40. Sớ Cúng Hội Đồng Thánh Mẫu

(Thánh Cảnh Cao Diêu)

 

Nguyên văn:

 

伏以

聖境高遙、稽首求榮花富貴、神仙廣大、誠心禱福壽康寧。拜疏爲越南國...省、...縣(郡)、...社、...村、家居奉

佛聖上香獻供...事。今信主...等、惟日仰干、四府公同、御前炤鑒。言念、生逢季世、幸獲人倫、荷乾坤至大至高、功弘覆載、感仙聖最靈最爽、德廣炤鑒。茲者本月吉日、列陳香花、燈茶品供。今則謹具疏文、和南拜白。

南無大慈悲父救苦救難靈感應觀世音菩薩證明。恭奉、三元三品三官三府公同四府大帝玉陛下。天仙地天山仙水仙尊位聖母珠宮下。西宮王母本命主仙。上天天衣阿那演婆主玉聖母珠宮下。管該山岳九州黎邁大王。上天上岸中天水府諸位德朝聖女。五行六峒白兔金精木精聖女。三峒火風神女仙婆。上天二位狀元尊翁尊神。上天上岸中天水府諸位皇太子。諸位公主聖前。上天上岸中天水府監察欽差十二朝郡。十二姑左右百官文武臣僚、五雷靈官、五虎大將、統及侍從部下、一切威靈、同垂炤鑒、共降吉祥。伏願、

聖德巍巍、仙宮蕩蕩、俾弟子駢臻百福、南山壽考於龜齡、護全家會合千祥、北海添疇於鶴算。仰願

佛聖扶持之大力也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏   

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Thánh cảnh cao diêu, khể thủ cầu vinh hoa phú quý; thần tiên quảng đại, thành tâm đảo phước thọ an ninh.

Bái sớ vị: Việt Nam quốc, … Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, ... Thôn, gia cư phụng Phật Thánh thượng hương hiến cúng ... sự. Kim tín chủ ... đẳng, duy nhật ngưỡng can, Tứ Phủ Công Đồng, ngự tiền chiếu giám.

Ngôn niệm: Sanh phùng quý thế, hạnh hoạch nhân luân; hà càn khôn chí đại chí cao, công hoằng phú tải; cảm tiên thánh tối linh tối sảng, đức quảng chiếu lâm. Tư giả bổn nguyệt cát nhật, liệt trần hương hoa đăng trà phẩm cúng. Kim tắc cẩn cụ sớ văn, hòa nam bái bạch.

Nam Mô Đại Từ Bi Phụ Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát chứng minh.

Cung phụng: Tam Nguyên,1 Tam Phẩm,2 Tam Quan, Tam Phủ3 Công Đồng, Tứ Phủ4 Đại Đế Ngọc Bệ Hạ.

Thiên Tiên, Địa Tiên, Sơn Tiên, Thủy Tiên Tôn Vị Thánh Mẫu Chầu Cung Hạ.

Tây Cung Vương Mẫu Bổn Mạng Chúa Tiên.

Thượng Thiên Thiên Y A Na5 Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Mẫu Chầu Cung Hạ.

Quản Cai Sơn Nhạc Cửu Châu Lê Mại Đại Vương.6

Thượng Thiên Thượng Ngàn Trung Thiên Thủy Phủ Chư Vị Đức Chầu Thánh Nữ.

Ngũ Hành Lục Động Bạch Thố Kim Tinh Mộc Tinh Thánh Nữ.

Tam Động Hỏa Phong Thần Nữ Tiên Bà.

Thượng Thiên Nhị Vị Trạng Nguyên Tôn Ông Tôn Thần.

Thượng Thiên Thượng Ngàn Trung Thiên Thủy Phủ Chư Vị Hoàng Thái Tử, Chư Vị Công Chúa Thánh Tiền.

Thượng Thiên Thượng Ngàn Trung Thiên Thủy Phủ Giám Sát Khâm Sai Thập Nhị Triều Quận, Thập Nhị Cô Nương,7 Tả Hữu Bá Quan Văn Võ, Thần Liêu Ngũ Lôi Linh Quan, Ngũ Hổ Đại Tướng,8thống cập thị tùng bộ hạ nhất thiết oai linh, đồng thùy chiếu giám, cọng giáng cát tường.

Phục nguyện: Thánh đức nguy nguy,9 Tiên cung đãng đãng;10 tỷ đệ tử biền trăn11 bách phước, Nam Sơn thọ khảo ư quy linh;12 hộ toàn gia hội hợp thiên tường, Bắc Hải thiêm trù ư hạc toán. Ngưỡng nguyện Phật Thánh, phò trì chi đại lực dã. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Thánh cảnh cao xa, cúi đầu cầu vinh hoa phú quý; Thần tiên rộng lớn, thành tâm đảo bệnh thọ khang ninh.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật Thánh, dâng hương cúng lễ ... Nay có tín chủ … ngưỡng mong Công Đồng Bốn Phủ, ngự đến chứng giám.

Nép nghĩ: Sanh gặp đời tốt, lại được làm người; nhờ trời đất quá lớn quá cao, chở che trùm khắp; cảm Tiên Thánh quá linh quá ứng, đức cả chiếu giám. Nay gặp ngày lành tháng tốt, bày đủ hương hoa, đèn trà vật cúng. Con xin dâng trọn sớ văn, tâm thành lạy thỉnh:

Kính xin đức Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Từ Đại Bi Phụ Cứu Khổ Nạn Linh Cảm Ứng chứng giám cho.

Cùng xin: Tam Nguyên, Tam Phẩm, Tam Quan, Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ Đại Đế Ngọc Bệ Hạ.

Thiên Tiên, Địa Tiên, Sơn Tiên, Thủy Tiên Tôn Vị Thánh Mẫu Chầu Cung Hạ.

Tây Cung Vương Mẫu Bổn Mạng Chúa Tiên.

Thượng Thiên Thiên Y A Na Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Mẫu Chầu Cung Hạ.

Quản Cai Sơn Nhạc Cửu Châu Lê Mại Đại Vương.

Thượng Thiên Thượng Ngàn Trung Thiên Thủy Phủ Chư Vị Đức Chầu Thánh Nữ.

Ngũ Hành Lục Động Bạch Thố Kim Tinh Mộc Tinh Thánh Nữ.

Ba Động Hỏa Phong Thần Nữ Tiên Bà.

Thượng Thiên Hai Vị Trạng Nguyên Tôn Ông Tôn Thần.

Thượng Thiên Thượng Ngàn Trung Thiên Thủy Phủ Chư Vị Hoàng Thái Tử, Chư Vị Công Chúa Thánh Tiền.

Thượng Thiên Thượng Ngàn Trung Thiên Thủy Phủ Giám Sát Khâm Sai Thập Nhị Triều Quận, Mười Hai Cô Nương, trăm quan văn võ phải trái, Thần Liêu Ngũ Lôi Linh Quan, Ngũ Hổ Đại Tướng, tất cả bộ hạ theo hầu, hết thảy oai linh, cùng thương chứng giám, ban cho cát tường.

Cúi mong: Đức thánh ngút ngàn, cung Tiên vời vợi; giúp đệ tử trăm phước cùng đến, sống thọ Nam Sơn như tuổi rùa; hộ cả nhà thảy gặp duyên lành, thêm ruộng Bắc Hải bằng số hạc. Ngưỡng mong Phật Thánh phò trì sức mạnh lớn. Kính dâng sớ.

Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

Phần chú thích:

  1. Tam Nguyên (三元): (1) Trời, đất và người, đồng nghĩa với Tam Tài (三才). (2) Thượng Nguyên (上元, rằm tháng Giêng), Trung Nguyên (中元, rằm tháng 7) và Hạ Nguyên (下元, rằm tháng 10). (3) Ngày đầu năm, ý muốn nói về ngày đầu tiên của một ngày, tháng và năm, đồng nghĩa với Tam Thỉ (三始), Tam Triêu (三朝). (4) Tên gọi 3 người thi đậu Tiến Sĩ hạng cao nhất dưới thời nhà Minh. (5) Giải Nguyên (解元), Hội Nguyên (會元) và Trạng Nguyên (狀元), ba người đứng đầu trong 3 cuộc thi Hương, Hội và Đình được tổ chức dưới thời nhà Thanh. (6) Trong Đạo Gia, nó có nghĩa là trời, đất và nước (nghĩa trong bài).
  2. Tam Phẩm (三品): (1) Vàng, bạc và đồng. (2) Ba loại tiền đồng có hình thái đặc thù được dùng dưới thời nhà Hán: tiền rồng (), tiền ngựa (馬幣) và tiền rùa (龜幣). (3) Ba giai cấp thượng, trung và hạ của con người. (4) Chức vị Tam Phẩm thứ 3 tính từ Nhất Phẩm đến Cửu Phẩm (nghĩa trong bài). (5) Ba giai cấp vãng sanh Cực Lạc: thượng phẩm, trung phẩm và hạ phẩm.
  3. Tam Phủ (三府): danh từ để chỉ ba vị thánh thần trong hệ thống tín ngưỡng Việt Nam gồm: (1) Thiên Phủ (天府), tức Bà Trời hay Thiên M (天姥), Bà Chúa Xứ (婆主處), Mẫu Thượng Thiên (母上天), Thiên Tiên Thánh Mẫu (天仙聖母), Liễu Hạnh Quỳnh Hoa Công Chúa(柳杏公主), Tam Thế Sinh Hóa (三世生化), Sắc Phong Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương Mã Hoàng Công Chúa (勅封制勝和妙大王馬皇公主), cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp. (2) Nhạc Phủ (岳府), tức Bà Đất hay Bà Chúa Sông, Mẫu Thượng Ngàn (母上岸), Sơn Lâm Chúa Tiên (山林主仙), Quế Hoa Công Chúa (桂花公主), Lê Triều Công Thần (朝功臣), Diệu Tín Diệu Nghĩa Thiền Sư Sắc Phong Lê Mại Đại Vương (妙信妙義禪師勅封黎邁大王), trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh. (3) Thoải Phủ (水府, hay Thủy Phủ), tức Bà Nước hay Bà Chúa Lạch, Mẫu Thoải (母水), Mẫu Thoải Cung (母水宮), Thủy Cung Công Chúa (水宮公主), Bát Hải Động Đình Thần Nữ (八海洞庭神女), Bạch Ngọc Thủy Tinh Xích Lân Long Nữ Công Chúa (白玉水晶赤麟公主), trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp. Trong bài Văn Thỉnh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên có đoạn rằng: “Thỉnh mời đệ nhất Thiên Tiên, sắc phong Chế Thắng xe loan ngự về, Phủ Giầy Vân Cát thôn quê, giáng sinh vào cửa họ Lê cải Trần, hình dong cốt cách thanh tân, mười năm định giá hôn nhân xướng tùy.” Hay trong Văn Thỉnh Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn có câu: “Thỉnh mời đệ nhị Chúa Tiên, vốn xưa bà ngự trên đền Đông Cuông, hình dong nhan sắc khác thường, giá danh đòi một hoa vương vẹn mười, biết đâu lá thắm thơ bài, lòng trinh chẳng động một vài giá xuân.” Và trong Văn Thỉnh Mẫu Đệ Tam Thoải Cung cũng có câu: “Thỉnh mời đệ tam Thánh Tiên, Xích Lân Long Nữ ngự đền Thoải Cung, Kính Xuyên sớm kết loan phòng, Thảo Mai tiểu thiếp ra lòng gieo oan, Kính Xuyên chẳng xét ngay gian, nỡ đem đầy chốn lâm sơn một mình.
  4. Tứ Phủ (四府): bên cạnh Tam Phủ, Địa Phủ (地府) được đưa vào để hình thành Tứ Phủ. Địa Phủ là Mẫu Đệ Tứ, quản lí vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống. Tứ Phủ được tôn thờ tại hầu hết các chùa chiền miền Bắc.
  5. Thiên Y A Na (天衣阿那): theo truyền thuyết của người Chăm, đây là vị thần sáng tạo ra đất đai, cây cối, rừng, gỗ quý, lúa, bắp, v.v., và dạy dân cách trồng trọt. Qua bao biến thiên của thời gian, hình tượng nữ thần Por Nagar được Việt hóa, trở thành đức Thánh Mẫu Thiên Y A Na mầu nhiệm, đầy quyền năng và luôn sử dụng quyền năng của mình để che chở cho những ai gặp bất trắc. Tiếng Chăm, Pô Yang Inư Nagar Kaut Hara có nghĩa là Thiên Ya Na Thánh Mẫu, là nữ thần Mẹ Xứ Sở của bộ tộc Kaut. là từ danh xưng dùng cho thần thánh thiêng liêng, được dịch là Thiên (). Yang có nghĩa là Trời, Thánh Thần (nhiều dân tộc Tây Nguyên cũng dùng âm tiếng với ý nghĩa như vậy hoặc đọc trại là Giàng, theo người Ê Đê ở vùng Buôn Ma Thuột, tỉnh Đak Lak và tỉnh Khánh Hòa. Inư là mẹ đã mất, Nagar là xứ sở, đất nước. Inư Nagar đã được phiên âm Việt là Y A Na. Kaut Hara là thị tộc Kaut. Theo truyền thống của người Chăm Pa, nữ thần Pô Nagar được sinh ra từ mây trời và bọt biển; có đến 97 người chồng, sinh được 38 người con, trong đó có 3 nữ thần được bà trao quyền phép: Nữ thần xứ trầm Pô Nagar Galâu, Nữ thần vùng Phan Rang Pô Tdara Nai Anaith và Nữ thần vùng Phan Thiết Pô Bia Tikuk. Hiện nay, bà Pô Nagar được người Chăm thờ ở các đền tháp tại Hữu Đức (Ninh Thuận), Thanh Hiếu thuộc huyện Bắc Bình và Hòn Bà thuộc Huyện Hàm Tân, Bình Thuận, cùng nhiều làng ở Tỉnh Khánh Hòa. Tại Tháp Bà Nha Trang và Điện Hòn Chén ở Huế cũng có thờ Bà Pô Nagar (Thiên Y A Na), được xem như là hai địa phương tập trung lớn nhất, từ thời Đàng Trong. Lễ Hội Am Chúa để tưởng niệm nữ thần Thiên Y A Na được nhân dân trong vùng tôn sùng là Bà Chúa, bà mẹ của xứ sở tại Am Chúa, nơi thờ nữ thần Pô Nagar (Thiên Y A Na) được tổ chức vào ngày 22 tháng 4 Âm Lịch hằng năm trên sườn núi Đại An (núi Chúa), thuộc xã Diên Điền, huyện Diên Khánh. Đây là nơi nữ thần giáng trần, sống thời thơ ấu với hai vợ chồng tiều phu già. Tại đây cũng có miếu thờ và tượng Bà. Ðiện Hòn Chén tôn thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na từ thế kỷ XVI, hàng năm cử hành lễ hội vào hai kỳ: tháng ba và tháng bảy Âm Lịch. Thánh Mẫu Thiên Y A Na được thờ ở Ðiện Hòn Chén (tiếng Hán là Ngọc Trản Sơn Từ [玉盞山祠]) có gốc là nữ thần của Chàm, khi người Việt đến định cư ở vùng đất Thuận Hóa, thấy bà linh thiêng cũng thờ theo. Chữ Thiên là từ Hán Việt được ghép vào Y A Na có nguồn từ đó, sản sinh từ thời phong kiến. Theo truyền thuyết dân gian Chăm, nữ thần Pô Nagar là con của Ngọc Hoàng Thượng Đế được sai xuống trần gian, bà có công lao tạo ra trái đất và các loại gỗ trầm, lúa gạo. Hương mộc và kỳ nam là thứ gỗ tượng trưng cho sự linh hiển của Nữ Thần. Bà còn làm tỏa hương gạo ngọt ngào, cổ vũ dân trồng cây Bồ Đề. Trong chín vị vua triều Nguyễn, vua Đồng Khánh (同慶, tại vị 1885-1889) là một tín đồ rất ngưỡng mộ vị Thánh Mẫu nầy. Vì vậy, năm 1886 đức vua đã cho tu sửa đền và đặt tên là Huệ Nam Điện (惠南殿, Huệ Nam có nghĩa là ban ơn huệ cho nước Nam). Vua Đồng Khánh còn làm thơ văn ca tụng công đức của Mẫu Thiên Y A Na. Chính vua đã ban hành việc dùng quốc lễ để tế tại Huệ Nam Điện. Trong bài Văn Tế cúng Bà hằng năm tại Khánh Hòa có đoạn rằng: “Nay đến kỳ xuân tế, chúng con cung trần lễ mọn, với tấm lòng thành, kính dâng lên Bà là đấng u vi danh ngời Ba Cõi, cầu mong Bà mở đức thần minh, cho con dân khỏi vướng đau thương, không điều thù oán; thành tâm cẩn trọng cúi mong Bà ban phước cho dân làng an ổn; kính dâng lên đức Bà là đấng “phí văn, phí kiến”, sắc màu, lễ vật báo đáp thâm ân ! Ngưỡng mong: Đức Bà gia ơn ban phước; một lòng phủ phục, tưởng niệm kính dâng !
  6. Danh hiệu của Nhạc Phủ (岳府), tức Bà Đất hay Bà Chúa Sông, Mẫu Thượng Ngàn (母上岸), gọi đủ là Diệu Tín Diệu Nghĩa Thiền Sư Sắc Phong Lê Mại Đại Vương (妙信妙義禪師勅封黎邁大王). Mẫu Thượng Ngàn là “Bà Mẹ Trên Rừng”, theo huyền tích Việt chính là Nam Phương Thánh Mẫu, vợ của Nam Phương Thánh Chúa Kinh Dương Vương. Văn cúng Mẫu Thượng Ngàn thường được dùng là: “Riêng một thú trên ngàn thiếu lĩnh, đỉnh non bồng một cảnh sơn trang, xinh thay thời thú trên ngàn, bầu Trời cảnh Phật phong quang bốn mùa, trên bát ngát trăm hoa đua nở, dưới cảnh rừng bầy thú dạo chơi, chim bay chấp chới mọi nơi, cá theo dòng nước đua bơi vẫy vùng, trên ngàn tùng gió rung lác đác, đỉnh sườn non đá xếp cheo leo, sông Thương nước chảy trong veo, người xuôi kẻ ngược hò reo vang lừng, núi xếp núi mấy tầng cao thấp, cây chen cây tràn ngập màu xanh, càng nhìn đồi núi càng xinh, hoa phô sắc thắm đua tranh mọi màu, ngắm thích chí một bầu phong cảnh, mùi cơm lam thịt thính tính ưa, Đồng Đăng Ao Cả Chợ Bờ, Sông Thao sông Cả sông Bờ sông Dâu, kìa ngư phủ buông câu thả lưới, nọ tiều phu đốn củi rừng sâu, bốn mùa gió mát trăng thâu, non nhân nước trí một bầu cảnh tiên, thú cảnh vật rừng sim ao cá, sẵn mang giang măng trúc măng tre, bạn Tiên đủng đỉnh ra về, nón chiêng hài xảo lẵng huê ngạt ngào, sớm Sông Lô tối vào Tuần Hạc, bạn Tiên ngồi đàn hát líu lo, rượu tăm hiến đủ ba vò, cơm lam thịt thính khế chua măng vầu, thoi độc mộc đua nhau bẻ lái, vượt muôn trùng thác Cái ghềnh con, ầm ầm nước chảy đá mòn, xa nghe tiếng vượn ru con buồn rầu, loài bách thú rủ nhau tìm đến, vượt muôn trùng dâng tiến quả hoa, lệnh truyền bạch tượng chín ngà, Tiên Cô giá ngự kèn loa xập xình, ngự tính tình đàn thông phách trúc, nhịp xênh ngô sáo trúc véo von, xa nghe tiếng cú gọi hồn, rừng thiêng nước độc đầu non hổ gầm, loài cầy cáo âm thầm lặng lẽ, lũ gà rừng thường lệ điểm canh, nửa đêm giờ Tý hiện hình, áo chàm hoa thắm đai xanh mỹ miều, giận hài xảo lưng đeo cung tiễn, hú ba quân thẳng tiến rừng sâu, lệnh truyền Mán mọi sơn đầu, nghe Cô hạ lệnh rủ nhau mà về, cho trấn khắp sơn khê rừng cấm, các cửa rừng Bắc Nẫm sông Neo, dù ai mắc bệnh hiểm nghèo, Tiên Cô phù chú bệnh đều tan không, kẻ xuôi ngược dốc lòng thành kính, nguyện đời đời hưng thịnh đề đa, thỉnh Cô trắc giáng đền tòa, khuông phù đệ tử vinh hoa thọ trường.” Trong tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn, Nguyễn Xuân Khánh có viết rằng: “Đèn, nến, nhang, khói, ánh vàng son làm tòa điện vừa lung linh vừa huyền ảo. Trên điện thờ, ở chỗ cao nhất là ba bức tượng Tam Tòa Thánh Mẫu. Ở giữa là Mẫu Thượng Thiên, hai bên là Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn. Ở những đền phủ to còn cả tượng của Tứ Phủ chầu bà, có nơi còn có cả Ngũ Vị Tôn Ông. Nhưng đền Mẫu Kẻ Đình là đền không to lắm nên không có. Ba pho tượng, trước đây chỉ sơn son giản dị, khi bà cụ Tổ cô lên làm thủ đầu, đã cho thếp vàng. Ba pho tượng vàng rực rỡ ấy hắt ánh sáng đều khắp. Ba Mẫu như rưới tỏa những luồng từ lực xuống khắp tòa điện, tạo nên một bầu không khí tươi vui, an lành. Ba pho tượng còn phản chiếu, trao đổi ánh sáng lẫn cho nhau, làm cho khách thập phương ở dưới nhìn lên, có cảm giác như những pho tượng ấy đang khoác lên người những vầng hào quang rực rỡ. Bức hoành phi nền đỏ với bốn chữ vàng ‘Mẫu Nghi Thiên Hạ’ thật chói lọi. Tất cả bầu không khí uy nghiêm ấy làm cho những kẻ, dù ngỗ nghịch nhất, vào đây cũng phai trở thành con người hoàn toàn khác.
  7. Thập Nhị Cô Nương (十二姑): 12 vị cô nương trong tín ngưỡng Đạo Mẫu của Việt Nam, gồm: (1) Cô Đệ Nhất Thượng Thiên (Thiên Phủ); (2) Cô Đôi Thượng Ngàn (Nhạc Phủ); (3) Cô Bơ Hàn Sơn (Thoải Phủ), tức là Cô Ba Bông; (4) Cô Tư Khâm Sai (Địa Phủ); (5) Cô Năm Suối Lân (Nhạc Phủ); (6) Cô Sáu Sơn Trang (Nhạc Phủ); (7) Cô Bảy Tân La (Nhạc Phủ); (8) Cô Tám Đồi Chè (Nhạc Phủ); (9) Cô Chín Sòng Sơn (Thiên Phủ); (10) Cô Mười Đồng Mỏ (Nhạc Phủ); (11) Cô Bé Thượng (Thiên Phủ, Nhạc Phủ), tức Cô Bé Đông Cuông,và (12) Bé Thoải (Thoải Phủ), tức Cô Bé Tây Hồ.
  8. Ngũ Hổ Đại Tướng (五虎大將): tên 5 vị đại tướng theo tín ngưỡng Đạo Mẫu của Việt Nam, gồm: (1) Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Thanh Hổ Thần Quan (東方甲乙木德青虎神官), (2) Nam Phương Bính Đinh Hoả Đức Xích Hổ Thần Quan (南方丙丁火德赤虎神官), (3) Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan (中央戊已土德黃虎神官), (4) Tây Phương Canh Thân Kim Đức Bạch Hổ Thần Quan (西方庚辛金德白虎神官) và (5) Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Hắc Hổ Thần Quan (北方壬癸水德黑虎神官). Bên cạnh đó, đối với Trung Quốc, Ngũ Hổ Đại Tướng còn là tên gọi của 5 vị tướng tài do Lưu Bị (劉僃, 161-223) tấn phong sau khi chiếm được nhà Hán, như trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義) hồi thứ 73 có đoạn rằng: “Phong Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Mã Siêu, Hoàng Trung vi Ngũ Hổ Đại Tướng (封關羽、張飛、趙雲、馬超、黃忠爲五虎大將, phong cho Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Mã Siêu, Hoàng Trung làm chức Ngũ Hổ Đại Tướng).”
  9. Nguy nguy (巍巍): lồng lộng, vời vợi.
  10. Đãng đãng (蕩蕩): rộng rãi, bình dị, thư thái, thong dong, ào ạt.
  11. Biền trăn (駢臻): đến cùng một lúc, cùng đến. Câu “bách phước biền trăn (百福駢臻, trăm điều phước cùng đến)” thường đi đôi với “thiên tường vân tập (千祥雲集, ngàn điều lành vân tập).” Ngoài ra, trong dân gian cũng rất thông dụng câu “ngũ phước biền trăn (福駢臻, năm phước cùng đến)”, “song phước biền trăn (雙福駢臻, hai phước cùng đến).” Thiền Sư Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦, 1592-1673), Tổ Sư sáng lập Hoàng Bá Tông Nhật Bản, có làm câu đối rằng: “Bách phước biền trăn ngưỡng kí bang cơ vĩnh cố, Tam Môn trấn tĩnh trường kỳ Tổ đạo đông hưng (百福駢臻仰冀邦基永固三門鎮靜長期祖道東興, trăm phước cùng đến ngưỡng mong quốc gia mãi vững, Thiền môn thanh tĩnh dài lâu Tổ đạo hưng long).”
  12. Quy linh (龜齡): tuổi rùa. Rùa là loại động vật có tuổi thọ rất lâu, cho nên để ví cho người có tuổi thọ, người ta thường dùng từ quy linh. Bên cạnh đó, tương truyền hạc cũng là loài chim sống sống đến cả ngàn năm; vì vậy có từ hạc toán (鶴算). Cụm từ “quy linh hạc toán(龜齡鶴算)” nầy thường được dùng chung để dụ cho người trường thọ cũng như để chúc thọ, đồng nghĩa với quy niên hạc thọ (龜年鶴壽). Nó vốn xuất xứ từ bài từ Thủy Điệu Ca Đầu (水調歌頭, phần Vi Trịnh Tử Lễ Đề Hình Thọ [爲鄭子禮提刑壽]) của Ninh Hầu Trí (甯侯): “Tọa hưởng quy linh hạc toán, ổn bội kim ngư ngọc đới, thường cận giả hoàng bào (坐享龜齡鶴算、穩佩金魚玉帶、常近赭, ngồi hưởng tuổi thọ lâu dài, đeo mãi cá vàng dây ngọc, thường gần áo đỏ hoàng bào).” Cũng như trong bài thơ Du Tiên Thi (遊仙詩) của Quách Cảnh Thuần (郭景純, ?-?) nhà Tấn có câu: “Tá vấn phù du bối, ninh tri quy hạc niên (借問蜉蝣輩、寧知龜鶴, mượn hỏi hàng nhện nước, mới biết tuổi sống lâu).”