42. Sớ Cúng Cháu Trai

(Tam Đế Viên Minh)

 

Nguyên văn:

 

伏以

三諦圓明、彰難思於勝景、十身充滿、應無量之虔心、香花焚設、迓諸

聖以垂慈、美饌芳馨、仰衆眞而俯納。疏爲越南國...省...縣[]...社...村、家堂奉

修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干

大覺能仁、俯垂炤鑒。

奉爲...之香靈。仝承

佛法以弘深、全賴經文而解脫。竊念、庭前蘭秀、欲堂階以生芳、門下枝孫、振家聲而有繼、春光早去、反令白髪追思、年少歸冥、逆使老形垂恫、靈仙傳化、用攜稚子超淪、梵席開恩、悲救幼兒脫苦。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏

南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。

南無接引導師阿彌陀佛作大證明。

南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。

南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、妄心不起、自然罪業原空、眞智現前、法再本光卽現、深知淨土、不離方寸之間、了悟

彌陀、只在性天之內。仰賴

佛恩證明之不可思議也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Tam Đế1 viên minh, chương nan tư ư thắng cảnh; Thập Thân2 sung mãn, ứng vô lượng chi kiền tâm; hương hoa phần thiết, nhạ chư thánh dĩ thùy từ; mỹ soạn phương hinh, ngưỡng chúng chơn nhi phủ nạp.

Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.

Phụng vị … chi hương linh.

Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.

Thiết niệm: Đình tiền lan tú, dục đường giai dĩ sanh phương; môn hạ chi tôn, chấn gia thanh nhi hữu kế; xuân quang tảo khứ, phản linh bạch phát truy tư; niên thiếu quy minh, nghịch sử lão hình thùy đỗng; linh tiên truyền hóa, dụng huề trĩ tử siêu luân; phạm tịch3 khai ân, bi cứu ấu nhi thoát khổ. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.

Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.

Phục nguyện: Vọng tâm bất khởi, tự nhiên tội nghiệp nguyên không; chơn trí hiện tiền, pháp tái bổn quang tức hiện; thâm tri Tịnh Độ,4 bất ly phương thốn chi gian; liễu ngộ Di Đà, chỉ tại tánh thiên chi nội. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.

Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

  1. Đế sáng tròn, rạng ngời khó lường thắng cảnh; Mười Thân đầy đủ, ứng hiện vô lượng tâm thành; hương hoa đốt cúng, đón chư Thánh thảy rũ lòng; cỗ ngon thơm lừng, mong đấng trên thường nạp thọ.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:

Hương linh ...

Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.

Nép nghĩ: Trước sân lan nở, cho nhà cửa thêm ngát hương; con cháu trong nhà, chấn thanh danh mà kế thế; ánh xuân sớm dứt, khiến cho đầu bạc buồn lo; tuổi nhỏ ra đi, làm tuổi già càng xót dạ; linh tiên giáo hóa, dẫn dắt con trẻ siêu luân; pháp Phật mở ơn, thương cứu hài nhi thoát khổ. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:

Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.

Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.

Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.

Lại nguyện: Tâm sai chẳng khởi, tự nhiên tội nghiệp thành không; chơn trí trước mắt, pháp lại sáng ngời hiển hiện; biết rõ Tịnh Độ, chẳng rời khoảnh khắc ngần trong; liễu ngộ Di Đà, chỉ tại trong tâm hiện hữu. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Tam Đế (三諦): gồm Không (), Giả (), và Trung () được Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597) triển khai thuyết Chơn Tục Nhị Đế (眞俗二諦) từ tư tưởng Tam Quán (三觀). Có nghĩa rằng nếu đứng trên bình diện phủ định thì hết thảy các tồn tại đều không có thật thể nên được xem là không và gọi là Không Đế (空諦). Tuy thật thể không có, nhưng trên bình diện khẳng định thì hết thảy các pháp đều tồn tại nhờ nhân duyên, nên được xem như là giả và gọi là Giả Đế (假諦). Và nếu đứng về mặt bản thể siêu việt cả không và giả thì cả Không Đế cũng như Giả Đế đều mang tính hiện tượng cả, nên được gọi là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế (中道第一義諦). So với Tam Đế của Biệt Giáo, Tam Đế của Viên Giáo được gọi là Tam Đế Viên Dung (三諦圓融) của cái gọi là Tức Không Tức Giả Tức Trung mà dung nhiếp cả Tam Đế vào trong một đế. Như trong Thỉ Chung Tâm Yếu Chú (始終心要注) do Kinh Khê Đại Sư Trạm Nhiên (荊溪大師湛然, 711-782) thuật, có đoạn: “Tam Đế thị nhất pháp, Phật thuyết chủng chủng danh, Long Mãnh ngộ chi nhi tạo luận, Trí Giả đắc chi dĩ khai thác, Kinh Khê truyền chi vi tâm yếu (三諦是一法佛說種種名龍猛悟之而造論智者得之以開拓荊溪傳之爲心要, Tam Đế là một pháp, Phật thuyết đủ các tên, Long Thọ ngộ nó mà tạo ra luận, Trí Khải đạt được nó mà khai thác, Kinh Khê truyền nó làm tâm yếu).”
  2. Thập Thân (十身): 10 loại thân của chư Phật, Bồ Tát, còn gọi là Thập Phật (), có 8 loại khác nhau. (1) Mười Thân do đức Như Lai chứng đắc, Hoa Nghiêm Tông gọi là Hành Cảnh Thập Phật (行境十佛), gồm: Bồ Đề Thân (菩提身, là thân Phật thị hiện Tám Tướng thành đạo), Nguyện Thân (願身, thân Phật nguyện sanh về cõi trời Đâu Suất [s: Tuita, p: Tusita, 兜率]), Hóa Thân (化身, hóa thân sanh trong vương cung), Trú Trì Thân (住持身, thân sau khi tịch diệt để lại Xá Lợi để giữ gìn Phật pháp), Tướng Hảo Trang Nghiêm Thân (相好莊嚴身, thân Phật với vô biên tướng hảo trang nghiêm), Thế Lực Thân (勢力身, thân Phật lấy từ tâm nhiếp phục tất cả), Như Ý Thân (如意身, thân Phật hiện sanh như ý), Phước Đức Thân (福德身, thân Phật thường trú nơi định Tam Muội), Trí Thân (智身, chỉ Bốn Trí như Đại Viên Cảnh Trí [大圓境智], v.v.), Pháp Thân (法身, bản tánh hiểu được Trí Thân). (2) Mười Thân do vị Bồ Tát Thập Địa chứng đắc, gồm: Bình Đẳng Thân (平等身, Bồ Tát ở Địa Thứ Nhất rời các tà khúc, thông đạt pháp tánh, hiện thân bình đẳng), Thanh Tịnh Thân (清淨身, Bồ Tát ở Địa Thứ Hai xa lìa những tổn thất về phạm giới, giới thể thanh tịnh, nên chứng được thân nầy), Vô Tận Thân (無盡身, Bồ Tát ở Địa Thứ Ba rời các tham sân, đạt được định thù thắng, nên có thân nầy), Thiện Tu Thân (善修身, Bồ Tát ở Địa Thứ Tư thường siêng năng tu tập Bồ Đề Phần, nên có được thân nầy), Pháp Tánh Thân (法性身, Bồ Tát ở Địa Thứ Năm quán lý của các Đế, chứng các pháp tánh, nên có được thân nầy), Bất Khả Giác Tri Thân (不可覺知身, Bồ Tát ở Địa Thứ Sáu quán lý Duyên Khởi [s: pratītya-samutpāda, p: paticca-samppāda, 緣起], xa rời các Tầm, Tứ, nên có được thân nầy), Bất Tư Nghì Thân (不思議身, Bồ Tát ở Địa Thứ Bảy thiện xảo phương tiện, trí hạnh viên mãn, nên có được thân nầy), Tịch Tĩnh Thân (寂靜身, Bồ Tát ở Địa Thứ Tám xa lìa các việc hý luận phiền não, nên có được thân nầy), Hư Không Thân (虛空身, Bồ Tát ở Địa Thứ Chín có thân tướng vô tận, biến khắp tất cả, nên có tên gọi như vậy), Diệu Trí Thân (妙智身, Bồ Tát ở Địa Thứ Mười chứng đắc tất cả các loại trí, tu hành viên mãn, nên có được thân nầy). (3) Trong Hư Không Nhẫn Thứ Mười của Mười Nhẫn (十忍), vị Bồ Tát chứng đắc 10 loại thân, gồm: Vô Lai Thân (無來身), Bất Sanh Thân (不生身), Bất Tu Thân (不修身), Cụ Túc Bất Thật Thân (具足不實身), Nhất Tướng Thân (一相身), Vô Lượng Thân (無量身), Bình Đẳng Thân (平等身), Bất Hoại Thân (不壞身), Chí Nhất Thiết Xứ Thân (至一切處身), Ly Dục Tế Thân (離欲際身). (4) Tại Thiện Pháp Hạnh Thứ Chín của Mười Hạnh (十行), vị Bồ Tát chứng đắc 10 loại thân, gồm: Vô Lượng Vô Biên Pháp Giới Thân (無量無邊法界身), Vị Lai Thân (未來身), Bất Sanh Thân (不生身), Bất Diệt Thân (不滅身), Bất Thật Thân (不實身), Ly Si Vọng Thân (離癡妄身), Vô Lai Khứ Thân (無來去身), Bất Hoại Thân (不壞身), Nhất Tướng Thân (一相身), Vô Tướng Thân (無相身). (5) Sau khi tu hành viên mãn Mười Hồi Hướng (十廻向), vị Bồ Tát chứng đắc 10 loại thân, gồm: Bồ Tát Bất Lai Thân (菩薩不來身), Bồ Tát Bất Khứ Thân (菩薩不去身), Bồ Tát Bất Thật Thân (菩薩不實身), Bồ Tát Bất Hư Thân (菩薩不虛身), Bồ Tát Bất Tận Thân (菩薩不盡身), Bồ Tát Kiên Cố Thân (菩薩堅固身), Bồ Tát Bất Động Thân (菩薩不動身), Bồ Tát Tướng Thân (菩薩相身), Bồ Tát Vô Tướng Thân (菩薩無相身), Bồ Tát Phổ Chí Thân (菩薩普至身). (6) Trong Mười Hồi Hướng, Hồi Hướng Thứ Mười là vị Bồ Tát hồi hướng cho chúng sanh 10 loại thân, gồm: Minh Tịnh Thân (明淨身), Ly Trược Thân (離濁身), Cứu Cánh Tịnh Thân (究竟淨身), Thanh Tịnh Thân (清淨身), Ly Trần Thân (離塵身), Ly Chủng Chủng Trần Thân (離種種塵身), Ly Cấu Thân (離垢身), Quang Minh Thân (光明身), Khả Ái Lạc Thân (可愛樂身), Vô Ngại Thân (無礙身). (7) Trong Mười Địa, tại Hoan Hỷ Địa (歡喜地), vị Bồ Tát chứng đắc 10 loại thân, gồm: Ba La Mật Thân (波羅蜜身), Tứ Nhiếp Thân (四攝身), Đại Bi Thân (大悲身), Đại Từ Thân (大慈身), Công Đức Thân (功徳身), Trí Tuệ Thân (智慧身), Tịnh Pháp Thân (淨法身), Phương Tiện Thân (方便身), Thần Lực Thân (神力身) và Bồ Đề Thân (菩提身). (8) Trong Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) có thuyết về 10 loại thân, gồm: Chúng Sanh Thân (眾生身), Quốc Độ Thân (國土身), Nghiệp Báo Thân (業報身), Nhất Văn Thân (一聞身), Độc Giác Thân (獨覺身), Bồ Tát Thân (菩薩身), Như Lai Thân (如來身), Trí Thân (智身), Pháp Thân (法身) và Hư Không Thân (虛空身). Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Hải Ấn Đạo Tràng Thập Trùng Hạnh Nguyện Thường Biến Lễ Sám Nghi (大方廣佛華嚴經海印道塲十重行願常遍禮懺儀) có câu: “Nam Mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Trung Hoa Tạng Thế Giới Hải Thập Thân Vô Ngại Bổn Tôn Tỳ Lô Giá Na Phật (南無大方廣佛華嚴經中華藏世界海十身無礙本尊毗盧遮那佛).”
  3. Phạm tịch (梵席): chỗ ngồi trong các tự viện, đặc biệt thường dùng để chỉ chỗ ngồi để thuyết giảng, tụng kinh, làm các Phật sự; đôi khi đồng nghĩa với pháp tịch (法席). Như trong Pháp Hoa Linh Nghiệm Truyện (法華靈驗傳) quyển Hạ có câu: “Kim hạnh kiệt thành Trương Hoàng phạm tịch, dục vấn nhất nhị đại chỉ, nhiên thủ hộ thần tương ha cấm bất nhập, bằng hoàng môn ngoại sổ nhật hỉ (今幸竭誠張皇梵席欲問一二大旨然守護神將呵禁不入彷徨門外數日矣, nay đã kiệt sức, may gặp pháp hội của Trương Hoàng, muốn hỏi một hai yếu chỉ quan trọng, nhưng thần thủ hộ khiển trách, cấm không cho vào, tôi bàng hoàng ở ngoài cửa mấy ngày vậy).”
  4. Tịnh Độ (淨土, Jōdo): hai chữ lấy từ câu “Thanh Tịnh Quốc Độ (清淨國土)” của bản Hán dịch Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經). Theo Thỉ Hoàng Bổn Kỷ (始皇本紀) của Sử Ký (史記), Thanh Tịnh (清淨, trong sạch) nghĩa là “(quốc độ) trong ngoài thanh tịnh”. Bên cạnh đó, từ nầy còn gọi là Tịnh Sát (淨刹). Chữ sát () trong trường hợp nầy là âm tả của tiếng Sanskrit ketra, nghĩa là thế giới vĩnh viễn có phước đức trong sạch; đối xứng với thế giới nầy là thế giới hiện thực Uế Độ (穢土). Nếu cho rằng Uế Độ là thế giới của kẻ phàm phu thì Tịnh Độ là thế giới của chư Phật (thường được gọi là Phật Độ [佛土], Phật Quốc [佛國], Phật Giới [佛界], Phật Sát [佛刹]). Trong lịch sử tư tưởng Phật Giáo, Tịnh Độ được chia thành 3 loại: Lai Thế Tịnh Độ (來世淨土), Tịnh Phật Quốc Độ (淨佛國土) và Thường Tịch Quang Độ (常寂光土). Lai Thế Tịnh Độ là cõi Tịnh Độ sau khi chết, được lập ra cho đời sau, tưởng định ở bốn hướng đông tây nam bắc như thế giới Tây Phương Cực Lạc (西方極樂) của A Di Đà Phật (s: Amitābha Buddha, 阿彌陀佛), Đông Phương Diệu Hỷ Quốc (東方妙喜國) của A Súc Phật (s: Akobhya Buddha, 阿閦佛) là nổi tiếng nhất. Nguyên lai, cõi nầy được nghĩ ra theo hướng sùng bái đức Phật và vốn phát xuất từ tư tưởng chư Phật ở quốc độ khác đời sau. Nói tóm lại, đức Phật của cõi hiện tại không còn, nhưng nếu sau khi mạng chung đời sau được sanh về thế giới khác thì sẽ được gặp chư Phật. Tín ngưỡng vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc của A Di Đà Phật rất thịnh hành ở Nhật Bản, từ đó phát sanh tín ngưỡng ngay lúc lâm chung có A Di Đà Phật đến tiếp rước (lai nghênh [來迎]). Những tín ngưỡng nầy được giáo lý hóa và tư tuởng Tịnh Độ Niệm Phật phát triển mạnh, từ đó tranh vẽ về các đồ hình Tịnh Độ Biến Tướng cũng như Lai Nghênh xuất hiện. Tịnh Phật Quốc Độ có nghĩa là “làm trong sạch quốc độ Phật”. Nguyên lai, Phật Quốc Độ (s: buddha-ketra, 佛國土) ám chỉ tất cả thế giới do chư Phật thống lãnh, nhưng ở đây muốn nói đến thế giới hiện thực; cho nên Tịnh Phật Quốc Độ còn có nghĩa là Tịnh Độ hóa thế giới hiện thực. Nói cách khác, đây là cõi Tịnh Độ của hiện thực. Trong kinh điển Đại Thừa có thuyết rằng chư vị Bồ Tát thường nổ lực giáo hóa trong Tịnh Phật Quốc Độ, vì vậy thế giới được lập nên với sự nổ lực của vị Bồ Tát luôn tinh tấn thực hành Phật đạo trong cõi hiện thực chính là Tịnh Phật Quốc Độ. Từ đó, thông qua sự hoạt động của hàng Phật Giáo đồ Đại Thừa trong xã hội hiện thực, đây là cõi Tịnh Độ được nghĩ ra đầu tiên. Thường Tịch Quang Độ là cõi Tịnh Độ tuyệt đối vượt qua tất cả hạn định, nếu nói một cách tích cực thông qua tín ngưỡng, đây là cõi Tịnh Độ ngay chính trong hiện tại, bây giờ, ở đây. Với ý nghĩa đó, đây là cõi Tịnh Độ tồn tại ngay trong hiện thực nầy. Chính Thiên Thai Trí Khải (天台智顗) có thuyết về thế giới nầy, như trong Duy Ma Kinh Văn Sớ (維摩文疏) có lập ra 4 quốc độ, đặt Thường Tịch Quang Độ là cõi Tịnh Độ tuyệt đối, cứu cánh cuối cùng, cõi có Phật thân là Pháp Thân Độ (法身土), hay còn gọi là Pháp Tánh Độ (法性土). Cách gọi tên Thường Tịch Quang Độ được lấy từ Quán Phổ Hiền Kinh (觀普賢經), phần kết kinh của Pháp Hoa Kinh (法華經). Thế giới hiện thực còn được gọi là thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆), cõi Thường Tịch Quang Độ vốn có trong thế giới Ta Bà, cho nên xuất hiện câu “Ta Bà tức Tịch Quang (娑婆卽寂光)”. Ba loại thuyết về Tịnh Độ vừa nêu trên đôi khi có mâu thuẩn, đối lập nhau. Tỷ dụ như, Lai Thế Tịnh Độ là cõi hạn định và tương đối nhất, là thuyết phương tiện cho hạng có căn cơ thấp kém; nhưng thuyết chân thật thì cho cõi nầy là Thường Tịch Quang Độ—Tịnh Độ tuyệt đối vượt qua khỏi mọi giới hạn của nơi nầy và nơi kia, sống và chết; cho nên pháp môn Tịnh Độ Niệm Phật dựa trên cơ sở của Lai Thế Tịnh Độ bị phê phán không ít và sự tuyệt đối hóa chính cõi Lai Thế Tịnh Độ cũng được thử nghiệm xem sao. Từ lập trường khẳng định hiện thực của tư tưởng Bản Giác, v.v., Thường Tịch Quang Độ rất được hoan nghênh. Tuy nhiên, khi lâm chung, con người vẫn có nguyện vọng được vãng sanh. Với một sự thật không thể nào chối từ được như vậy, ngay như Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397)—người từng cho rằng Lai Thế Tịnh Độ là cõi thấp đi chăng nữa, vẫn có niệm nguyện được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Phật Di Đà lúc ông lâm chung. Tại Nhật Bản, cho đến nay tín ngưỡng Lai Thế Tịnh Độ vẫn tiếp tục cắm sâu gốc rễ và bối cảnh của tín ngưỡng nầy có liên quan đến tâm tình giống như trường hợp Trí Khải. Trong bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh của thi hào Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) có câu rằng: “Nhờ phép Phật siêu sinh Tịnh Độ, phóng hào quang cứu khổ độ u, khắp trong tứ hải quần chu, não phiền trút sạch oán thù rửa trong.” Hay trong Tây Sương Ký (西廂記) cũng có câu: “Dần dần từ lối ấy sang, rõ ràng Tịnh Độ, rõ ràng Tây Thiên.” Như trong Khuyến Tu Tịnh Độ Thi (勸修淨土詩) của Đại Sư Thật Hiền Tỉnh Am (實賢省庵, 1686-1734) nhà Thanh có câu: “Túc hạ thời thời du Tịnh Độ, tâm đầu niệm niệm tuyệt Ta Bà (足下時時遊淨土心頭念念絕娑婆, dưới chân luôn luôn chơi Tịnh Độ, trong tâm mỗi niệm dứt Ta Bà).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語, CBETA No. 1277) cũng có câu: “Bất bằng Tịnh Độ dĩ siêu sanh, hạt sử vong hồn chi độ thoát (不憑淨土以超生曷使亡魂之度脫, chẳng nương Tịnh Độ để siêu sanh, sao khiến vong hồn được độ thoát).”