46. Sớ Thầy Cúng Trò
(Thiên Vương Tam Nhật)
Nguyên văn:
伏以
天王三日、護持國界邊疆、
佛体三身、圓顯衆生性理、度源無度、能令四相全空、安卽非安、可使六根清淨。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、...寺奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒。
嗣臨濟正宗...之覺靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。竊念、檀林上首、秉承
佛道之規、禪室賢徒、相續法燈之望、無常催促、大命止于生年、奄忽辭歸、眼光落於塵境、恐纒夙障輪廻、特啟今修薦拔。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、今生已徃、當投正信之家、他代將來、復遇明師之訓、釋迦敎內、栽培微妙之因、彌勒會中、得証眞空之果。仰賴
佛恩、證明之不可思議也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子沙門號...和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Thiên vương tam nhật, hộ trì quốc giới biên cương; Phật thể Tam Thân, viên hiển chúng sanh tánh lý; độ nguyên vô độ, năng linh Tứ Tướng1 toàn không; an tức phi an, khả sử Lục Căn thanh tịnh.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, … Tự phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh … sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.
Tự lâm tế chánh tông … chi giác linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Thiết niệm: Đàn lâm2 thượng thủ, bỉnh thừa Phật đạo chi quy; Thiền thất3 hiền đồ, tương tục pháp đăng4 chi vọng; vô thường thôi xúc, đại mạng chỉ vu sanh niên; yểm hốt từ quy, nhãn quang lạc ư trần cảnh; khủng triền túc chướng5 luân hồi, đặc khải kim tu tiến bạt. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện: Kim sanh dĩ vãng, đương đầu chánh tín chi gia; tha đại tương lai, phục ngộ minh sư chi huấn; Thích Ca giáo nội, tài bồi vi diệu chi nhân; Di Lặc6 hội trung, đắc chứng chơn không chi quả. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử Sa Môn hiệu … hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
- Vương ba nhật, giữ gìn quốc giới biên cương; Phật thể Ba Thân, hiển bày chúng sanh tánh lý; độ vốn chẳng độ, khiến cho Bốn Tướng đều không; an mà chẳng an, làm cho Sáu Căn thanh tịnh.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có chùa thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Chơn linh ... nối dòng Lâm Tế Chánh Tông …
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Nép nghĩ: Thiền lâm thượng thủ, vâng theo Phật đạo môn quy; Thiền thất trò ngoan, nối tiếp đèn pháp kỳ vọng; vô thường thôi thúc, mạng lớn dừng lúc sống còn; chợt lánh xa lìa, nhãn quang rụng nơi trần thế; buộc ràng nghiệp chướng luân hồi, riêng mở đạo tràng cúng tiến. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Đời nay đã hết, đầu thai chánh tín gia đường; đời khác tương lai, được gặp minh sư giáo huấn; Thích Ca giáo lý, dưỡng nuôi vi diệu nhân lành; Di Lặc hội duyên, chứng đắc chơn không quả mãn. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử Sa Môn hiệu … thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Tứ Tướng (四相): bốn tướng thể hiện sự biến chuyển, sinh diệt của các pháp; còn gọi là Tứ Hữu Vi (四有爲), Tứ Hữu Vi Tướng (四有爲相), Tứ Bổn Tướng (四本相), thuộc về Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp (心不相應行法). Theo Phát Trí Luận (發智論) quyển 2, Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論) quyển 38, 39, Câu Xá Luận (倶舍論) quyển 5, v.v., tất cả các pháp hữu vi đều là vô thường, chịu sự chi phối của 4 tướng: (1) Sanh (s: jāti, 生), còn gọi là Sanh Tướng (生相), tức pháp hữu vi từ vị trí tương lai sanh cho đến vị trí hiện tại; (2) Trụ (s: sthiti, 住), còn gọi là Trụ Tướng (住相), tức pháp hữu vi an trú ở vị trí hiện tại; (3) Dị (s: anyathātva, 異), hay Dị Tướng (異相), tức pháp hữu vi biến dị ở vị trí hiện tại; (4) Diệt (s: aniyatā, 滅), hay Diệt Tướng (滅相), tức pháp hữu vi từ vị trí hiện tại diệt chuyển đến vị trí quá khứ. Trong Tông Kính Lục (宗鏡錄) quyển 74 có đoạn: “Tứ Tướng câu thời, vô hữu tự lập, Sanh Trụ Dị Diệt, nhất tâm nhi chuyển, Tứ Tướng câu hữu vi tâm sở thành, ly nhất tâm ngoại, vô biệt tự thể (四相俱時、無有自立、生住異滅、一心而轉、四相俱有爲心所成、離一心外、無別自體, khi Bốn Tướng cùng có mặt, không có tướng nào tự lập được, Sanh Trụ Dị Diệt, một tâm mà chuyển hết, Bốn Tướng đều được hình thành do tâm hữu vi, nếu lìa ngoài tâm ấy, không có tự thể riêng).” Bên cạnh đó, nó là 4 tướng được thuyết trong Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh (金剛般若波羅蜜經) do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch, gồm: (1) Ngã Tướng (我相), tức là đối với pháp Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊), chúng sanh lầm cho ngã và ngã sở là thật có. (2) Nhân Tướng (人相), nghĩa là đối với pháp Ngũ Uẩn, chúng sanh lầm cho ngã sanh trong cõi người là con người, khác với ngã trong các cõi khác. (3) Chúng Sanh Tướng (衆生相), nghĩa là đối với pháp Ngũ Uẩn, chúng sanh lầm cho ngã nầy nương vào sự hòa hợp của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức để sanh ra. (4) Thọ Giả Tướng (壽者相), nghĩa là đối với pháp Ngũ Uẩn, chúng sanh lầm cho ngã chịu thọ mạng một kỳ (từ sanh đến chết), ngắn dài không nhất định, tùy theo từng người mà khác nhau.
- Đàn Lâm (檀林): nguyên lai, nó là từ gọi tắt của Chiên Đàn Lâm (旃檀林), nơi chúng tăng hòa hợp, tập trung tu hành; thường chỉ cho tự viện; cho nên nó cũng là tên gọi khác của tự viện Phật Giáo. Về sau, nó trở thành cơ sở học vấn của Phật Giáo, vì tính chất cũng như cơ năng của nó giống như Học Lâm (學林), Học Liêu (學寮). Tại Nhật Bản, Đàn Lâm Viện (檀林院) được xây dựng vào năm thứ 3 (853) niên hiệu Nhân Thọ (仁壽) được xem như là tiền thân đầu tiên của Đàn Lâm. Đến thời đại Đức Xuyên (德川, Tokugawa), các tông phái bắt đầu thiết kế những cơ sở học vấn Đàn Lâm và Quan Đông Thập Bát Đàn Lâm (關東十八檀林, 18 cơ sở học vấn Đàn Lâm ở vùng Quan Đông) là tiêu biểu, nổi tiếng nhất. Riêng Tào Động Tông, trong khuôn viên của Cát Tường Tự (吉祥寺, Kichijō-ji) ở Giang Hộ (江戸, Edo) có Chiên Đàn Lâm với rất nhiều tăng chúng đến tham học. Tương truyền đến năm thứ 3 (1774) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), nơi đây có đến 641 người. Khoảng vào năm đầu (1624) niên hiệu Khoan Vĩnh, Quan Đông Thập Bát Đàn Lâm được thành lập, mà người hình thành hệ thống là Nguyên Dự Tồn Ứng (源譽存應, Genyō Zonō, 1544-1620), vị tổ đời thứ 12 của Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji). Đây là 18 ngôi tự viện có cơ cấu giáo dục cho tăng sĩ của Tịnh Độ Tông Nhật Bản, gồm: (1) Quang Minh Tự (光明寺, Kōmyō-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]); (2) Thắng Nguyện Tự (勝願寺, Shōgan-ji) ở Hồng Sào (鴻巢, Konosu, thuộc Saitama-ken [埼玉縣]); (3) Thường Phước Tự (常福寺, Jōfuku-ji) ở Qua Liên (瓜連, Urizura, thuộc Ibaraki-ken [茨城縣]); (4) Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji) ở Đông Kinh (東京, Tokyo); (5) Hoằng Kinh Tự (弘經寺, Gukyō-ji) ở Phạn Chiểu (飯沼, Iinuma, thuộc Ibaraki-ken); (6) Đông Tiệm Tự (東漸寺, Tōzen-ji) ở Tùng Hộ (松戸, Maddo, thuộc Chiba-ken [千葉縣]); (7) Đại Nham Tự (大巖寺, Daigan-ji) ở Thiên Diệp (千葉, Chiba, thuộc Chiba-ken); (8) Liên Hinh Tự (蓮馨寺, Renkei-ji) ở Xuyên Việt (川越, Kawagoe, thuộc Saitama-ken); (9) Đại Thiện Tự (大善寺, Daizen-ji) ở Bát Vương Tử (八王子, Hachiōji, thuộc Tokyo); (10) Tịnh Quốc Tự (淨國寺, Jōkoku-ji) ở Nham Quy (岩槻, Iwatsuki, thuộc Saitama-ken); (11) Đại Niệm Tự (大念寺, Dainen-ji) ở Đạo Phu (稻敷, Inashiki, thuộc Ibaraki-ken); (12) Thiện Đạo Tự (善導寺, Zendō-ji) ở Quán Lâm (館林, Tatebayashi, thuộc Gunma-ken [群馬縣]); (13) Hoằng Kinh Tự (弘經寺, Gukyō-ji) ở Thường Tổng (常總, Jōsō, thuộc Ibaraki-ken); (14) Linh Sơn Tự (靈山寺, Reizan-ji) ở Mặc Điền (墨田, Sumida, thuộc Tokyo); (15) Phan Tùy Viện (幡隨院, Banzui-in) ở Tiểu Kim Tỉnh (小金井, Koganei, thuộc Tokyo); (16) Truyền Thông Viện (傳通院, Denzū-in) ở Văn Kinh (文京, Bunkyō, thuộc Tokyo); (17) Đại Quang Viện (大光院, Daikō-in) ở Thái Đa (太田, Ōta, thuộc Gunma-ken); (18) Linh Nham Tự (靈巖寺, Reigan-ji) ở Thâm Xuyên (深川, Fukagawa, thuộc Tokyo). Trong Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Nghi (孔雀尊經科儀) có câu: “Chiên Đàn Lâm nội lục thù giá trọng ư Ta Bà, Cấp Cô Viên trung nhất chú thông tân ư Linh Thứu, cổ chế bàn toàn thanh thoại khí, ngọc lô liêu nhiễu bích tường vân, ngã kim nhiệt xử hiến Như Lai, duy nguyện từ bi ai nạp thọ (旃檀林內六銖價重於娑婆、給孤園中一炷通津於靈鷲、古晢盤旋清瑞氣、玉爐繚遶碧祥雲、我今熱處獻如來、唯願慈悲哀納受, trong Chiên Đàn lâm sáu cây giá nặng bằng Ta Bà, nơi Vườn Cấp Cô một nén hương xông tận Linh Thứu, sao xưa xoay chuyển trong lành khí, lò ngọc tỏa vờn mây xanh thiêng, con nay đốt lên cúng Như Lai, cúi mong từ bi thương lãnh thọ).” Hay trong Chứng Đạo Ca (證道歌) của Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺, 675-713) cũng có câu: “Chiên Đàn Lâm vô tạp thọ, uất mật sum trầm sư tử trú, cảnh tĩnh lâm nhàn độc tự du, tẩu thú phi cầm giai viễn khứ (旃檀林無雜樹、鬱密森沈師子住、境靜林間獨自遊、走獸飛禽皆遠去, Chiên Đàn Lâm chẳng cây tạp, rừng rậm thâm u sư tử sống, cảnh vắng non nhàn mặc ngao du, thú chạy chim bay đều xa lánh).”
- Thiền thất (禪室): (1) Thiền Đường dành cho Tọa Thiền. (2) Phòng Phương Trượng, nơi vị trú trì ở. (3) Từ đó, nó có nghĩa là tên gọi khác của vị trú trì. Tại Phương Trượng Thất của Thủy Liêm Tự (水簾寺) ở Đồng Bá Sơn (桐柏山), Tỉnh Hà Nam (河南省) có câu đối: “Tăng tọa Bồ Đoàn tế tiễn sơn vân phùng cựu nạp, khách lai Thiền thất nhàn cảo thạch hỏa chử tân trà (僧坐蒲團細剪山雲縫舊衲、客來禪室閒敲石火煮新茶, tăng ngồi Bồ Đoàn cắt nhỏ mây núi may áo cũ, khách đến Thiền thất nhàn mài đá lửa nấu trà thơm).” Hay như nơi câu 5 trong 12 câu thỉnh Cô Hồn tương truyền do Thi Sĩ Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) sáng tác, có đoạn: “Nhất tâm triệu thỉnh: Xuất trần thượng sĩ, phi tích cao tăng, tinh tu Ngũ Giới tịnh nhân, phạm hạnh Tỳ Kheo Ni chúng, hoàng hoa thúy trúc, không đàm bí mật chơn thuyên, bạch cổ lê nô, tùng diễn khổ không diệu kệ. Ô hô ! Kinh song lãnh tẩm tam canh nguyệt, Thiền thất hư minh bán dạ đăng. Như thị truy y Thích tử chi lưu, nhất loại cô hồn đẳng chúng (一心召請、出塵上士、飛錫高僧、精修五戒淨人、梵行比丘尼眾、黃花翠竹、空談秘密眞詮、白牯黧奴、徒演苦空妙偈、嗚呼、經窗冷浸三更月、禪室虛明半夜燈、如是緇衣釋子之流、一類孤魂等眾, Một lòng triệu thỉnh: ly trần thượng sĩ, chứng đạt cao tăng, chuyên tu Năm Giới tịnh nhân, các Tỳ Kheo Ni phạm hạnh, hoa vàng trúc biếc, chơn pháp bí mật luận không, trâu trắng mèo đen, nhọc thuyết khổ không diệu kệ. Than ôi ! Trăng canh ba qua cửa lạnh thấm, đèn nửa khuya Thiền thất ảo mờ. Như vậy dòng tu sĩ mặc áo thâm đen, một loại cô hồn các chúng).”
- Pháp đăng (法燈): ngọn đèn chánh pháp, vì chánh pháp được ví như ngọn đèn sáng, có thể chiếu sáng và phá tan mọi u tối của thế gian. Trong Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh (千光眼觀自在菩薩祕密法經) có đoạn: “Thiện tai ! Thiện tai ! Thánh Quán Tự Tại ! Tùng vô lượng kiếp lai, thành tựu đại bi pháp môn lợi ích chúng sanh, ư sanh tử khổ hải vi tác thuyền phiệt, ư vô minh ám thường vi pháp đăng, duy nguyện Đại Thánh phổ vi đại hội cập đương lai nhất thiết chúng sanh cố, tùy ngã đẳng vấn năng thuyết kỳ pháp (善哉、善哉、聖觀自在、從無量劫來、成就大悲法門利益眾生、於生死苦海爲作船筏、於無明闇常爲法燈、唯願大聖普爲大會及當來一切眾生故、隨我等問能說其法, Lành thay ! Lành thay ! Thánh Quán Tự Tại ! Từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu pháp môn đại bi, làm lợi ích chúng sanh, nơi biển khổ sanh tử làm thuyền bè, nơi chỗ tối tăm vô minh thường làm ngọn đèn pháp; xin nguyện Đại Thánh rộng vì đại hội và hết thảy chúng sanh trong tương lai, tùy theo chỗ chúng con hỏi mà có thể nói pháp nầy).” Hay như trong bài Đại Đường Thần Đô Thanh Long Tự Cố Tam Triều Quốc Sư Quán Đảnh A Xà Lê Huệ Quả Hòa Thượng Chi Bi (大唐神都青龍寺故三朝國師灌頂阿闍梨惠果和尚之碑) do Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai, 774-835) soạn, có đoạn: “Hoặc tác nhất nhân sư, hoặc vi Tứ Chúng y, pháp đăng mãn giới, lưu phái biến vức, tư cái đại sư chi pháp thí dã (或作一人師、或爲四眾依、法燈滿界、流派遍域、斯蓋大師之法施也, hoặc làm thầy của một người, hoặc làm nơi nương tựa cho Bốn Chúng, đèn pháp đầy cõi, dòng phái khắp nơi, cũng nhờ pháp thí của đại sư vậy).”
- Túc chướng (夙障): chướng ngại, nghiệp chướng của đời trước. Như trong Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Ước Luận (觀無量壽佛經約論) có câu: “Năng tu Thập Thiện, đối trị Thập Ác, tắc túc chướng tiệm trừ, túc chướng ký trừ, cố vãng sanh vô ngại (能修十善、對治十惡、則夙障漸除、夙障旣除、故徃生無礙, có thể tu Mười Thiện, đối trị Mười Ác, tất nghiệp chướng đời trước dần tiêu trừ, khi nghiệp chướng đời trước đã tiêu trừ, thì vãng sanh không trở ngại nữa).” Hay như trong Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh (楞伽阿跋多羅寶經, Taishō No. 670) có đoạn: “Khánh Lịch trung thường vi trừ châu, chí nhất tăng xá, ngẫu kiến thử kinh, nhập thủ hoảng nhiên như hoạch cựu vật, khai quyển vị chung, túc chướng băng giải (慶曆中嘗爲滁州、至一僧舍、偶見此經、入手恍然如獲舊物、開卷未終、夙障冰解, trong thời gian niên hiệu Khánh Lịch [慶曆, 1041-1048], tôi thường làm việc ở Trừ Châu, đến một tăng xá nọ, tình cờ gặp kinh nầy, cầm trên tay mà hoảng nhiên như gặp lại vật cũ, bèn mở chưa hết quyển kinh, thì nghiệp chướng đời trước tiêu tan).” Hoặc trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) lại có câu: “Túc chướng thâm trọng, bệnh ma tương triền, tùng thử vi Cửu Hoa chi ẩn, dĩ vi khả chung thân hỉ (夙障深重、病魔相纏、從此爲九華之隱、以爲可終身矣, nghiệp chướng đời trước sâu nặng, ma bệnh trói buộc nhau, từ đây bèn lên ẩn cư trên Cửu Hoa Sơn, lấy nơi đó làm nơi ở suốt đời vậy).”
- Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒): tức Bồ Tát Di Lặc, âm dịch là Mai Đát Ma Da (梅怛魔耶), Mạt Đát Rị Da (末怛唎耶), Di Đế Lệ (彌帝隸), Di Đế Lễ (彌帝禮), Mai Để Lê (梅低梨), Mê Đế Lệ (迷諦隸), Mỗi Đát Rị (每怛哩); ý dịch là Từ Thị (慈氏), Từ Tôn (慈尊). Bên cạnh đó, Bồ Tát còn có tên là A Dật Đa (s, j: Ajita, 阿逸多), dịch là Vô Năng Thắng (無能勝); cho nên có tên A Dật Đa Bồ Tát (阿逸多菩薩). Hoặc A Dật Đa là họ, Di Lặc là tên. Theo Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經), Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經), Bồ Tát Di Lặc vốn sanh ra trong một gia đình Bà La Môn ở miền nam Thiên Trúc (天竺), sau theo làm đệ tử của Phật, được thọ ký sẽ thành Phật trong tương lai. Hiện tại, ngài thường trú trên cung trời Đâu Suất (s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率). Theo truyện kể rằng, do muốn thành thục các chúng sanh, vị Bồ Tát nầy phát tâm không ăn thịt; vì nhân duyên đó nên có tên là Từ Thị. Tương truyền sau khi đức Phật diệt độ khoảng 56 ức 7 ngàn vạn năm (có thuyết cho là 57 ức 6 ngàn vạn năm), từ trên cung trời Đâu Suất, Bồ Tát Di Lặc hạ sanh xuống nhân gian, xuất gia học đạo, ngồi thành chánh giác dưới gốc cây Long Hoa (s: nāga-puṣpa, 龍華樹, Mesuna roxburghii Wigh, Mesuna ferrea) trong vườn Hoa Lâm (華林), Thành Xí Đầu (翅頭城), và thuyết pháp trước sau 3 lần. Đây được gọi là Long Hoa Tam Hội (龍華三會), Long Hoa Tam Đình (龍華三庭), Di Lặc Tam Hội (彌勒三會), Từ Tôn Tam Hội (慈尊三會), hay Long Hoa (龍華). Trong các kinh điển Đại Thừa, Bồ Tát Di Lặc được đề cập nhiều nơi. Tương truyền Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) vẫn chưa nhập diệt, mà còn đang nhập định trong Kê Túc Sơn (雞足山) để chờ đợi Phật Di Lặc xuất hiện. Hay có truyền thuyết cho rằngBồ Tát Di Lặc ở trên cung trời Đâu Suất, hạ sanh xuống cõi Ta Bà, thuyết Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論); cho nên, tư tưởng vãng sanh về cõi Đâu Suất trở nên thịnh hành và tín ngưỡng Di Lặc theo đó xuất hiện. Trong Mật Giáo, Di Lặc của Thai Tạng Giới ngự trên tòa sen, phương đông bắc của Trung Đài Bát Diệp Viện (中台八葉院); còn Di Lặc của Kim Cang Giới thì ngự ở phương đông, mật hiệu là Tốc Tật Kim Cang (迅疾金剛). Ngoài ra, Bố Đại Hòa Thượng (布袋, ?-916) ở Huyện Phụng Hóa (奉化縣), Minh Châu (明州), Triết Giang (浙江) được xem như là Di Lặc hóa thân. Trong Minh Châu Định Ứng Đại Sư Bố Đại Hòa Thượng Truyện (明州定應大師布袋和尚傳) có thuật rõ hành trạng của Hòa Thượng. Ông có bài kệ nổi tiếng là: “Nhất bát thiên gia phạn, cô thân vạn lí du, thanh mục đổ nhân thiểu, vấn lộ bạch vân đầu (一鉢千家飯、孤身萬里遊、青目覩人少、問路白雲頭, bình bát cơm ngàn nhà, thân chơi muôn dặm xa, mắt xanh xem người thế, mây trắng hỏi đường qua).” Sau khi thâu thần tịch diệt, Hòa Thượng có để lại bài kệ tại Nhạc Lâm Tự (岳林寺), Huyện Phụng Hóa: “Di Lặc chơn Di Lặc, phân thân thiên bách ức, thời thời thị thời nhân, thời nhân tự bất thức (彌勒眞彌勒、分身千百億、時時示時人、時人自不識, Di Lặc đúng Di Lặc, phân thân trăm ngàn ức, luôn luôn dạy mọi người, bấy giờ chẳng ai biết).” Từ đó, người ta tạc tượng Hòa Thượng để tôn thờ như là Phật Di Lặc. Trong Động Thượng Già Lam Chư Đường An Tượng Ký (洞上伽藍諸堂安像記) quy định trong 3 tôn tượng an trí tại Chánh Điện, có tượng Di Lặc, ghi rõ rằng: “Chi Na Thiên Đồng Sơn Phật Điện, an Thích Ca Di Đà Di Lặc, nhi ngạch ư Tam Thế Như Lai tứ tự dã. Nhật Bản Vĩnh Bình hiệu chi, Đông Sơn Tuyền Dũng Tự diệc thị dã; án Tuyền Dũng Tự điện đường sắc mục vân, Phật Điện giả an trí Thích Ca, Di Đà, Di Lặc, tam thế chi giáo chủ, dĩ vi nhất tự sùng ngưỡng chi bổn tôn dã. Đại Đường chư tự phổ giai như thử vân vân, y chi tắc an Tam Thế Như Lai giả, bất đản Thiên Đồng dư ? (支那天童山佛殿、安釋迦彌陀彌勒、而額於三世如來四字也。日本永平傚之、東山泉涌寺亦是也、案泉涌寺殿堂色目云、佛殿者安置釋迦彌陀彌勒三世之敎主、以爲一寺崇仰之本尊也。大唐諸寺普皆如此云云、依之則安三世如來者、不但天童歟, Điện Phật của Thiên Đồng Sơn ở Trung Quốc an trí Thích Ca, Di Đà và Di Lặc; trên biển đề bốn chữ ‘Tam Thế Như Lai [Như Lai Ba Đời]’. Vĩnh Bình Tự của Nhật Bản bắt chước theo; Tuyền Dũng Tự ở vùng Đông Sơn cũng như vậy. Căn cứ bản danh mục các ngôi điện đường của Tuyền Dũng Tự, nơi Chánh Điện án trí các đức giáo chủ của ba đời là Thích Ca, Di Đà và Di Lặc, để làm các tôn tượng thờ phụng của chùa. Những ngôi chùa của nước Đại Đường [Trung Quốc] thảy đều như vậy, v.v.; nương theo đó mà an trí các đức Như Lai của ba đời, không phải chỉ có Thiên Đồng Sơn mà thôi đâu).” Tại Điện Di Lặc của Thủy Liêm Tự (水簾寺) ở Đồng Bá Sơn (桐柏山), Tỉnh Hà Nam (河南省) có câu đối tán dương Bồ Tát Di Lặc rằng: “Khai khẩu tiện tiếu tiếu cổ tiếu kim phàm sự phó chi nhất tiếu, đại đỗ năng dung dung thiên dung địa ư nhân hà sở bất dung (開口便笑笑古笑今凡事付之一笑、大肚能容容天容地於人何所不容, mở miệng là cười cười xưa cười nay mọi sự phó cho nụ cười, bụng lớn bao dung dung trời dung đất với người chỗ nào chẳng dung).”