36. Điệp Cúng Tạ Thổ Thần

(Tư Độ Pháp Diên)

 

Nguyên văn:

 

資度法筵  爲牒仰事。茲據

越南國......()......村、哀家恭就于淨處建筵奉

佛設供禮謝山神祈安事。今喪主...等、今爲故(父、母) ...之靈、奄棄塵世、旣迎安厝于本處之原、事已周隆、謹具菲儀、虔誠拜謝。恭望

后土氏之神位前。當山土地一切威靈仝垂允納。玆則旣窆窀於靈柩、封馬鬛於斯辰、仰神功默運矜憐、資魄爽寂然安慰、神棲淨域、業謝塵勞、稟五氣之精靈、鍾三千之苗裔。謹牒。

.........日時 。請

 

Phiên âm:

 

Tư Minh Siêu Độ Vị điệp tiến sự.

Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, ai gia cung tựu vi tịnh xứ kiến diên phụng Phật thiết cúng lễ tạ Sơn Thần kỳ an sự. Kim tang chủ ... đẳng, kim vị cố (phụ, mẫu) ... chi linh, yểm khí trần thế, ký nghênh an thố vu bổn xứ chi nguyên, sự dĩ châu long; cẩn cụ phỉ nghi, kiền thành bái tạ.

Cung vọng: Hậu Thổ Thị chi thần vị tiền, Đương Sơn Thổ Địa nhất thiết uy linh đồng thùy doãn nạp. Tư tắc ký biếm truân1 ư linh cữu, phong mã liệp2 ư tư thần; ngưỡng thần công mặc vận căng lân, tư phách sảng tịch nhiên an úy; thần thê Tịnh Vức, nghiệp tạ trần lao; bẩm Ngũ Khí3 chi tinh linh, chung tam thiên chi miêu duệ. Cẩn điệp.

Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.

 

Dịch nghĩa:

 

Diên Cúng Siêu Độ Vì điệp dâng cúng.

Nay căn cứ: Việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam, thờ Phật thiết lễ tạ Thần Núi cầu an. Nay tang chủ ..., hôm nay vì hương linh cha (mẹ) đã qua đời, vội lìa trần thế, đã nghinh an táng nơi đồi chỗ này, việc đã hoàn thành, kính đủ mọn nghi, kính thành lạy tạ.

Kính mong: Thần Hậu Thổ Thị, Đương Sơn Thổ Địa núi này, hết thảy oai linh, cùng thương thọ nạp. Nay tất đã chôn cất nơi linh cữu, đắp mộ phần vào lúc này; mong thần công thầm vận xót thương, giúp vía linh mặc nhiên an ủi; thần nương cõi tịnh, nghiệp dứt hồng trần; nhờ Năm Khí ấy tinh linh, họp muôn ngàn con cháu. Kinh điệp.

Lúc ... ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.

 

Chú thích:

  1. Biếm truân (窆窀) hay truân biếm (窀窆): mộ phần.
  2. Mã liệp (馬鬛): có hai nghĩa chính. (1) Bờm ngựa. (2) Một loại hình trạng đắp đất mộ phần giống như bờm ngựa, từ đó mã liệp cũng chỉ cho mộ phần. Như trong bài Thượng Lưu Điền Hành (上留田行) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có đoạn: “Bồng khoa mã liệp kim dĩ bình, tích chi đệ tử huynh bất táng (蓬科馬鬣今已平昔之弟死兄不葬, mộ phần cỏ mọc nay bằng phẳng, xưa kia em chết anh chẳng chôn).”
  3. Ngũ Khí (五氣): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Chỉ 5 loại mùi vị, tức là mùi tanh, mùi khét, mùi thơm, mùi hôi, mùi thối. Như trong tác phẩm Tố Vấn (素問), chương Lục Tiết Tạng Tượng Luận (六節臟象論), có câu: “Thiên thực nhân dĩ Ngũ Khí (天食人以五氣, trời lấy Năm Mùi cho con người ăn).” Trương Cảnh Nhạc (張景岳, 1563-1640) nhà Minh giải thích rằng: “Thiên dĩ ngũ khí thực nhân giả, táo khí nhập can, tiêu khí nhập tâm, hương khí nhập tỳ, tinh khí nhập phế, hủ khí nhập thận dã (天以五氣食人者、臊氣入肝、焦氣入心、香氣入脾、腥氣入肺、腐氣入腎也, trời lấy Năm Mùi cho con người ăn, mùi tanh vào gan, mùi khét vào tim, mùi thơm vào lá lách, mùi hôi vào phổi, mùi thối vào thận).” (2) Chỉ khí của 5 vận, gồm Kim (), Mộc (), Thủy (), Hỏa () và Thổ (). (3) Chỉ hoạt động tình cảm do Ngũ Tạng hóa sanh, tức là vui, giận, lo, buồn, sợ. Như trong tác phẩm Tố Vấn (素問), chương Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận (陰陽應像大論), giải thích rằng: “Nhân hữu Ngũ Tạng hóa Ngũ Khí, dĩ sanh hỷ nộ bi ưu khủng (人有五臟化五氣、以生喜怒悲憂恐, con người có Ngũ Tạng hóa ra Năm Khí, để sanh ra vui, giận, lo, buồn, sợ).” (4) Chỉ 5 khí của 5 sắc màu; tức là khí xanh, khí trắng, khí đỏ, khí đen, khí vàng. Tác phẩm Tố Vấn nêu trên cũng giải thích rằng khí màu xanh do từ gan mà ra, khí màu trắng do từ phổi mà ra, khí màu đỏ do từ tim mà ra, khí màu đen do từ thận mà ra, khí màu vàng do từ lá lách mà ra. Nếu quán xét năm sắc màu này, có thể biết được sự biến hóa của Ngũ Tạng như thế nào. (5) Y Học Đông Phương cho rằng lạnh, nóng, khô, ướt, gió là 5 Khí. Như trong Tố Vấn, chương Lục Tiết Tạng Tượng Luận ghi rằng: “Thiên thực nhân dĩ Ngũ Khí, địa thực nhân dĩ Ngũ Vị; ngũ khí nhập tỵ, tàng ư tâm phế (天食人以五氣、地食人以五味、五氣入鼻、藏於心肺, trời lấy Năm Mùi cho con người ăn, đất lấy Năm Vị cho con người ăn; Năm Mùi đi vào mũi, chứa trong tim phổi).” (6) Vào thời Chiến Quốc, người ta thường gọi Ngũ Khí là khí của Ngũ Hạnh (五行, 5 loại quan niệm đạo đức căn bản); tức chỉ cho Nhân (), Nghĩa (), Lễ (), Trí () và Tín (). (7) Chỉ cho 5 loại khí của trời đất. Vào thưở hỗn độn ban đầu, trời đất mới sanh, Ngũ Hành dần dần biến hóa, đó gọi là Ngũ Vận (五運); khi hình tượng chưa phân chia, gọi đó là Thái Dịch (太易); nguyên khí vừa mới manh nha, gọi đó là Thái Sơ (太初); đầu mối của khí hình, gọi đó là Thái Thỉ (太始); khí biến hóa có chất, gọi đó là Thái Tố (太素); khí hình đã đủ, gọi đó là Thái Cực (太極). Như vậy Thái Dịch, Thái Sơ, Thái Thỉ, Thái Tố và Thái Cực là 5 loại khí của trời đất.