41. Sớ Cúng Con Gái
(Thanh Trọc Thỉ Phân)
Nguyên văn:
伏以
清濁始分、可使三才竝立、陰陽氣合、能令萬物咸亨、慈雲普覆、撫提弱喪之魂、法雨均霑、極拔先亡之女。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒。
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。竊念、門楣女子、愛如掌上之珠、閨閣佳兒、護若人間之目、何期世數、冥路遙登、仰祈
佛聖之恩、庶免沈淪之苦。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、三界高超、速脫焚籠之繫、九幽早出、懇生聖道之家、萬刼存明、千秋不絕。仰賴
佛恩、證明之不可思議也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Thanh trọc thỉ phân, khả sử Tam Tài1 tinh lập; âm dương khí hợp, năng linh vạn vật hàm hanh; từ vân phổ phú, phủ đề nhược táng chi hồn; pháp vũ quân triêm, cực bạt tiên vong chi nữ.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Thiết niệm: Môn mi nữ tử, ái như chưởng thượng chi châu; khuê các giai nhi, hộ nhược nhân gian chi mục; hà kỳ thế số, minh lộ diêu đăng; ngưỡng kỳ Phật thánh chi ân, thứ miễn trầm luân chi khổ. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện: Tam Giới cao siêu, tốc thoát phần lung2 chi hệ; Cửu U3 tảo xuất, khẩn sanh thánh đạo chi gia; vạn kiếp tồn minh, thiên thu bất tuyệt. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
- đục mới phân, khiến cho Tam Tài cùng lập; âm dương khí hợp, giúp cùng vạn vật đều thông; mây lành trùm khắp, an ủi chết sớm vong hồn; mưa pháp thấm đều, cứu độ hương linh người nữ.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Nép nghĩ: Quyền quí nữ lưu, thương như hạt châu trên tay; khuê các hài nhi, giữ như con người tròng mắt; lúc nào mạng số, nẻo tối sớm về; ngưỡng cầu Phật Thánh ơn cao, thoát khỏi trầm luân cảnh khổ. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Ba Cõi vượt cao, mau thoát lồng lửa ràng buộc; Cửu U sớm ra, sanh vào Thánh đạo gia đường; vạn kiếp sáng tươi, ngàn thu bất tuyệt. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Tam Tài (三才): ba yếu tố, gồm: thiên (天, trời), địa (地, đất) và nhân (人, người); như trong Chu Dịch (周易), Hệ Từ Hạ (繫辭下) có câu: “Hữu thiên đạo yên, hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên, kiêm tam tài nhi lưỡng chi (有天道焉、有人道焉、有地道焉、兼三才而兩之, có đạo trời, có đạo người, có đạo đất vậy; kiêm cả Tam Tài mà gấp đôi lên).” Ngoài ra, về mặt y lý, Tam Tài còn là tên gọi của 3 huyệt đạo trong con người; như trong Biển Thước Thần Ứng Châm Cứu Ngọc Long Kinh (扁鵲神應針灸玉龍經), Tiêu U Phú (標幽賦) có câu: “Thiên địa nhân Tam Tài dã, Dũng Tuyền đồng Tuyền Ki Bách Hội (天地人三才也、湧泉同璇璣百會, trời, đất, người là Tam Tài; cũng là Dũng Tuyền cùng với Tuyền Ki và Bách Hội).” Câu “thanh trọc thỉ phân, khả sử Tam Tài tinh lập (清濁始分、可使三才竝立)” có nghĩa là lúc đầu tiên phân chia ra hai thái cực đục và trong, có thể làm cho ba yếu tố trời, đất và người cùng tồn tại chung.
- Phần lung (焚籠): cái lồng đốt cháy rực lửa. Trong Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh Nghĩa Thích Diễn Mật Sao (大毗盧遮那成佛神變加持經義釋演密鈔) có giải thích rằng: “Phần lung giả, hỏa lung dã. Tây Kinh Tạp Ký viết: ‘Thiên tử dĩ tượng nha vi hỏa lung, vị chi phần lung dã.’ Nhất thiết chúng sanh hằng xử Tam Giới vi nghiệp, phiền não chi sở thiêu bức, bất đắc xuát ly, như lung phi cầm; cố vân hỏa lung dã (焚籠者、火籠也、西京雜記曰、天子以象牙爲火籠、謂之焚籠也、一切眾生恒處三界爲業、煩惱之所燒逼、不得出離、如籠飛禽、故云焚籠也, phần lung là lò lửa. Tây Kinh Tạp Ký bảo rằng: ‘Nhà vua lấy ngà voi làm lồng lửa, gọi đó là phần lung.’ Hết thảy chúng sanh thường sống nơi Ba Cõi tạo nghiệp, bị phiền não bức cháy, chẳng thể ra khỏi, giống như con chim bay nằm trong lồng; cho nên mới gọi là lồng bốc cháy).” Hay như trong Chỉ Huyền Thiên (指伭篇) của Đạo Giáo có câu: “Tu luyện hoàn đơn, khiêu xuất phần lung, diệc thiềm chi nguyện dã (修煉還丹、跳出焚籠、亦蟾之願也, tu luyện thành đơn, nhảy ra lồng lửa, đó cũng là chí nguyện của con cóc).”
Cửu U (九幽): chín tầng Địa Ngục tối tăm. Theo Thượng Thanh Linh Bảo Tế Độ Đại Thành Kim Thư (上清靈寶濟度大成金書) có giải thích rằng: “Cửu U giả, nãi Bắc Đẩu chi sở hóa dã; đông viết U Minh, nam viết U Âm, tây viết U Dạ, bắc viết U Phong, đông bắc viết U Đô, đông nam viết U Trị, tây nam viết U Quan, tây bắc viết U Phủ, trung ương viết U Ngục (九幽者、乃北斗之所化也、東曰幽冥、南曰幽陰、西曰幽夜、北曰幽酆、東北曰幽都、東南曰幽治、西南曰幽關、西北曰幽府、中央曰幽獄, Cửu U là do Bắc Đẩu hóa thành; phương đông có U Minh, phương nam có U Âm, phương tây có U Dạ, phương bắc là U Phong, phương đông bắc là U Đô, phương đông nam là U Trị, phương tây nam là U Quan, phương tây bắc là U Phủ, ở trung ương là U Ngục).” Cho nên, trong nghi thức phá Địa Ngục của Đạo Giáo có “Cửu U Đăng Nghi (九幽燈儀).” Còn trong bài kệ nguyện chuông buổi sáng được dùng trong các tự viện Phật Giáo có câu: “Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm, thượng triệt Thiên Đường, hạ thông Địa Phủ, thượng chúc chư Phật Bồ Tát quang chiếu càn khôn, hạ tư pháp giới chúng sanh đồng nhập Nhất Thừa, Tam Giới Tứ Sanh chi nội, các miễn luân hồi, Cửu U Thập Loại chi trung, tất ly khổ hải, ngũ phong thập vũ, miễn tao cơ cẩn chi niên, nam mạch đông giao, câu chiêm Nghiêu Thuấn chi nhật, can qua vĩnh tức, giáp mã hưu chinh, trận bại thương vong, câu sanh Tịnh Độ, phi cầm tẩu thú, la võng bất phùng, lãng tử cô thương, tảo hoàn hương tỉnh, vô biên thế giới, địa cửu thiên trường, viễn cận Đàn Na, tăng diên phước thọ (洪鐘初叩、寶偈高吟、上徹天堂、下通地府、上祝諸佛菩薩光照乾坤、下資法界眾生同入一乘、三界四生之內、各免輪回、九幽十類之中、悉離苦海、五風十雨、免遭飢饉之年、南陌東郊、俱瞻堯舜之日、干戈永息、甲馬休征、陣敗傷亡、俱生淨土、飛禽走獸、羅網不逢、浪子孤商、早還鄉井、無邊世界、地久天長、遠近檀那、增延福壽, chuông vừa mới đánh, kệ báu ngâm cao, trên thấu Thiên Đường, dưới thông Địa Phủ, trên chúc chư Phật Bồ Tát chiếu sáng càn khôn, dưới ban pháp giới chúng sanh cùng vào Nhất Thừa, trong chốn Ba Cõi Bốn Loài, đều miễn luân hồi; Mười Loại Cửu U Địa Ngục, tất rời biển khổ, năm gió mười mưa, miễn gặp nghèo đói hằng năm, bờ nam cõi đông, đều hưởng trọn ngày Nghiêu Thuấn, can qua mãi dứt, ngựa chiến dừng chân, bại trận chết thương, thảy sanh Tịnh Độ, chim bay thú chạy, lưới bẫy thôi sa, lãng tử buôn xa, sớm về quê cũ, vô biên thế giới, trời đất lâu dài, Đàn Na xa gần, tăng trưởng phước thọ).”