50. Sớ Cúng Thập Điện II

(Tam Thừa Giáo Điển)

 

Nguyên văn:

 

伏以

三乘敎典、廣開方便之門、十殿分司、盡掌幽冥之炳、意修善果、必滅罪愆。拜疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、本寺奉

佛修香獻供恭遇十殿誕日、祈安迎祥請福事。今弟子...等、日焚香、心誠百拜、冐干

金相光中、俯垂證鑒。竊念、弟子等、生居季世、幸得良因、善惡混純從初、業境難知昇降茲者今月是日、迺地府第...殿大德冥王降之晨、敷陳品供香筵之禮。今則謹具疏文、和南拜白

南無十殿大德冥王菩薩證明。普及護從部下、同垂炤鑒、共降吉祥。伏願、福到人來、四辰無災、禍風捲去、八節有慶餘。寔賴

大德冥王證明。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Tam Thừa giáo điển, quảng khai phương tiện chi môn; Thập Điện phân ty, tận chưởng U Minh1 chi bỉnh; ý tu thiện quả, tất diệt tội khiên.

Bái sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, bổn tự phụng Phật tu hương hiến cúng cung ngộ Thập Điện đản nhật, kỳ an nghinh tường thỉnh phước sự. Kim đệ tử … đẳng, tức nhật phần hương tâm thành bách bái mạo can kim tướng quang trung, phủ thùy chứng giám.

Thiết niệm: Đệ tử đẳng, sanh cư quý thế, hạnh đắc lương nhân; thiện ác hỗn thuần tùng sơ, nghiệp cảnh nan tri thăng giáng. Tư giả kim nguyệt thị nhật, nãi Địa Phủ đệ … Điện Đại Đức Minh Vương giáng chi thần, phu trần phẩm cúng hương diên chi lễ. Kim tắc cẩn cụ sớ văn, hòa nam bái bạch:

Nam Mô Thập Điện Đại Đức Minh Vương Bồ Tát chứng minh.

Phổ cập hộ tùng bộ hạ đồng thùy chiếu giám, cọng giáng cát tường.

Phục nguyện: Phước đáo nhân lai, Tứ Thần vô tai ương, họa phong quyển khứ, Bát Tiết hữu khánh dư. Thật lại Đại Đức Minh Vương chứng minh. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Ba Thừa giáo điển, rộng bày phương tiện cửa huyền; Mười Điện phân ty, quản hết U Minh cõi tối; ý tu quả tốt, tất diệt tội khiên.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có chùa nầy thờ Phật, dâng hương hiến cúng, cung ngộ khánh đản Thập Điện, cầu an đón lành thỉnh phước. Nay đệ tử chúng con … ngày nầy dâng hương, tâm thành trăm lạy, ngưỡng lên Kim Tướng sáng soi, xót thương chứng giám.

Nép nghĩ: Đệ tử chúng con, sanh vào đời tốt, may gặp duyên lành; thiện ác chất chứa ban đầu, nghiệp lực ai hay lên xuống. Nay nhân ngày lành tháng tốt, gặp lúc Đại Đức Minh Vương của điện thứ … dưới Địa Phủ giáng sanh, thiết bày vật cúng, hương hoa lễ phẩm. Nay xin dâng trọn sớ văn, kính thành thưa thỉnh:

Kính lạy Thập Điện Đại Đức Minh Vương Bồ Tát chứng minh cho. Khắp thảy bộ hạ theo hầu, cùng thương chứng giám, ban cho cát tường.

Cúi mong: Phước đến người vui, suốt ngày không tai ách; thổi xa gió họa, cả năm luôn an bình. Cúi xin Đại Đức Minh Vương chứng minh. Kính dâng sớ.

Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. U Minh (幽冥): tối tăm, u ám; do đó từ nầy được dùng để chỉ cho cõi Địa Phủ (地府), Địa Ngục (地獄), nơi tối tăm, u ám. Đạo giáo cho rằng người quản chưởng U Minh thế giới là Phong Đô Đại Đế (酆都大帝). Theo Phật Giáo, Bồ Tát Địa Tạng (s: Kitigarbha, 地藏) được xem như là giáo chủ cõi U Minh, là người thệ nguyện vào cõi Địa Ngục để cứu độ chúng sanh như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經, Taishō No. 412) có dạy rằng: “Địa Ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề(地獄未空誓不成佛眾生度盡方證菩提, Địa Ngục chưa hết thề không thành Phật, chúng sanh độ tận mới chứng Bồ Đề).” Trong Thiền môn, thỉnh chuông buổi khuya, sáng sớm được gọi là “Thỉnh Chuông U Minh”, nghĩa là thỉnh chuông để cho các chúng sanh trong cõi tối tăm của Địa Ngục được nghe tiếng chuông mà xa lìa khổ đau, chứng quả giải thoát, như trong bài kệ nguyện chuông có dạy rằng: “Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới, Thiết Vi u ám tất giai văn, văn trần thanh tịnh chứng viên thông, nhất thiết chúng sanh thành chánh giác(願此鐘聲超法界、鐵圍幽闇悉遙聞、聞塵清淨證圓通、一切眾生成正覺, nguyện tiếng chuông nầy vang pháp giới, Thiết Vi tăm tối thảy đều nghe, phiền não trong sạch chứng viên thông, hết thảy chúng sanh thành chánh giác)”, và “Văn chung thanh, phiền não khinh, trí huệ trưởng, Bồ Đề sanh, ly Địa Ngục, xuất hỏa khanh, nguyện thành Phật, độ chúng sanh (聞鐘聲、煩惱輕、智慧長、菩提生、離地獄、出火坑、願成佛、度眾生, nghe tiếng chuông, phiền não buông, trí huệ lớn, Bồ Đề sanh, rời Địa Ngục, thoát lửa hầm, nguyện thành Phật, độ chúng sanh).” Trong Bách Trượng Tùng Lâm Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈叢林清規證義記, CBETA No. 1244) có câu: “Chưởng U Minh quyền, vi Địa Ngục chủ, Diêm Ma La Vương Tôn Thiên (掌幽冥權爲地獄主閻摩羅王尊天, cai quản quyền cõi U Minh, là chủ cõi Địa Ngục, Diêm Ma La Vương Tôn Thiên).” Hay như trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu Hương Nhũ Ký (毗尼日用切要香乳記, CBETA No. 1116) có câu: “Tùng lâm kích chung, tảo kích, phá trường dạ chi hôn trầm; mộ kích, bạt U Minh chi khổ ám (叢林擊鐘。早擊。破長夜之昏沉。暮擊。拔幽冥之苦暗, đánh chuông trong tùng lâm, đánh buổi sớm, phá tan sự hôn trầm của đêm dài; đánh buổi tối, nhổ sạch nỗi khổ đau của cõi tối tăm).”