49. Sớ Vu Lan II

(Phật Từ Mẫn Thế)

 

Nguyên văn:

 

伏以

佛慈愍世、放十方接引之光、法寶效靈、極歷刼迷淪之苦、上奉遺規、下酬善願。爰越南國......縣[]...社...村、家居恭詣于...寺奉

佛修香諷經供養秋天盂蘭勝會、報恩度亡祈徃生淨土事。今齋主...合齋主...等。卽日焚香、心誠叩拜、恭干

大覺能仁、俯垂接度。

伏爲...之香靈。竊念、諸香靈自歸冥府、魂入幽關聚散、泣浮生音容何處覓。縈紵愁別、緒寤寐帯空、依莫委昇沈、用伸報答。茲者、日逢解制、旬遇中元、正冥府地官赦罪之期、依目連尊者度親之日。由是仗請禪和宣揚法事、諷誦盂蘭盆經、加持徃生神呪、集此勝因、祈陰者超生、願陽人安樂。今則道塲初啟、演淨疏文一函、和南拜白。

南無道塲敎主調御本師釋迦牟尼文佛作大證明青蓮座下。

南無西方接引九品導師阿彌陀佛金蓮座下。

南無盂蘭緣起大孝目犍連菩薩摩訶薩紅蓮座下。伏願、光明毫相、現化

佛以東來、晻映幢幡、接亡魂而西去。存亡兩利、生死均安、謹疏。

天運...年...月...福生日。

弟子...叩拜上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Phật từ mẫn thế, phóng thập phương tiếp dẫn chi quang; pháp bảo hiệu linh, cực lịch kiếp mê luân chi khổ; thượng phụng di quy, hạ thù thiện nguyện.

Viên: Việt Nam quốc ... Tỉnh ... Huyện (Quận) ... Xã ... Thôn, gia cư cung nghệ vu … Tự, phụng Phật tư hương phúng kinh cúng dường Thu thiên Vu Lan Thắng Hội, báo ân độ vong kỳ vãng sanh Tịnh Độ sự. Kim trai chủ ... hợp trai chủ ... đẳng, tức nhật phần hương, tâm thành khấu bái, cung can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy tiếp độ.

Phục vị ... chi hương linh.

Thiết niệm: Chư hương linh tự quy Minh Phủ,1 hồn nhập u quan tụ tán; khấp phù sanh âm dung hà xứ mích, oanh trữ sầu biệt, tự ngụ mị đới không, y mạc ủy thăng trầm, dụng thân báo đáp.

Tư giả nhật phùng giải chế, tuần ngộ Trung Nguyên; chánh Minh Phủ Địa Quan xá tội chi kỳ, y Mục Liên Tôn giả độ thân chi nhật. Do thị trượng thỉnh Thiền hòa tuyên dương pháp sự, phúng tụng Vu Lan Bồn Kinh,2 gia trì Vãng Sanh Thần Chú; tập thử thắng nhân, kỳ âm giả siêu sanh, nguyện dương nhân lợi lạc. Kim tắc đạo tràng sơ khải, diễn tịnh sớ văn nhất hàm, hòa nam bái bạch:

Nam Mô Đạo Tràng Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật tác đại chứng minh thanh liên3 tọa hạ.

Nam Mô Tây Phương Tiếp Dẫn Cửu Phẩm4 Đạo Sư A Di Đà Phật kim liên tọa hạ.

Nam Mô Vu Lan Duyên Khởi Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát hồng liên5 tọa hạ.

Phục nguyện: Quang minh hào tướng, hiện hóa Phật dĩ Đông lai; ám ánh tràng phan, tiếp vong hồn nhi Tây khứ; tồn vong lưỡng lợi, sanh tử quân an, cẩn sớ.

Thiên vận ... niên ... nguyệt ... phước sanh nhật.

Phụng vị đệ tử ... khấu bái thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Phật thương cõi thế, phóng hào quang tiếp dẫn mười phương; pháp báu nghiệm linh, cứu khổ não luân hồi muôn kiếp; quy cũ trên vâng, nguyện lành dưới đáp.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, kính thành đến Chùa …, dâng hương tụng kinh, cúng dường nhân dịp Vu Lan Thắng Hội mùa Thu, báo ơn cúng các vong linh quá cố, cầu nguyện vãng sanh Tịnh Độ. Nay có trai chủ ... cùng trai chủ ... dâng hương, thành tâm cúi lạy, Đại Giác Năng Nhân, xót thương tiếp độ.

Hương linh ...

Thiết nghĩ: Các hương linh tự về Minh Phủ, hồn nhập nẻo u tan hợp; khóc phù sinh bóng hình nào chốn thấy, mịt mờ cách biệt; trằn trọc thức canh không, bao thăng trầm nương gá, báo đáp làm sao. Hôm nay gặp ngày giải hạ, đúng tuần Trung Nguyên; nhân Địa Quan Minh Phủ xá tội thời kỳ, nương theo ngày Tôn giả Mục Liên cứu mẹ, cung thỉnh chúng tăng tuyên dương pháp sự, trì tụng Vu Lan Bồn Kinh, gia trì Thần Chú Vãng Sanh; lấy nhân lành nầy, cầu siêu độ kẻ âm, nguyện người dương an lạc. Nay đạo tràng mới mở, xin dâng một phong sớ văn, kính thành lạy thỉnh:

Kính lạy Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, giáo chủ đạo tràng, trên tòa sen xanh, chứng giám cho.

Kính lạy Đạo Sư Tiếp Dẫn Chín Phẩm A Di Đà Phật ở phương Tây, trên tòa sen vàng, chứng giám cho.

Kính lạy Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát, người khởi đầu Vu Lan, trên tòa sen hồng, chứng giám cho.

Lại nguyện: Tướng tốt chói sáng, hiện hóa Phật từ Đông về; tràng phan phất phới, tiếp dẫn vong hồn quy Tây; thảy đều được lợi, sống chết an bình. Kính dâng sớ.

Vận trời vào ... ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử ... cúi lạy dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Minh Phủ (冥府): còn gọi là Âm Phủ (), là cơ sở hành chánh của thế giới bên kia sau khi chết, văn phòng của vua Diêm Ma. Người thống trị Minh Phủ là Minh Vương Áo Tây Lí Tư (冥王奧西里斯); vị nầy là đại thần của toàn quốc, sau A Mông (阿蒙). Vị trí của Áo Tây Lí Tư thậm chí còn cao hơn cả ông cố là Thái Dương Thần (太陽神). Theo nghiên cứu cho biết rằng ban đầu ông là Hồng Thủy Thần (洪水神, Thần Nước Lũ) của Sông Ni La (尼羅河, Nile), và về sau được nhân cách hóa thành Minh Vương. Đồng thời, ông cũng có thần cách như Thái Dương Thần; tuy nhiên vẫn giữ thân Minh Vương. Mặt khác, ông không phải là đại diện cho sự tối tăm, mà là thần của ánh sáng. Về sau, A Nỗ Tỷ Tư (阿努比斯), người giữ gìn các vong linh, được xem như là con của Áo Tây Lí Tư, được phong chức trợ lý cho cha. Sở dĩ Áo Tây Lí Tư được xem như là vị đại thần của toàn quốc, vì nó có liên quan đến quan điểm tử vong của người Ai Cập. Họ cho rằng chết đi không phải là kết thúc sinh mạng, mà đạt đến con đường sống mãi; cho nên người chết được sống lại nơi thế giới do Áo Tây Lí Tư thống trị và vĩnh viễn sinh tồn. Đó là lý do vì sao người Ai Cập cổ xưa đã xây dựng các Kim Tự Tháp cũng như mộ đế vương cho những vị quốc vương của họ. Căn cứ vào thuyết của Kim Chi (金枝), Áo Tây Lí Tư cùng với vợ là Y Hy Tư (伊希斯) trở lại làm thần cây. Sự phục hoạt của Áo Tây Lí Tư có ý nghĩa tương đồng với sự phục hoạt thần cây của Tây Á và Hy Lạp. Theo quan điểm tín ngưỡng của Trung Quốc, dưới Minh Phủ có 10 vị Minh Vương cai quản 10 ngôi điện, được gọi là Thập Điện Minh Vương (十殿冥王) hay Thập Điện Từ Vương (十殿慈王). Theo Địa Phủ Thập Vương Bạt Độ Nghi (地府十王拔度儀) của kinh điển Đạo Giáo, dưới Minh Phủ có 10 cung, mỗi cung có 1 vị Chơn Quân cai quản, gồm: (1) Cung thứ nhất của Tần Tố Diệu Quảng Chơn Quân (秦素妙廣眞君), còn gọi là Tần Quảng Đại Vương (秦廣大王); (2) Cung thứ hai của Âm Đức Định Hưu Chơn Quân (陰德定休眞君), còn gọi là Sơ Giang Đại Vương (初江大王); (3) Cung thứ ba của Động Minh Phổ Tĩnh Chơn Quân (洞明普靜眞君), còn gọi là Tống Đế Đại Vương (宋帝大王); (4) Cung thứ tư của Huyền Đức Ngũ Linh Chơn Quân (玄德五靈眞君), còn gọi là Ngỗ Quan Đại Vương (官大王); (5) Cung thứ năm của Tối Thánh Diệu Linh Chơn Quân (最聖妙靈眞君), còn gọi là Diêm La Đại Vương (閻羅大王); (6) Cung thứ sáu của Bảo Túc Chiêu Thành Chơn Quân (寶肅昭成眞君), còn gọi là Biến Thành Đại Vương (變成大王); (7) Cung thứ bảy của Thái Sơn Huyền Diệu Chơn Quân (泰山玄妙眞君), còn gọi là Thái Sơn Đại Vương (泰山大王); (8) Cung thứ tám của Vô Thượng Chánh Độ Chơn Quân (無上正度眞君), còn gọi là Bình Đẳng Đại Vương (平等大王); (9) Cung thứ chín của Phi Ma Diễn Hóa Chơn Quân (飛魔演化眞君), còn gọi là Đô Thị Đại Vương (都市大王); (10) Cung thứ mười của Ngũ Linh Uy Đức Chơn Quân (五靈威德眞君), còn gọi là Chuyển Luân Đại Vương (轉輪大王). Qua đó, ta thấy rằng 10 cung nầy tương đương với 10 điện và tên gọi của các vị chủ quản các cung cũng gần tương tự với 10 vị Minh Vương (xin xem thêm chi tiết ở phần Minh Vương và Diêm Ma Thập Điện). Trong Hiện Quả Tùy Lục (現果隨錄) quyển 2 có câu: “Ngô tinh phi tà, tiền tại Minh Phủ kiến nhất kỳ sự, cấp dục vãng bỉ nhất khám nghiệm nhĩ (吾並非邪前在冥府見一奇事急欲徃彼一勘驗耳, tôi chẳng nói bậy đâu, trước kia ở dưới Minh Phủ có thấy một việc kỳ lạ, muốn mau đến ông ấy khám nghiệm thử đúng không).” Hay trong Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (禪林僧寶傳) quyển 8, truyện Nam An Nham Nghiêm Tôn Giả (南安巖嚴尊者) lại có đoạn: “Hữu tăng tự Huệ Châu lai, viết: ‘Hà Nguyên hữu cự chu trước sa, vạn ngưu hoán bất khả động, nguyện đắc dĩ tải chuyên, kiến tháp vu Nam Hải, vi chúng sanh phước điền.’ Công viết: ‘Thử Âm Phủ chi vật’ (有僧自惠州來曰河源有巨舟著沙萬牛挽不可動願得以載磚建塔于南海爲眾生福田公曰此陰府之物, có vị tăng từ Huệ Châu đến bảo rằng: ‘Tại Hà Nguyên có một chiếc thuyền lớn bị mắc cát, vạn con trâu kéo cũng không nhúc nhích, xin ngài đến chở ngói gạch, xây tháp nơi Nam Hải để làm ruộng phước cho chúng sanh.’ Ông [Nham Nghiêm Tôn Giả] nói rằng: ‘Đó là đồ của Âm Phủ’).”
  2. Vu Lan Bồn Kinh (s: Ullambanasūtra, 盂蘭盆經): còn gọi là Vu Lan Kinh (盂蘭經), 1 quyển, tương truyền do Tam Tạng Pháp Sư Trúc Pháp Hộ (法護, ?-?) nhà Tây Tấn dịch, thuộc kinh điển bộ Phương Đẳng, được thâu vào trong Taishō quyển 16. Kinh nầy thuyết về công đức bố thí kết hợp với việc cúng dường cho ông bà tổ tiên đã quá vãng, cho nên rất được xem trọng ở những đất nước có tinh thần hiếu đạo sâu xa như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, v.v. Nội dung kinh cho biết rằng tôn giả Mục Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目連) phát hiện mẹ mình sau khi chết bị đọa xuống thế giới ngạ quỷ rất đau khổ, bèn vâng lời Phật dạy nhân ngày rằm tháng 7, ngày chư tăng hành lễ Tự Tứ sau ba tháng an cư kiết hạ, tiến hành bố thí cúng dường các thức ăn vật uống, nhờ công đức đó mà mẹ tôn giả được cứu độ thoát khỏi cảnh khổ của Địa Ngục. Hội Vu Lan Bồn là pháp sự được hình thành trên cơ sở của kinh nầy. Sách chú thích về kinh nầy có Vu Lan Bồn Kinh Sớ (盂蘭盆經疏), 2 quyển rất nổi tiếng, của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密, 780-841) nhà Đường; Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh Tân Sớ (盂蘭盆經新疏) 1 quyển của Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) nhà Minh; Vu Lan Bồn Kinh Sớ Hội Cổ Thông Kim Ký (盂蘭盆經疏會古通今記) 2 quyển, do Phổ Quán (普觀) nhà Tống thuật; Vu Lan Bồn Kinh Sớ Hiếu Hành Sao Khoa (盂蘭盆經疏孝衡鈔科) 1 quyển, của Ngộ Vinh (遇榮) nhà Tống; Vu Lan Bồn Kinh Sớ Sao Dư Nghĩa (盂蘭盆經疏鈔餘義) 1 quyển, do Nhật Tân (日新) nhà Tống sao lục; Vu Lan Bồn Kinh Lược Sớ (盂蘭盆經略疏) 1 quyển, của Nguyên Kỳ (元奇) nhà Thanh; Vu Lan Bồn Kinh Sớ Chiết Trung Sớ (盂蘭盆經疏折中疏) 1 quyển, của Linh Diệu (靈耀) nhà Thanh, v.v.
  3. Thanh liên (青蓮): hoa sen xanh, từ ý dịch của Ưu Bát La (s: utpala, p: uppala, 優鉢羅), hay Ô Bát La (烏鉢羅), Âu Bát La (鉢羅), Ưu Bát Lạt (優鉢), Ôn Bát La (鉢羅); tên khoa học là Nymphaca tetragona. Bên cạnh đó, nếu thêm tính từ nīla vào, ta có loại hoa sen xanh khác tên nīlotpala (Nê Lô Bát La [泥廬鉢羅], loại hoa của Bồ Tát Văn Thù [s: Mañjuśrī, 文殊] hay cầm). Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄贊) quyển 1 ghi rằng: “Ôn Bát La hoa vi thanh liên hoa (鉢羅華爲青蓮華, Ôn Bát La hoa là hoa sen xanh).” Huyền Ứng Âm Nghĩa (玄應音義) quyển 3 gọi loại hoa nầy là Đại Hoa (, hoa xanh đậm). Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) quyển 15 cho biết loài hoa nầy có hai màu: đỏ và trắng; bên cạnh đó còn có loại không đỏ không trắng, hình như hoa Nê Lô Bát La. Do đó, phần lớn hoa Ưu Bát La được xem là có màu xanh, hơn nữa màu nầy rất nổi bật và khác lạ. Lý Bạch (李白, 701-762), đại thi hào theo chủ nghĩa lãng mạn, sống dưới thời nhà Đường, cũng có hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ (青蓮居士). Trong bài Túc Long Hưng Tự (宿龍興寺) của Kì Vô Tiềm (綦毋潛, 691-756) nhà Đường có câu: “Hương sát dạ vong quy, tùng thanh cổ điện bài, đăng minh Phương Trượng thất, châu hệ Tỳ Kheo y, bạch nhật truyền tâm tĩnh, thanh liên dụ pháp vi, thiên hoa lạc bất tận, xứ xứ điểu hàm phi (香剎夜忘歸松青古殿扉燈明方丈室珠繫比丘衣白日傳心靜青蓮喻法微天花落不盡處處鳥銜飛, hương ngát đêm quên về, tùng xanh cửa điện xưa, đèn sáng Phương Trượng thất, châu buộc Tỳ Kheo y, ban ngày truyền tâm lắng, sen xanh dụ pháp quy, hoa trời rơi bất tận, chốn chốn chim tha đi).”
  4. Cửu Phẩm (九品): 9 loại đẳng cấp, gồm thượng thượng, thượng trung, thượng hạ; trung thượng, trung trung, trung hạ; hạ thượng, hạ trung và hạ hạ. Thông thường có các dụng ngữ như Cửu Phẩm Vãng Sanh (九品徃生), Cửu Phẩm Tịnh Độ (九品淨土), v.v. Như trong bài thơ Hoài Tịnh Độ (懷淨土) của Quốc Sư Trung Phong Minh Bổn (中峰明本, 1263-1323) nhà Minh có câu: “Yếu tương uế độ tam thiên giới, tận chủng Tây Thiên Cửu Phẩm liên (要將穢土三千界盡種西天九品蓮, nguyện đem chốn bẩn ba ngàn cõi, trồng hết Tây Thiên Chín Phẩm sen).” Hay trong bài văn phát nguyện được dùng trong thời khóa công phu hằng ngày tại các tự viện Phật Giáo có câu: “Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung, Cửu Phẩm Liên Hoa vi phụ mẫu, hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh, Bất Thối Bồ Tát vi bạn lữ(願生西方淨土中九品蓮花爲父母花開見佛悟無生不退菩薩爲伴侶, nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trong, Chín Phẩm Hoa Sen là cha mẹ, hoa nở thấy Phật biết vô sanh, Bồ Tát Bất Thối là bạn đạo).”

Hồng liên (s: padma, 紅蓮): hoa sen hồng, âm dịch là Bát Đầu Ma (鉢頭摩), nguyên sản ở vùng Đông Ấn Độ, Ba Tư (波斯, Persia). Trong 40 tay của Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音, Quan Âm Ngàn Tay), có 1 tay bên phải cầm hoa nầy, gọi là Hồng Liên Hoa Thủ (紅蓮華手, Tay Hoa Sen Hồng). Trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni (千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼, Taishō 20, 118) có đoạn rằng: “Nhược vi cầu sanh chư Thiên Cung giả, đương ư Hồng Liên Hoa Thủ; chơn ngôn: ‘án thương yết lệ tát phạ hạ’ (若爲求生諸天宮者、當於紅蓮華手、眞言:唵商掲隷薩嚩賀, nếu có người vì cầu sanh lên Thiên Cung thì nên ở nơi cánh tay cầm hoa sen hồng; chơn ngôn là ‘án thương yết lệ tát phạ hạ’).” Trong bài kệ xưng tán Kinh Pháp Hoa có câu: “Lục vạn dư ngôn thất trục trang, vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng, Bạch Ngọc xỉ biên lưu Xá Lợi, Hồng Liên thiệt thượng phóng hào quang, hầu trung Cam Lồ quyên quyên nhuận, khẩu nội Đề Hồ trích trích lương, giả nhiêu tạo tội quá sơn nhạc, bất tu diệu pháp lưỡng tam hàng (六萬餘言七軸裝無邊妙義廣含藏白玉齒邊流舍利紅蓮舌上放毫光喉中甘露涓涓潤醍醐滴滴假饒造罪過山嶽不須妙法兩三行, hơn sáu vạn lời bảy cuốn thành, vô biên nghĩa mầu rộng ẩn tàng, bên răng Ngọc Trắng tuôn Xá Lợi, trên lưỡi Sen Hồng phóng hào quang, trong cổ Cam Lồ rả rích nhỏ, trên miệng Đề Hồ giọt giọt trong, giả như tạo tội hơn núi cả, chẳng bằng Diệu Pháp vài ba hàng).”