40. Sớ Cúng Con Trai II

(Hòe Đình Mạc Mạc)

 

Nguyên văn:

 

伏以

槐庭瞙瞙、秋風忽倐之零殘、蝶夢茫茫、西竺何憑之超度、謹陳凡悃、轉啟聖慈。疏爲越南國...省...縣[]...社...村、家堂奉

修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干

大覺能仁、俯垂炤鑒。

奉爲...之香靈。仝承

佛法以弘深、全賴經文而解脫。鳴呼、彜倫道童、(父)母子情深、劬勞不顧於前生、忽負承歡之念、鞠育罔恩於後世、報返厭世之心、概音容寂爾難尋、想踪跡寥然莫覩。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏

南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。

南無接引導師阿彌陀佛作大證明。

南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。

南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、慈王洞鑒、

大覺遙觀、接引亡靈脫化、免其夙刼之冤、延扶眷屬康寧、錫以來生之福。仰賴

佛恩證明之不可思議也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Hòe đình mạc mạc, thu phong hốt thúc chi linh tàn; điệp mộng1 mang mang, Tây Trúc hà bằng chi siêu độ; cẩn trần phàm khổn, chuyển khải thánh từ.

Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.

Phụng vị … chi hương linh.

Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.

Ô hô ! Di luân đạo đồng, (phụ) mẫu tử tình thâm; cù lao bất cố ư tiền sanh, hốt phụ thừa hoan chi niệm; cúc dục võng ân ư hậu thế, báo phản yếm thế chi tâm; khái âm dung tịch nhĩ nan tầm, tưởng tung tích liêu nhiên mạc đổ. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.

Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.

Phục nguyện: Từ vương động giám, Đại Giác diêu quan; tiếp dẫn vong linh thoát hóa, miễn kỳ túc kiếp chi oan; diên phò quyến thuộc khang ninh, tích dĩ lai sanh chi phước. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.

Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

  1. hòe mờ mịt, gió thu thoáng chốc chợt điêu tàn; mộng bướm mang mang, Tây Trúc nương gì được siêu độ; cẩn bày tấc lễ, chuyển lên Thánh từ.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:

Hương linh ...

Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.

Than ôi ! Con trẻ luân thường, (cha) mẹ con tình sâu; khổ nhọc đời trước nào chẳng trông, chợt phụ niềm vui đạm bạc; nuôi dưỡng ơn sâu nơi hậu thế, chưa báo đền sớm lìa trần; tìm bóng hình vắng lặng khó tìm, nhớ tung tích mịt mờ chẳng thấy. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:

Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.

Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.

Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.

Lại nguyện: Vua từ chứng giám, Đại Giác nhìn xa; tiếp dẫn vong linh siêu thoát, miễn được đời trước oan khiên; phò hộ quyến thuộc khang ninh, tích tụ tương lai phước quả. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

Điệp mộng (蝶夢): giấc mơ biến thành con bướm, còn gọi là hồ điệp mộng (蝴蝶), hồ điệp chi mộng (蝴蝶之). Sự tích nầy được thuật lại trong Tề Vật Luận (齊物論) của Trang Tử (莊子). Một hôm nọ, Trang Chu nằm mộng thấy mình biến thành con bướm, lòng rất vui sướng, hân hoan tự đắc, quên đi chẳng biết mình là Trang Chu. Đến khi tỉnh dậy, mới hay mình là Trang Chu; phân vân chẳng biết giấc mộng của Trang Chu chính là con bướm, hay giấc mộng của con bướm lại là Trang Chu. Câu chuyện nầy nói lên tâm cảnh Vạn Vật Nhất Thể (萬物一體, vạn vật cùng một thể), không có sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Trong U Mộng Ảnh (幽夢影) của Trương Triều (張潮, 1650-?) nhà Thanh có một câu nổi tiếng là: “Trang Chu mộng vi hồ điệp, Trang Chu chi hạnh dã; hồ điệp mộng vi Trang Chu, hồ điệp chi bất hạnh dã (莊周夢爲蝴蝶莊周之幸也蝴蝶夢爲莊周蝴蝶之不幸也, Trang Chu mơ làm con bướm, Trang Chu thật may mắn vậy; con bướm mơ làm Trang Chu, con bướm quả bất hạnh vậy).” Câu chuyện nầy còn nêu rõ triết lý nhân sinh vô thường, như mộng huyễn, thời gian trôi qua như chớp mắt, giàu sang, phú quý chẳng thể cầu mong được. Trong bài Cổ Phong Ngũ Thập Cửu Thủ (古風五十九首) của thi sĩ Lý Bạch (李白, 701-762) có đoạn: “Trang Chu mộng hồ điệp, hồ điệp vi Trang Chu, nhất thể cánh biến dị, vạn sự lương du du, nãi tri bồng lai thủy, phục tác thanh thiển lưu (莊周夢蝴蝶蝴蝶爲莊周一體更變易萬事良悠悠乃知蓬萊水復作清淺流, Trang Chu mơ bươm bướm, bươm bướm là Trang Chu, một thể lại thành khác, vạn sự tốt dài lâu, mới biết bèo trôi dạt, lại làm dòng nước trôi).” Hơn nữa, trong bài Mãn Giang Hồng (滿江紅) của Cát Đàm (葛郯, ?-?) nhà Tống, được thâu lục trong Toàn Tống Từ (全宋詞), có câu: “Bất quản phù sanh như điệp mộng (不管浮生如蝶夢, chẳng kể phù sinh như mộng bướm).” Câu “điệp mộng mang mang, Tây Trúc hà bằng chi siêu độ (蝶夢茫茫、西竺何憑之超度)” có nghĩa giấc mơ bướm mờ mịt, mênh mang, không biết nương vào đâu để được siêu độ về cõi Tây Trúc, quốc độ của chư Phật.