37. Sớ Cúng Trai Tuần Vợ
(Năng Nhân Ứng Thế)
Nguyên văn:
伏以
能仁應世、爲情綱之衆生、菩薩示身、憫愛河之流浪、將文宣演、業垢潛消。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒。痛念
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。竊念、鸞房影寂、蕙帳緣空、室中不覩音容、座上無聞影響、家堂鞅掌、不勞夫義之憂、欵接酬恩、必得賓朋之喜、堪稱主饋、可曰賢妻、惜兮遊水長歸、痛也春花急落、欲酬薦拔之功、庶助超生之路。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、
牟尼覺皇、放金光而接引、
彌陀慈父、垂寶手以提攜、俾香靈圓悟眞心、世世入無爲
佛國、保孝眷堅持道念、生生弘不滅法門。仰賴
佛恩、證明之大德也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Năng nhân ứng thế, vi tình cương chi chúng sanh; Bồ Tát thị thân, mẫn ái hà1 chi lưu lãng; tương văn tuyên diễn, nghiệp cấu tiềm tiêu.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám. Thống niệm:
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Thiết niệm: Loan phòng ảnh tịch, huệ trướng duyên không; thất trung bất đổ âm dung, tòa thượng vô văn ảnh hưởng; gia đường ưởng chưởng,2 bất lao phu nghĩa chi ưu; khoản tiếp thù ân, tất đắc tân bằng chi hỷ; kham xưng chủ quỹ, khả viết hiền thê; tích hề du thủy trường quy, thống dã xuân hoa cấp lạc; dục thù tiến bạt chi công, thứ trợ siêu sanh chi lộ. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện: Mâu Ni3 Giác Hoàng,4 phóng kim quang nhi tiếp dẫn; Di Đà từ phụ, thùy bảo thủ dĩ đề huề; tỷ hương linh viên ngộ chơn tâm, thế thế nhập vô vi Phật quốc; bảo hiếu quyến kiên trì đạo niệm, sanh sanh hoằng bất diệt pháp môn. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi đại đức dã. Cẩn sớ.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
- Nhân xuất thế, vì chúng sanh ràng buộc tình; Bồ Tát hiện thân, thương người trôi lăn sông ái; sớ văn tuyên đọc, nghiệp bẩn liền tiêu.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Xót nghĩ:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Xót nghĩ: Loan phòng bóng vắng, màn the duyên không; trong nhà chẳng thấy dáng hình, trên tòa không nghe ảnh hưởng; việc nhà bận bịu, chẳng nhọc chồng nghĩa lo toan; tiếp đãi đền ơn, tất được bạn bè hoan hỷ; xứng tên quà quý, đáng gọi hiền thê; tiếc chừ nước trôi theo dòng, đau xót hoa xuân sớm rụng; muốn cúng đền đáp công ơn, mong giúp siêu sanh nẻo thiện. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Mâu Ni vua giác, phóng hào quang mà tiếp dẫn; Di Đà từ phụ, vươn tay báu để dẫn đường; giúp hương linh sáng ngộ chơn tâm, đời đời vào vô vi nước Phật; giữ hiếu quyến vững trì đạo niệm, kiếp kiếp truyền bất diệt pháp môn. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Ái hà (愛河): sông yêu thương, tức chỉ ái dục làm cho con người bị sa đọa, chìm đắm; vì vậy người ta thường dùng hình ảnh con sông để ví cho ái dục. Ngoài ra, tâm tham ái thì chấp trước vào vật không rời ra, cũng giống như nước xâm nhiễm các vật; cho nên nước sông còn được dùng để thí dụ cho ái dục. Trong Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh (八十華嚴經) quyển 26 có câu: “Tùy sanh tử lưu, nhập đại ái hà (隨生死流、入大愛河, theo dòng sanh tử, vào sông ái lớn).” Lăng Nghiêm Kinh (楞嚴經) thì đưa ra thuyết “Ái hà càn khô, linh nhữ giải thoát (愛河乾枯、令汝解脫, sông ái cạn khô, khiến người giải thoát).” Vì vậy, trong bài tán cúng cầu siêu cho hương linh, thường có câu: “Ái hà thiên xích lãng, khổ hải vạn trùng ba, dục thoát luân hồi khổ, cấp cấp niệm Di Đà (愛河千尺浪、苦海萬重波、欲脫輪廻苦、急急念彌陀, sông ái ngàn tấc sóng, biển khổ vạn lớp cồn, muốn thoát luân hồi khổ, mau mau niệm Di Đà).” Câu nầy được tìm thấy trong Chứng Nghiêm Pháp Sư Tĩnh Tư Ngữ Lục (證嚴法師靜思語錄) với nội dung tương tự: “Ái hà thiên xích lãng, khổ hải vạn trùng ba, cầu bất đắc thị khổ, cầu đắc chi hậu nhưng bất mãn túc (愛河千尺浪、苦海萬重波、求不得是苦、求得之後仍不滿足, sông ái ngàn tấc sóng, biển khổ vạn lớp cồn, cầu không được là khổ, sau khi cầu được rồi lại chẳng thỏa mãn).” Ngay như trong Thành Hoàng Điệp Khoa Nghi (城隍牒科儀) của Đạo Giáo cũng có dạy rằng: “Ái hà thiên xích lãng, khổ hải vạn trượng thâm, dục miễn luân hồi khổ, đại chúng xưng Thiên Tôn (愛河千尺浪、苦海萬丈深、欲免輪迴苦、大眾稱天尊, sông ái ngàn tấc sóng, biển khổ vạn trượng sâu, muốn khỏi luân hồi khổ, đại chúng xưng Thiên Tôn).” Hay như trong hồi thứ 10 của Thất Chơn Sử Truyện (七眞史傳) cũng có câu: “Hãm nịch trầm luân kỷ hữu niên, ái hà cổn cổn lãng thao thiên, tu hành tự khả đăng cao ngạn, hà dụng trung lưu lánh mích thuyền (陷溺沈淪己有年、愛河滾滾浪滔天、修行自可登高岸、何用中流另覓船, chìm đắm trầm luân đã mấy năm, sông thương cuồn cuộn sóng ngất trời, tu hành tự bước lên bờ giác, đâu cần giữa dòng kiếm thuyền riêng).”
- Ưởng chưởng (鞅掌): nhọc nhằn, bận bịu, hối hả. Trong bài Bắc Sơn (北山) của Thi Kinh (詩經) có câu: “Hoặc vương sự ưởng chưởng(或王事鞅掌, hoặc có khi việc vua bận bịu).” Hay như trong bài Dữ Sơn Cự Nguyên Tuyệt Giao Thư (與山巨源絕交書) của Kê Khang (嵇康, 223-263) có đoạn: “Tâm bất nại phiền, nhi quan sự ưởng chưởng, cơ vụ triền kỳ tâm (心不耐煩、而官事鞅掌、機務纏其心, tâm chẳng ngại phiền, nhưng chuyện quan bận rộn, công việc trói buộc tâm).” Câu “gia đường ưởng chưởng (家堂鞅掌)” có nghĩa là công việc nhà bề bộn, bận rộn.
- Mâu Ni (s, p: muni, 牟尼): âm dịch là Tịch Mặc (寂默), Thánh Giả (聖者), Hiền Nhân (賢仁), hay người thực hành hạnh im lặng. Trong Phật Giáo, Thích Ca Mâu Ni (s: Śākyamuni, p: Sakyamuni, 釋迦牟尼) là bậc thánh của dòng họ Thích Ca; cho nên khi dùng chữ Mâu Ni thì có nghĩa là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Giác Hoàng (覺皇): vua giác ngộ; đức Phật được xem như là vị vua giác ngộ, nên Giác Hoàng còn là tên gọi khác của Phật. Như trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 3 có đoạn: “Như Cam Lồ nhi ốc tâm, tợ Đề Hồ nhi quán đảnh, hà tất cánh tầm Di Lặc Phật, chỉ kim hạnh đổ Thích Ca sư, cung đối Giác Hoàng, liêu ngâm Phật vận, tín sĩ kiền thành, cung thân thiết bái (如甘露而沃心、似醍醐而灌頂、何必更尋彌勒佛、只今幸睹釋迦師、恭對覺皇、聊吟佛韻、信士虔誠、躬身設拜, như Cam Lồ mà rưới tâm, tựa Đề Hồ mà rưới đầu, đâu cần đi tìm Di Lặc Phật, chỉ nay may gặp Thầy Thích Ca, đối trước Giác Hoàng, cùng ngâm lời Phật, tín đồ lòng thành, cúi mình vái lạy).” Hay trong Từ Bi Thủy Sám Pháp (慈悲水懺法) quyển hạ có câu: “Giác Hoàng tòa hạ, huân tu Tam Muội huyền văn, kim đối đệ tam quyển, công đức châu long (覺皇座下、薰脩三昧玄文、今對第三卷、功德周隆, dưới tòa Giác Hoàng, chuyên tu Tam Muội văn mầu, nay đến quyển thứ ba, công đức trọn vẹn).” Trong Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō) quyển 72 của Thiền Sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253), vị tổ sáng lập ra Tào Động Tông Nhật Bản, cũng có câu: “Đương Giác Hoàng giải chế chi thời, thị pháp tuế châu viên chi nhật, cửu tuần vô nạn, nhất chúng hàm an (當覺皇解制之時、是法歲周圓之日、九旬無難、一衆咸安, lúc Giác Hoàng giải hạ kết chế, là đúng ngày tuổi hạ tròn đầy, chín tuần chẳng nạn, toàn chúng đều yên).”