39. Sớ Cúng Thành
(Quyền Tri Bắc Hải)
Nguyên văn:
伏以
權知北海、職掌水宮、臨御遙靈、祥雲瑞氣、俯瀝丹誠、仰干御座。拜疏爲越南國...省、...縣(郡)、...社、...村、家居奉
佛聖上香供進禮水宮...事。今信主...等、惟日仰干、水神列位、俯垂炤鑒。言念、叨生妙質、添出女流、命在天曹、根于水界、蒙恩豈敢忘恩、有願須當進禮、是以誠心、薄禮具陳、恭其水府以降臨。伏願、洞庭而資格、闡四方白馬之齡文、祝北海添疇於鶴算。于今功德、庶願安寧。茲者本月吉日、列陳香花、燈茶品供。今則謹具疏文、和南拜奏。
天府天皇大帝。地府祖皇大帝。水府扶桑丹霖大帝。西宮王母本命主仙。水府主洞庭北海帝君。水府第三女白玉壺中水晶公主。水府水乳仙婆。水府第四德朝欽差聖女。水府五位赤鱗皇太子龍王。水府三位輔國狀元先生尊神。本命胎生...歲。水府監察欽差督兵。五方沿路河伯水官。曹僚判屬卒吏兵、一切水神筵中列位、同垂照鑒、共降吉祥。伏願、承龍車而降格、騎黑鯉以來臨。認取冥財、遞回宮殿、伸呈奉納、任意遨遊、匡扶信女享三多、保護生人增五福、但臣下情、不勝翹望之至。具疏。所有恭薦貨項計于后計。一主府葎、五位葎、三位葎、本命架、三層樓、美女聘禮、化盆、八音八張、象馬庫船各一張、督船、恭薦水神列位允納。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Quyền tri Bắc Hải, chức chưởng Thủy Cung, lâm ngự diêu linh, tường vân thoại khí, phủ lịch đơn thành, ngưỡng can ngự tòa.
Bái sớ vị: Việt Nam quốc, … Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, ... Thôn, gia cư phụng Phật Thánh thượng hương hiến cúng tiến lễ Thủy Cung ... sự. Kim tín chủ ... đẳng, duy nhật ngưỡng can, Thủy Thần liệt vị, phủ thùy chiếu giám.
Ngôn niệm: Phao sanh diệu chất, thiêm xuất nữ lưu; mạng tại Thiên Tào, căn vu Thủy Giới; mông ân khởi cảm vong ân, hữu nguyện tu đương tấn lễ; thị dĩ thành tâm, bạc lễ cụ trần. Cung kỳ Thủy Phủ dĩ giáng lâm.
Phục nguyện: Động Đình nhi tư cách, xiển tứ phương Bạch Mã1 chi linh văn; chúc Bắc Hải thiêm trù ư hạc toán, vu kim công đức, thứ nguyện an ninh. Tư giả bổn nguyệt cát nhật, liệt trần hương hoa đăng trà phẩm cúng. Kim tắc cẩn cụ sớ văn, hòa nam bái tấu.
Thiên Phủ Thiên Hoàng Đại Đế.
Địa Phủ Tổ Hoàng Đại Đế.
Thủy Phủ Phù Tang Đơn Lâm Đại Đế.
Tây Cung Vương Mẫu2 Bổn Mạng Chúa Tiên.
Thủy Phủ Chúa Động Đình Bắc Hải Đế Quân.
Thủy Phủ Đệ Tam Nữ Bạch Ngọc Hồ Trung Thủy Tinh Công Chúa.
Thủy Phủ Thủy Nhũ Tiên Bà.
Thủy Phủ Đệ Tứ Đức Chầu Khâm Sai Thánh Nữ.
Thủy Phủ Ngũ Vị Xích Lân Hoàng Thái Tử Long Vương.
Thủy Phủ Tam Vị Phụ Quốc Trạng Nguyên Tiên Sinh Tôn Thần.
Bổn Mạng Thai Sanh ... Tuế.
Thủy Phủ Giám Sát Khâm Sai Đốc Binh.
Ngũ Phương Diên Lộ Hà Bá Thủy Quan.
Tào Liêu Phán thuộc sĩ tốt lại binh, nhất thiết thủy thần diên trung liệt vị, đồng thùy chiếu giám, cọng giáng cát tường.
Phục nguyện: Thừa long xa nhi giáng cách, kỵ hắc lý dĩ lai lâm; nhận thủ minh tài, đệ hồi cung điện; thân trình phụng nạp, nhậm ý ngao du; khuôn phò tín nữ hưởng Tam Đa,3 bảo hộ sanh nhân tăng Ngũ Phước. Đản thần hạ tình bất thắng kiều vọng chi chí, cụ sớ. Sở hữu cung tiến hóa hạng, kế vu hậu kế:
Nhất chúa phủ Lốt,4 ngũ vị Lốt, tam vị Lốt, bổn mạng giá, tam tằng lâu, mỹ nữ sính lễ, hoa bồn, bát âm bát trương, tượng mã khố thuyền, các nhất trương, đốc thuyền, cung tiến Thủy Thần liệt vị doãn nạp.
Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Quyền khắp Bắc Hải, chức quản Thủy Cung; về ngự linh xa, mây lành khí tốt; dâng tấc lòng thành, trông lên tòa báu.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật Thánh, dâng hương hiến cúng Thủy Cung ... Hôm nay trai chủ …, ngưỡng trông Thủy Thần các vị, cúi thương chiếu giám.
Thiết nghĩ: Vốn sanh chất đẹp, xuất thân nữ lưu; mạng ở trên Trời, căn nơi Thủy giới; mang ơn nào dám quên ơn, có nguyện nên hành lễ cúng; với thành tâm nầy, lễ mọn bày đủ, ngưỡng xin Thủy Phủ hãy giáng lâm.
Cúi mong: Động Đình diễn tư cách, bày bốn phương ngựa trắng linh văn, chúc Bắc Hải thêm ruộng như số hạc; với công đức nầy, mong được an ninh. Nay gặp ngày lành tháng tốt, bày đủ hương hoa, đèn trà vật cúng. Nay xin dâng trọn sớ văn, tâm thành lạy tấu:
Thiên Phủ Thiên Hoàng Đại Đế.
Địa Phủ Tổ Hoàng Đại Đế.
Thủy Phủ Phù Tang Đơn Lâm Đại Đế.
Tây Cung Vương Mẫu Bổn Mạng Chúa Tiên.
Thủy Phủ Chúa Động Đình Bắc Hải Đế Quân.
Thủy Phủ Đệ Tam Nữ Bạch Ngọc Hồ Trung Thủy Tinh Công Chúa.
Thủy Phủ Thủy Nhũ Tiên Bà.
Thủy Phủ Đệ Tứ Đức Chầu Khâm Sai Thánh Nữ.
Thủy Phủ Ngũ Vị Xích Lân Hoàng Thái Tử Long Vương.
Thủy Phủ Tam Vị Phụ Quốc Trạng Nguyên Tiên Sinh Tôn Thần.
Bổn Mạng Thai Sanh ... Tuổi.
Thủy Phủ Giám Sát Khâm Sai Đốc Binh.
Ngũ Phương Diên Lộ Hà Bá Thủy Quan.
Tào Liêu Phán thuộc sĩ tốt quân binh, hết thảy Thủy Thần, cùng thương chứng giám, ban cho cát tường.
Cúi mong: Cỡi xe rồng mà hiển hiện, nương cá đen đều giáng lâm, nhận lấy vật cúng, trở về cung điện; trình lên phụng nạp, tùy ý ngao du; phò hộ tín nữ được Ba Điều, giúp người sống thêm Năm Phước; kẻ hèn tâm thành, mong sao đạt thấu nguyện vọng. Kính dâng sớ. Vật phẩm dâng cúng, liệt kê hạng mục như sau:
Một chúa phủ lốt, năm vị lốt, ba vị lốt, giá bổn mạng, nhà lầu ba tầng, người đẹp sính lễ, bồn hoa, bát âm bát trương, voi, ngựa, kho, thuyền, mỗt loại một cái, hiến cúng Thủy Thần các vị thâu nhận cho.
Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Bạch mã (白馬): ngựa trắng. Tương truyền dưới thời vua Minh Đế (明帝, tại vị 57-75) nhà Hậu Hán, nhóm Ca Diếp Ma Đằng (s: Kāśyapamātaṅga, 迦葉摩騰, ?-73) lần đầu tiên mang một số kinh điển Phật Giáo như Tứ Thập Nhị Chương (四十二章), v.v., từ nước Đại Nguyệt Thị (大月氏, nay là một dãy của Afghanistan) bên Tây Vức (Ấn Độ) sang, chở trên lưng con Bạch Mã, đến trú tại Hồng Lô Tự (鴻臚寺, nơi dùng để tiếp đãi các sứ đoàn ngoại quốc). Nhân đó, nhà vua cho xây dựng Bạch Mã Tự (白馬寺) tại kinh đô (nay là Lạc Dương [洛陽], Tỉnh Hà Nam [河南省]) để an trí các kinh điển nầy. Nguyên lai chữ tự (寺) vốn có nghĩa là sảnh đường làm việc của quan, nhưng từ khi có ngôi Bạch Mã Tự, chữ nầy bắt đầu có thêm nghĩa là ngôi chùa Phật Giáo.
- Tây Cung Vương Mẫu (西宮王母): (1) Tức Tây Vương Mẫu (西王母), tục xưng là Vương Mẫu Nương Nương (王母娘娘), Tây Mụ (西姥), Vương Mẫu (王母), Kim Mẫu (金母), Kim Mẫu Nguyên Quân (金母元君), Diêu Trì Kim Mẫu (瑤池金母); gọi đủ là Bạch Ngọc Quy Đài Cửu Linh Thái Chơn Kim Mẫu Nguyên Quân (白玉龜台九靈太眞金母元君), Bạch Ngọc Quy Đài Cửu Phụng Thái Chơn Tây Vương Mẫu (白玉龜台九鳳太真西王母), Thái Linh Cửu Quang Quy Đài Kim Mẫu Nguyên Quân (太靈九光龜台金母元君). Tục tánh của Tây Vương Mẫu là Hầu (侯), hay Dương (楊); tên Hồi (回), tự là Uyển Linh (婉姈), hay Thái Hư (太虛); là vị nữ thần, tiên nữ trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc, xưa kia dùng làm tượng trưng cho trường sanh bất lão. Tên gọi Tây Vương Mẫu lần đầu tiên xuất hiện trong Sơn Hải Kinh (山海經), phần Tây Thứ Tam Kinh (西次三經): “Tây Vương Mẫu cư trú tại Ngọc Sơn chi sơn, kỳ trạng như nhân, báo vĩ hổ xỉ nhi thiện khiếu, bồng phát đái thắng (西王母居住在玉山之山、其狀如人、豹尾虎齒而善嘯、蓬髮戴勝, Tây Vương Mẫu cư trú tại núi Ngọc Sơn, hình trạng như người, đuôi báo, răng cọp mà khéo gầm thét, tóc bềnh bồng có cài hoa).” Chữ “Tây (西)” chỉ cho phương hướng, “Vương Mẫu (王母)” là thần danh. Tây Vương Mẫu được kết thành từ khí Tây Hoa Chí Diệu (西華至妙) trong nguyên khí hỗn độn của đất trời tự nhiên. Trong Hán Võ Đế Nội Truyện (漢武帝內傳) có diễn tả khi Tây Vương Mẫu đăng điện như sau: “Trước hoàng kim đáp thuộc, văn thái tiên minh, quang nghi thục mục, đái Linh Phi đại thụ, yêu bội Phân Cảnh chi kiếm, đầu thượng Thái Hoa kế, đái Thái Chơn Thần Anh chi quan, lý Huyền Quyết Phụng Văn chi tích; thị chi khả niên tam thập hứa, tu đoản đắc trung, thiên tư yểm ái, dung nhan tuyệt thế (著黃金褡孎、文采鮮明、光儀淑穆、帶靈飛大綬、腰佩分景之劍、頭上太華髻、戴太眞晨嬰之冠、履玄鐍鳳文之舄、視之可年三十許、修短得中、天姿掩藹、容顏絕世, Bà mặc áo bào vàng ròng, văn hoa sáng ngời, dáng nghi hiền thục, mang dây đai lớn Linh Phi, lưng đeo cây kiếm Phân Cảnh, trên đầu búi tóc Thái Hoa, đầu đội mão Thái Chơn Thần Anh, chân mang hài Huyền Quyết Phụng Văn, mới nhìn khoảng chừng ba mươi tuổi, song có thể trẻ hơn, dáng trời thư thái, dung nhan tuyệt thế).” Hán Võ Đế (漢武帝, tại vị 141-87 ttl.) lạy nhận mệnh của Tây Vương Mẫu. Bà là tông tổ của các tiên nữ, cư trú tại núi Côn Lôn (崑崙), có thành quách cả vạn dặm, lầu ngọc 12 ngôi, cửa khuyết Quỳnh Hoa (瓊華), nhà bằng ngọc Quang Bích (光碧), phòng bằng hạt Tử Thúy (紫翠); bên trái giáp giới với Diêu Trì (瑤池), bên phải bao vòng cả Thúy Sơn (翠山). Trong Bác Vật Chí (博物志) cho rằng nơi Diêu Trì ấy có cây đào tên Bàn Đào (蟠桃), ba ngàn năm mới sanh trái một lần. Từ đó, Tây Vương Mẫu còn có tên gọi là Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Thánh Mẫu, chủ nhân của Hội Bàn Đào. Trên trời dưới đất, Ba Cõi Mười Phương, bất cứ người nữ nào đắc đạo thành tiên, đều phải lệ thuộc vào sự quản lý của Tây Vương Mẫu. Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) ban cho Tây Vương Mẫu hồ sơ Phương Thiên Nguyên Thống Quy Sơn Cửu Quang (方天元統龜山九光) để tổng quản vạn linh, chư thánh hiền. Tương truyền Chu Mục Vương (周穆王) đã từng xa giá đến vùng Tây Bào (西跑), cách kinh đô mấy vạn dặm, gặp Tây Vương Mẫu bên hồ Diêu Trì, cùng nhau uống rượu thù tạc, thậm chí quên đường về. Như trong Mục Thiên Tử Truyện (穆天子傳) quyển 3 có đoạn rằng: “Thiên tử thương Tây Vương Mẫu vu Diêu Trì chi thượng, Tây Vương Mẫu vi Thiên tử dao (天子觴西王母于瑤池之上,西王母爲天子謠, Thiên tử uống rượu với Tây Vương Mẫu trên hồ Diêu Trì, Tây Vương Mẫu ca hát cho Thiên tử nghe).” Sau nầy Hán Võ Đế đi tìm thuốc trường sanh bất tử, được Tây Vương Mẫu từ trên trời giáng xuống và ban cho bảy hạt Đào Tiên. Đến thời nhà Hán, hình tượng của Vương Mẫu được tiên nhân hóa, như trong Hoài Nam Tử Lãm Minh Huấn (淮南子覽冥訓) có đoạn: “Nghệ thỉnh bất tử chi dược ư Tây Vương Mẫu, Hằng Nga thiết dĩ bôn nguyệt (羿請不死之藥於西王母、姮娥竊以奔月, Hậu Nghệ xin thuốc bất tử nơi Tây Vương Mẫu, Hằng Nga trộm lấy thuốc ấy đùa với trăng).” Cho nên, Tây Vương Mẫu được xem như là kho báu bí mật của thuốc trường sanh bất tử, là người đào tạo ra các tiên nhân. Đạo Giáo và dân gian đều kính ngưỡng Vương Mẫu như là tượng trưng cho sự trường thọ, xem Bà như là vị chủ thần của Kim Lục Diên Thọ Đạo Tràng (籙延壽道塲), ban bố sự sống lâu. Về ngày đản sanh của Vương Mẫu, có thuyết cho là mồng 3 tháng 3, và có thuyết cho là 18 tháng 7. Vào ngày nầy, tín đồ Đạo Giáo, đặc biệt là người nữ, thường tập trung tại các Đạo Quán, để dâng hương, chúc mừng Thánh đản và cầu nguyện sức khỏe, sống lâu. (2) Tây Vương Mẫu còn là tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa. Như trong Nhĩ Nhã (爾雅), phần Thích Địa (釋地) cho biết rằng: “Cô Trúc, Bắc Hộ, Tây Vương Mẫu, Nhật Hạ, vị chi tứ hoang (觚竹、北戶、西王母、日下、謂之四荒, Cô Trúc, Bắc Hộ, Tây Vương Mẫu, Nhật Hạ là bốn vùng hoang sơ).” Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Đông Tấn chú thích rõ rằng: “Tây Vương Mẫu tại Tây, giai tứ phương hôn hoang chi quốc (西王母在西、皆四方昏荒之國, Tây Vương Mẫu ở phía Tây, là nước bốn phương đều hoang sơ).” (3) Ngoài ra, Tây Vương Mẫu còn là tên gọi khác của con hươu; như trong Bão Phác Tử (抱樸子), phần Đăng Trắc (登陟) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có câu: “Xưng Đông Vương Phụ giả, mi dã; Tây Vương Mẫu giả, lộc dã (稱東王父者、麋也、西王母者、鹿也, gọi Đông Vương Phụ là nai, Tây Vương Mẫu là hươu).” Lý Thương Ẩn (李商隱, 812/813-858), đại thi hào nhà Đường, có để lại bài thơ Diêu Trì (瑤池) như sau: “Diêu Trì A Mẫu ỷ song khai, hoàng trúc ca thanh động địa ai, bát tuấn nhật hành tam vạn lí, Mục Vương hà sự bát trùng lai (瑤池阿母綺窗開、黃竹歌聲動地哀、八駿日行三萬里、穆王何事不重來, Diêu Trì A Mẫu dõi trông ai, trúc vàng lời hát động ngân dài, tám ngựa một ngày ba vạn dặm, Mục Vương cơ sự chẳng về đây).”
- Tam Đa (三多): nhiều ba điều, có những thuyết khác nhau như: (1) Ba điều điện để có văn chương giỏi là đọc sách nhiều, viết nhiều và tư duy nhiều. (2) Ba điều kiện của một học giả gồm đọc sách nhiều, tham luận nhiều và trước tác nhiều. (3) Phước nhiều, thọ nhiều và sanh con trai nhiều (nghĩa trong bài).
Ông Lốt: tức là Thanh Xà Đại Tướng Quân (青蛇大將軍) và Bạch Xà Đại Tướng Quân (白蛇大將軍). Trong các ngôi điện thờ Mẫu thường có hai linh vật là Thanh Xà và Bạch Xà quấn mình trên xà nhà của điện; hai linh vật này được gọi chung là Ông Lốt. Quan điểm của Đạo Mẫu cho rằng rắn vừa có thể trườn dưới mặt đất vừa có thể ở được trên cao (trên các cây), tức là vừa có tính âm vừa có tính dương và là linh vật giao hòa giữa trời và đất.