng niềm đau mất vợ; Di Đà thương xót, cứu người Trung Đạo siêu luân; pháp báu mở tung, chẳng vào hạ phàm bao cõi. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:

Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.

Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.

Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.

Lại nguyện: Trang nghiêm đức lớn, thẳng lên cứu cánh thềm cao; rưới đượm hoa từ, chuyển đến viên thường đạo cả; trân quý vợ hiền, lên ngồi lâu đài gác tía; người dùng vàng cát, tiêu dao chốn báu. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Tam Minh (s: tri-vidya, j: ti-vijjā, 三明): còn gọi là Tam Đạt (三達), Tam Chứng Pháp (三證法); nghĩa là trí tuệ thông đạt vô ngại khi đạt đến quả vị vô học, trừ hết các ngu ám, gồm: (1) Túc Mạng Trí Chứng Minh (s: pūrva-nivāsānusmti-jñāna-sākāt-kriya-vidyā, 宿命智證明), hay Túc Trú Tùy Niệm Trí Tác Chứng Minh (宿住隨念智作證明), Túc Trú Trí Chứng Minh (宿住智證明), Túc Trú Trí Minh (宿住智明), Túc Mạng Minh (宿命明), Túc Mạng Trí (宿命智); tức trí tuệ liễu tri rõ ràng tướng trạng một đời cho đến trăm ngàn vạn ức đời sống của mình và của các chúng sanh khác. (2) Sanh Tử Trí Chứng Minh (s: cyuty-upapatti-jñāna-sākāt-kriya-vidyā, 生死智證明), hay Tử Sanh Trí Chứng Minh (死生智證明), Thiên Nhãn Minh (天眼明), Thiên Nhãn Trí (天眼智), tức trí tuệ liễu tri được tướng trạng lúc sống, lúc chết, sắc thiện, sắc ác, hoặc do tà pháp nhân duyên mà thành tựu hạnh ác, đến khi mạng chung thì sanh vào đường ác; hay nhờ chánh nhân mà thành tựu hạnh lành, khi mạng chung được sanh vào đường lành, v.v. (3) Lậu Tận Trí Chứng Minh (s: āsrava-kṣaya-jñāna-sākāt-kriya-vidyā, 漏盡智證明), hay Lậu Tận Trí Minh (漏盡智明), Lậu Tận Minh (漏盡明), Lậu Tận Trí (漏盡智), tức chỉ cho trí tuệ liễu tri như thật sự chứng đắc lý Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), giải thoát lậu tâm, diệt trừ hết thảy phiền não, v.v. Hơn nữa, theo Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論) quyển 102, Túc Mạng Minh thấy việc quá khứ mà sanh tâm xa lìa; Thiên Nhãn Minh thấy việc tương lai mà sanh tâm xa lìa; Lậu Tận Minh vốn đã xa lìa tất cả việc quá khứ và tương lai mà còn vui vẻ với Niết Bàn. Ngoài ra, Túc Mạng Minh có thể đoạn trừ Thường Kiến, Thiên Nhãn Minh đoạn trừ Đoạn Kiến, Lậu Tận Minh xa lìa cả hai bên Thường Kiến cũng như Đoạn Kiến, mà an trú trong Trung Đạo. Câu “Tam Minh hiển đạt, năng tiêu phiền não trù lâm (三明顯達、能消煩惱稠林)” có nghĩa là khi chứng đạt Tam Minh thì có thể làm cho tiêu trừ khu rừng rậm phiền não.
  2. Lục Độ (s: ṣaḍ-pāramitā, aṭ-pāramitā, 六度): tức Lục Ba La Mật (六波羅蜜), Lục Ba La Mật Đa (六波羅蜜), Lục Độ Ba La Mật (六度波羅蜜), còn gọi là Lục Độ Vô Cực (六度無極), Lục Đáo Bỉ Ngạn (六到彼岸). Ba La Mật (s, p: pāramitā, 波羅蜜) dịch là Độ (), nghĩa là đáo bỉ ngạn (到彼岸, đến bờ bên kia), tức là đạt thành, hoàn thành lý tưởng. Đây là 6 pháp tu hành thật tiễn để thành Phật đạo của vị Bồ Tát, được giải thích rất rõ trong Phật Thuyết Bồ Tát Nội Tập Lục Ba La Mật Kinh (菩薩習六波羅蜜經, Taishō No. 778), gồm: (1) Bố Thí Ba La Mật (s, p: dāna-pāramitā, 布施波羅蜜), còn gọi là Thí Ba La Mật (施波羅蜜), Đàn Ba La Mật (檀波羅蜜), Đàn Na Ba La Mật (檀那波羅蜜), Bố Thí Độ Vô Cực (布施度無極); có 3 loại bố thí là Tài Thí (財施, bố thí về tiền tài, vật chất), Pháp Thí (法施, bố thí lời dạy, giáo lý để tu tập và đạt được chân lý) và Vô Úy Thí (無畏施, bố thí sự không sợ hãi, giúp cho mọi người an tâm), để đối trị với sự tham lam, keo kiệt và tiêu trừ sự bần cùng. (2) Trì Giới Ba La Mật (s: śīla, p: sīla, 持戒波羅蜜), còn gọi là Giới Ba La Mật (波羅蜜), Thi La Ba La Mật (尸羅波羅蜜), Giới Độ Vô Cực (度無極); giữ gìn giới luật đã lãnh thọ, thường tự tỉnh thức, có thể đối trị ác nghiệp, khiến cho thân tâm thanh tịnh. (3) Nhẫn Nhục Ba La Mật (s: kānti-pāramitā, p: khantī-pāramitā, 忍辱波羅蜜), hay Nhẫn Ba La Mật (波羅蜜), Sàn Đề Ba La Mật (孱提波羅蜜), Nhẫn Nhục Độ Vô Cực (忍辱度無極); nghĩa là nhẫn nại, chịu đựng các sự bức hại, đối trị sân hận, nóng nảy, giúp cho tâm an trú. (4) Tinh Tấn Ba La Mật (s: vīrya-pāramitā, p: virya-pāramitā, 精進波羅蜜), hay Tấn Ba La Mật (進波羅蜜), Tỳ Lê Da Ba La Mật (毘梨耶波羅蜜), Tinh Tấn Độ Vô Cực (精進度無極), nổ lực tinh tấn tiến lên, bất khuất, không thối chí; giúp đối trị sự lười biếng, sinh trưởng các pháp lành. (5) Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜), hay Thiền Ba La Mật (波羅蜜), Thiền Na Ba La Mật (禪那波羅蜜), Thiền Độ Vô Cực (度無極); nghĩa là tu tập Thiền định, có thể đối trị sự loạn tâm, giúp cho tâm được an định. (6) Trí Tuệ Ba La Mật (s: prajñā-pāramitā, p: paññā-pāramitā, 智慧波羅蜜), hay Tuệ Ba La Mật (波羅蜜), Bát Nhã Ba La Mật (般若波羅蜜), Minh Độ Vô Cực (明度無極). Sáu pháp nầy được thuyết đầu tiên trong kinh Bát Nhã và một số kinh điển Đại Thừa khác và được xem như là hạnh lý tưởng của Phật Giáo Đại Thừa. Đặc biệt, căn bản của các hạnh nầy có trong Bát Nhã Ba La Mật, và hạnh từ bi vốn căn cứ trên cở sở của Bát Nhã là nội dung của Lục Độ. Trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論) có đoạn: “Lục Ba La Mật giả, tức tịnh Lục Căn dã; Hồ danh Ba La Mật, Hán danh Đạt Bỉ Ngạn, dĩ Lục Căn thanh tịnh, bất nhiễm Lục Trần, tức thị độ phiền não hà, chí Bồ Đề ngạn, cố danh Lục Ba La Mật (六波羅蜜者卽淨六根也胡名波羅蜜漢名達彼岸以六根清淨不染六塵卽是度煩惱河至菩提岸故名六波羅蜜, Sáu Ba La Mật tức là làm trong sạch Sáu Căn; người Hồ [Ấn Độ] gọi là Ba La Mật, người Hán [Trung Quốc] gọi là đạt đến bờ bên kia; vì Sáu Căn trong sạch, không nhiễm Sáu Trần, tức là qua được sông phiền não, đến bờ Bồ Đề; cho nên có tên là Sáu Ba La Mật).” Hay như trong Duy Tâm Tập (唯心集, CBETA No. 1208) có đoạn: “Nhất cú A Di Đà, vạn thiện đồng đăng; nhất cú A Di Đà, Lục Độ tề hành; nhất cú A Di Đà, tịnh uế trừng thanh; nhất cú A Di Đà, Đông Tây hợp tinh; nhất cú A Di Đà, bao quát cổ kim; nhất cú A Di Đà, hàm cái càn khôn; nhất cú A Di Đà, chứng nhập vô sanh (一句阿彌陀萬善同登一句阿彌陀六度齊行一句阿彌陀淨穢澄清一句阿彌陀東西合并一句阿彌陀包括古今一句阿彌陀函蓋乾坤一句阿彌陀證入無生, một câu A Di Đà, vạn thiện cùng lên; một câu A Di Đà, Lục Độ cùng hành; một câu A Di Đà, sạch nhớp lắng trong; một câu A Di Đà, Đông Tây hợp lại; một câu A Di Đà, bao quát cổ kim; một câu A Di Đà, trùm khắp càn khôn; một câu A Di Đà, chứng vào vô sanh).”
  3. Nguyệt hạ (月下): dưới trăng; bên cạnh đó, nó còn là tên gọi của Nguyệt Hạ Lão Nhân (月下老人), Nguyệt Lão Công (月老公), Nguyệt Lão (月老), là vị thần chuyên quản lý việc hôn nhân trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc. Căn cứ tác phẩm Phù Sanh Lục Ký (浮生六記) của Trầm Phục (沈复, 1763-1825) nhà Thanh có giải thích rằng: “Nhất thủ hoán hồng ty, nhất thủ huề trượng huyền hôn nhân bộ, đồng nhan hạc phát (一手挽紅絲一手攜杖懸婚姻簿童顏鶴髮, ông lão một tay kéo sợi tơ hồng, một tay cầm gậy treo sổ hôn nhân, khuôn mặt trẻ con, tóc hạc).” Trong Tục U Quái Lục (續幽怪錄), phần Định Hôn Điếm (定婚店) của Lý Phục Ngôn (李復言, ?-?) nhà Đường sáng tác có ghi rõ truyền thuyết cho rằng vào năm đầu (627) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), dưới thời vua Đường Thái Tông (唐太宗), có một người tên Vi Cố (韋固), lúc nhỏ đã để tang cả song thân, lớn lên đi khắp nơi để cầu hôn mà chẳng nơi nào thành công cả. Một hôm nọ, chàng ta đến thành nhà Tống, tá túc trong một quán nọ. Người khách cùng ở trọ giới thiệu chàng với tiểu thư của quan Tư Mã Phan Phòng (司馬潘防), tiền nhiệm vùng Thanh Hà (清河). Sáng sớm hôm sau, Vi Cố đến trước cổng Long Hưng Tự (龍興寺) ở phía tây quán trọ, chí thành cầu nguyện cho việc hôn nhân được thành tựu. Đến tối, khi trăng lên, chợt thấy một lão già mang cái túi sau lưng, ngồi trên tầng cấp cổng chùa, đang đọc văn thư dưới ánh trăng. Thoáng nhìn qua, những dòng chữ trên quyển sách ấy rất kỳ lạ, không đọc ra được. Động tính hiếu kỳ, Vi Cố buột miệng hỏi: “Ông lão đang đọc loại sách gì vậy ? Lúc nhỏ tôi đã từng khổ công học khá nhiều, vậy mà nay chẳng đọc được dòng chữ trên sách đó, cũng chẳng phải là tiếng Phạn của Thiên Trúc (天竺), và sách nầy xưa nay chưa từng thấy qua.” Lão già cười bảo: “Đây chẳng phải là sách của thế gian đâu, làm sao ngươi có cơ hội xem qua được chứ ?” Vi Cố hỏi tiếp: “Thế thì đó là sách gì ?” Lão già đáp: “Sách của cõi U Minh.” Vi Cố lại hỏi: “Người của cõi U Minh làm sao mà gặp được tôi chứ ?” Đáp: “Các quan lại của cõi nầy mỗi người chủ quản mỗi công việc của nhân gian, cho nên thường lui tới nhân gian.” Lại hỏi: “Lão ông chủ quản việc gì ?” Đáp: “Hồ sơ hôn nhân của con người trong thiên hạ.” Nghe vậy, Vi Cố rất mừng rỡ, thưa rằng: “Tôi Vi Cố, cô thân một mình, mong sao sớm được lập gia thất, sanh con nối dõi tông đường; nhưng trong mười năm qua, đã cầu hôn ở nhiều nơi mà vẫn chưa thành công. Hôm nay, có người hẹn với tôi đến thương nghị với tiểu thư của Phan Tư Mã để cầu hôn, liệu việc có thành công chăng ?” Lão ông đáp: “Nay cơ duyên vẫn chưa đến. Vợ ngươi nay chỉ mới ba tuổi, cần phải mười bảy tuổi mới có thể lập gia thất được.” Nghe vậy, Vi Cố hoàn toàn thất vọng, nhân đó hỏi thêm rằng: “Thế thì, trong cái túi ông lão mang trên lưng có gì vậy ?” Đáp: “Tơ hồng, dùng để cột chân nam nữ thành vợ chồng. Chỉ cần một sợi tơ hồng nầy thôi, không ai có thể trốn thoát được.” Lại hỏi: “Vậy tôi có thể biết được người vợ tương lai của tôi thế nào không ?” Đáp: “Là con gái của bà lão bán rau họ Trần ở phía bắc quán trọ.” Lại hỏi: “Có thể gặp được không ?” Đáp: “Bà ấy thường bế con theo bán rau, ngươi chạy theo ta, ta sẽ chỉ cho thấy.” Nói xong, lão già xếp sách bỏ vào túi cất bước chạy; Vi Cố hối hả chạy theo sau. Khi đến chợ rau, Vi Cố trông thấy bà cụ mù một mắt, trên tay ẵm một đứa con gái khoảng 3 tuổi; tuy nhiên hình dạng đứa bé rất khó thấy. Lão già chỉ đứa bé nói: “Đó là vợ tương lai của ngươi.” Thoáng thấy, Vi Cố tức giận bảo: “Tôi phải giết nó !” Ông lão nói: “Trong mạng người nầy có quyết định thọ hưởng tước lộc, lại còn nương vào tài năng nhà ngươi mà được phong làm quan huyện, làm sao ngươi có thể giết được chứ ?” Nói xong, ông lão biến mất. Vi Cố trở về quán trọ, mài con dao nhỏ, đem giao cho người hầu, bảo: “Nếu ngươi thay ta giết đứa bé kia, ta sẽ thưởng cho một vạn tiền.” Tên nô bộc nhận lời ngay. Sáng hôm sau, tên nô bộc giả dạng đến chợ bán rau, dùng dao nhỏ đâm đứa bé và trở về báo cho Vi Cố sự việc hoàn tất. Từ đó, chàng thanh niên nầy tiếp tục tha phương cầu hôn khắp nơi, nhưng cũng không hề thành công. Mười bốn năm sau, nhân vì triều đình tưởng nhớ đến công đức của phụ thân Vi Cố, phong cho anh làm Tham Quân (參軍) vùng Tương Châu (相州). Sắc Sứ Vương Thái (王泰) biết chàng có tài năng, nhường cho trông coi quản lý hình ngục, đem con gái gả cho. Tiểu thư họ Vương khoảng 17 tuổi, dung mạo rất xinh đẹp, làm cho Vi Cố hài lòng khôn xiết. Chỉ có một điều là trên lông mi của nàng ta thường gắn cái kẹp hoa, ngay cả khi tắm rửa cũng không hề tháo ra. Cưới nhau được ba năm, Vi Cố cũng đã ba lần hỏi nguyên do vì sao mang kẹp hoa như vậy, phu nhân đều thương tâm rơi lệ giải thích rằng: “Thiếp chỉ là con nuôi của Sắc Sứ thôi, chẳng phải là con ruột. Xưa kia, phụ thân thiếp từng làm Huyện Lịnh của thành nhà Tống, sau đó qua đời trong khi thiếp đang còn ẵm trên tay. Mẹ cũng như anh thiếp cũng thay nhau từ trần. Nơi phía nam thành có một trang điền, chủ nhân là bà họ Trần, xót thương đem thiếp về nuôi. Quán trọ gần bên trang điền ấy, ngày nào bà cụ cũng đi bán rau kiếm sống qua ngày. Thấy thiếp đang còn nhỏ, không thể bỏ một mình ở nhà, nên thường ẵm thiếp ra chợ rau. Có hôm nọ, bỗng nhiên có tên tặc tử điên khùng, dùng dao đâm thiếp và vết thương đến nay vẫn còn. Cho nên, thiếp thường đeo kẹp hoa để che vết thương ấy. Khoảng bảy, tám năm trước, thúc thúc đến làm quan vùng phụ cận nầy, thiếp theo người cho đến bây giờ.” Vi Cố hỏi: “Bà họ Trần có phải mù một mắt không ?” Phu nhân đáp: “Đúng vậy !” Nhân đó, Vi Cố thuật lại toàn bộ câu chuyện năm xưa cho vợ nghe; cả hai lại càng thương yêu, kính mến nhau. Về sau, họ sanh hạ được con trai tên Vi Côn (韋鯤), Vi Cố được phong làm Thái Thú (太守) trấn thủ biên cương Nhạn Môn (雁門) và cô gái họ Vương được phong là “Thái Nguyên Quận Thái Phu Nhân (太原郡太夫人).” Từ đó, tín ngưỡng về Nguyệt Lão rất thịnh hành ở Trung Quốc, ở bất cứ địa phương nào cũng đều có đền thờ vị thần hôn nhân nầy. Trong Hồng Lâu Mộng (紅樓夢), hồi thứ 57 của Tào Tuyết Cần (曹雪芹, 1715?-1763?) nhà Thanh có câu: “Nhược thị Nguyệt Hạ Lão Nhân bất dụng hồng tuyến thuyên đích, tái bất năng đáo nhất xứ (若是月下老人不用紅線拴的再不能到一處, nếu như ông già dưới trăng không dùng giây tơ buộc lại, lại không thể đến một nơi được).” Việt Nam chúng ta có từ “Ông Tơ Bà Nguyệt” cũng xuất phát từ truyền thuyết kể trên. Như trong bài văn khấn cầu hôn có câu: “Con lạy bà Nguyệt ông Tơ, con lạy Hoàng Bảy Hoàng Bơ Hoàng Mười, tuổi con nay đã cao rồi, mà không tìm được một người kết duyên, tâm tư mang nặng ưu phiền, lòng con buồn tủi triền miên tháng ngày, con còn lầm lỗi chi đây, cúi xin Nguyệt Lão từ đây độ trì, tơ hồng lưỡng tính xương kỳ, quế loan cầm sắt yến đi khan thường, thiên tiêu Nguyệt Lão rủ thương, rất công rất chính chẳng thiên bên nào…
  4. Hôn thư (婚書): sách hôn nhân, tức quyển sách của Nguyệt Hạ Lão Nhân (月下老人) cầm đọc trong truyền thuyết Vi Cố (韋固), được ghi lại trong Tục U Quái Lục (續幽怪錄), phần Định Hôn Điếm (定婚店) của Lý Phục Ngôn (李復言, ?-?) nhà Đường.
  5. Xuy cữu mộng (臼夢): giấc mơ thấy đốt cối xay. Từ nầy phát xuất từ câu chuyện của Trương Chiêm (張瞻) trong Tây Dương Tạp Trở (酉陽雜俎), phần Mộng () của Đoàn Thành Thức (段成式, khoảng 803-863) nhà Đường như sau: “Cổ khách Trương Chiêm tương quy, mộng xuy ư cữu; vấn Vương Sanh, Sanh ngôn: ‘Quân quy, bất kiến thê hỉ; cữu trung xuy, cố vô phủ dã.’ Cố khách chí gia, thê quả tốt dĩ sổ nguyệt (賈客張瞻將歸夢炊於臼問王生生言君歸不見妻矣臼中炊固無釜也賈客至家妻果卒已數月, vị khách buôn tên Trương Chiêm chuẩn bị về nhà, chợt mộng thấy đốt chiếc cối xay; bèn hỏi Vương Sanh, Sanh đáp: ‘Ông về đến nhà thì không gặp được vợ nữa, đốt trong cối, cứng không có nồi.’ Khi người khách buôn về đến nhà, quả nhiên vợ ông đã qua đời mấy tháng rồi).” Từ “vô phủ (無釜)” đọc trại là “vô phụ (無婦)”, nghĩa là không có vợ, không còn vợ nữa, tức là vợ đã chết. Cho nên, xuy cữu () hay xuy cữu mộng đều là những từ được dùng để chỉ cho vợ chết. Từ đó, có một số từ liên quan khác như xuy cữu chi thống (炊臼之戚), xuy cữu chi thích (炊臼之痛) để nói lên niềm đau xót vô biên khi mất vợ, hay để tang vợ. Trong Liên Pha Thi Thoại (蓮坡詩話) quyển trung của Tra Vi Nhân (查爲仁, 1693-1749) nhà Thanh có câu: “Tân xú trọng xuân, dư tao xuy cữu chi thống, đồng nhân hòa điệu vong thi thậm đa (辛醜仲春餘遭炊臼之痛同人和悼亡詩甚多, giữa mùa xuân xui xẻo, gặp phải tang vợ, mọi người cùng làm thơ thương tiếc rất nhiều).” Khi đám tang người vợ, trong một số đối liễn, thường có câu: “xuy cữu mộng lai (炊臼夢來, giấc mơ đốt cối đến).”
  6. Cổ bồn (鼓盆): đánh vào cái bồn rửa mặt, tỷ dụ niềm đau mất vợ. Từ nầy phát xuất từ trong Trang Tử (莊子), phần Chí Lạc (至樂): “Trang Tử thê tử, Huệ Tử điếu chi; Trang Tử tắc phương ky cứ cổ bồn nhi ca; Huệ Tử viết: ‘Dữ nhân cư, trưởng tử, lão, thân tử, bất khốc diệc túc hỉ, hựu cổ bồn nhi ca, bất diệc thậm hồ ?’ (莊子妻死惠子吊之莊子則方箕踞鼓盆而歌惠子曰:與人居長子身死不哭亦足矣又鼓盆而歌不亦甚乎, vợ của Trang Tử mất, Huệ Tử đến đi điếu; Trang Tử bèn ngồi xoạc chân ra đánh vào chậu mà hát; Huệ Tử nói: ‘Ông cùng bà chung sống, nuôi con khôn lớn, rồi già và chết đi, không khóc là đủ rồi; nhưng lại đánh vào chậu mà hát, không quá đáng lắm sao ?’).” Do đó, từ “cổ bồn”, “cổ bồn nhi ca (鼓盆而歌)”, “cổ bồn ca (鼓盆歌)”, “cổ bồn chi thích (鼓盆之戚)”, “cổ bồn chi thán (鼓盆之嘆)”, v.v., đều được dùng để ví cho người vợ qua đời, để tang vợ cũng như nỗi đau mất vợ. Tỷ dụ như trong tác phẩm Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), phần Tiểu Tạ (小謝) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh, có câu: “Gia kì bần, hựu hữu cổ bồn chi thích (家綦貧、又有鼓盆之戚, nhà rất nghèo, lại gặp phải tang vợ).”
  7. Châu anh (珠纓): giải mũ bằng hạt châu quý, thường dùng để trang sức trên đầu, từ đó nó chỉ cho người cao quý mang các loại trân quý trên mình. “Châu anh bảo quân (珠纓寶君)” có nghĩa là người vợ hiền cao quý như các thứ trân báu trên đời.

Kim sa (金沙金砂): cát có màu vàng, bột phấn vàng. “Kim sa dụng tử (金沙用子)” có nghĩa là người dùng bột phấn vàng, tức chỉ cho người cao sang, quyền quý.