61. Sớ Lạy Kinh Pháp Hoa

(Bách Giới Thiên Dư)

 

Nguyên văn:

 

伏以

百界千餘、顯圓融之實相、五辰八敎、尊最勝之經王、醍醐上味、恆沙刼數難逢、了義大乘、無量衆生莫曉。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家居奉

佛修香獻供禮法華經懺悔祈安迎祥集福事。今弟子...等、日焚香、心誠拜干

金相光中、俯垂炤鑒。竊念、玄文七軸、詮明淨之靈心、勝義三周、開正因之妙旨、稱揚一字、法身炳著於前、禮拜多文、功德難思於後。茲者...伏願、

佛性開明、悟入離言之理、法光炤耀、頓超方便之門、多生罪垢、後今洗滌無餘、地振福源、自此汪洋不竭謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Bách giới thiên dư, hiển viên dung chi thật tướng; Ngũ Thần Bát Giáo,1 tôn tối thắng chi kinh vương; Đề Hồ thượng vị, hằng sa kiếp số nan phùng; liễu nghĩa Đại Thừa, vô lượng chúng sanh mạc hiểu.

Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương hiến cúng lễ Pháp Hoa Kinh,2 sám hối kỳ an, nghinh tường tập phước sự. Kim đệ tử … đẳng, tức nhật phần hương, tâm thành bái can, kim tướng quang trung, phủ thùy chiếu giám.

Thiết niệm: Huyền văn thất trục,3 thuyên minh tịnh chi linh tâm; thắng nghĩa tam châu, khai chánh nhân chi diệu chỉ; xưng dương nhất tự, pháp thân bỉnh trước ư tiền; lễ bái đa văn, công đức nan tư ư hậu. Tư giả …

Phục nguyện: Phật tánh khai minh, ngộ nhập ly ngôn chi lý; pháp quang chiếu diệu, đốn siêu Phương Tiện chi môn; đa sanh tội cấu, hậu kim tẩy địch vô dư; địa chấn phước nguyên, tự thử uông dương bất kiệt. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Trăm ngàn cõi hơn, lộ viên dung bao thật tướng; Ngũ Thời Bát Giáo, tôn tối thắng trong các kinh; Đề Hồ vị tuyệt, hằng sa kiếp số khó lường; liễu nghĩa Đại Thừa, vô lượng chúng sanh sao hiểu.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương hiến cúng, lạy Kinh Pháp Hoa, sám hối cầu an, đón lành gom phước. Nay đệ tử …, ngày nầy dâng hương, tâm thành trăm lạy, Tướng Vàng chói sáng, xót thương chứng giám.

Nép nghĩ: Huyền văn bảy quyển, bày trong sáng ấy linh tâm; nghĩa tuyệt ba lần, mở nhân đúng là yếu chỉ; xưng dương một chữ, Pháp Thân hiện rõ trước mình; lễ bái văn kinh, công đức khó lường sau rốt. Hôm nay …

Cúi mong: Phật tánh sáng soi, ngộ nhập lìa ngôn lý luận; ánh pháp chiếu tỏ, vượt qua phương tiện cửa huyền; bao đời tội nghiệp, xưa nay rửa sạch chẳng còn; đất vọt phước nguồn, từ đây tuôn trào chẳng dứt. Kính dâng sớ.

Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con kính thành dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Ngũ Thần Bát Giáo (五辰八敎): hay Ngũ Thời Bát Giáo (八敎), tức là chủ trương của Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397) về giáo phán của Thiên Thai Tông, lấy nội dung của các kinh điển Phật Giáo, rồi phân loại, giải thích; theo thứ tự thời gian thuyết pháp của đức thích tôn mà phân thành 5 thời là Hoa Nghiêm (華嚴), Lộc Uyển (鹿苑), Phương Đẳng (方等), Bát Nhã (般若), Pháp Hoa (法華), Niết Bàn (涅槃); rồi căn cứ vào hình thức, phương tiện hóa độ chúng sanh mà phân thành Hóa Nghi Tứ Giáo (化儀四敎) là Đốn (), Tiệm (), Bí Mật (秘密), Bất Định (不定); và nương theo nội dung giáo lý để hóa đạo thích ứng với căn cơ chúng sanh mà phân thành Hóa Pháp Tứ Giáo (四敎) là Tạng (), Thông (), Biệt (), Viên (). Đây được gọi là Ngũ Thời Bát Giáo. Về Ngũ Thời: (1) Thời Hoa Nghiêm, chỉ thời kỳ đầu tiên trong vòng 37 ngày sau khi thành đạo, đức Phật thuyết Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvatasaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經), như lúc mặt trời chiếu trên núi cao. Nội dung thuyết pháp đương thời là Viên Giáo, Biệt Giáo. Đối tượng thuyết pháp là chúng Đại Bồ Tát của Biệt Giáo cũng như các phần tử ưu tú trong Viên Giáo. Nếu nói theo ý nghĩa đức Phật thuyết pháp, nhờ trí tuệ nội chứng, Ngài nghĩ ra cách thí nghiệm xem thử giáo pháp có thích hợp với căn cơ chúng sanh hay không; nên thời nầy được gọi là Nghĩ Nghi Thời (擬宜, thời tìm ra phương pháp thích nghi); tương đương với vị sữa được lấy từ trong con bò ra. Hoa Nghiêm Kinh có 2 phần: trước và sau. Phần trước là thuyết pháp trong 37 ngày, không bao hàm Thanh Văn (聲聞); phần sau như Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品), có các Đại Thanh Văn như Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v. Trình độ thuyết pháp của thời nầy rất cao, hàng Thanh Văn như câm như điếc, chưa thể lãnh hội trọn vẹn giáo thuyết. (2) Thời Lộc Uyển (s: Mgadāva, p: Migadāya, 鹿苑), chỉ khoảng thời gian 12 năm sau khi đức Phật tuyên thuyết Hoa Nghiêm Kinh; là thời kỳ tại 16 nước lớn, Ngài thuyết 4 bộ A Hàm (阿含) của Phật Giáo Nguyên Thủy, gồm Trường A Hàm Kinh (長阿含經, hay Trường Bộ [p: Dīghanikāya, 長部]), Trung A Hàm Kinh (中阿含經, hay Trung Bộ [p: Majjhimanikāya, 中部]), Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, hay Tương Ưng Bộ [p: Sayuttanikāya, 相應部]), Tăng Nhất A Hàm Kinh (增一阿含經, hay Tăng Chi Bộ [p: Aguttaranikāya, 增支部]); giống như thời kỳ mặt trời chiếu soi hang đá. Nhân vì lần đầu tiên Ngài thuyết pháp tại Lộc Dã Uyển (鹿野苑), nên có tên gọi như vậy. Bên cạnh đó, do vì kinh điển được thuyết vào thời kỳ nầy là A Hàm nên được gọi là Thời A Hàm. Trình độ giáo pháp thời kỳ nầy rất thấp, chỉ là giáo lý của Phật Giáo Nguyên Thủy, được ví như vị cạo sữa. (3) Thời Phương Tiện, chỉ khoảng thời gian sau thời Lộc Uyển, thuyết các kinh điển Đại Thừa như Duy Ma (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩), Thắng Man (s: Śrīmālā-siha-nāda-sūtra, 勝鬘), v.v., như lúc mặt trời chiếu xuống bình địa. Giáo pháp thời nầy cũng có Tạng, Thông, Biệt Viên; được ví cho vị của ván sữa sống. Phương tiện là thông xưng của kinh điển đại thừa và thời kỳ nầy bắt đầu tuyên thuyết kinh điển ấy, nên có tên gọi là Thời Phương Tiện. (4) Thời Bát Nhã, chỉ trong vòng 22 năm sau Thời Phương Tiện, là thời kỳ thuyết các kinh điển thuộc hệ Bát Nhã, cho nên theo tên kinh mà có tên gọi như vậy. Thời kỳ nầy giống như mặt trời chiếu từng khu vực. Giáo pháp thời nầy thuộc về Tam Giáo Thông, Biệt và Viên; phá trừ những thiên chấp về Đại Thừa, Tiểu Thừa; thuyết rõ các pháp đều là Không, dung hợp cả đại lẫn tiểu thành một vị; được ví như vị của ván sữa chín. Thời kỳ nầy đức Phật vì nhóm Tu Bồ Đề (s, p:Subhūti, 須菩提) thuyết Bát Nhã, khiến cho họ ngưỡng mộ Đại Thừa. (5) Thời Pháp Hoa Niết Bàn, chỉ thời kỳ năng lực của người thọ giáo tiến đến cảnh giới tối cao, chứng nhập tri kiến của Phật, khoảng trong vòng 8 năm cuối trước khi đức Phật nhập Niết Bàn; trong thời gian ấy Ngài thuyết Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) và Đại Bát Niết Bàn Kinh (s: Mahāparinirvāasūtra, 大般涅槃經) trước khi nhập diệt một ngày một đêm. Thời kỳ nầy giống như mặt trời chiếu đúng ngọ. Giáo pháp thời kỳ nầy thuần túy Viên Giáo viên mãn, được ví như vị của Đề Hồ. Về Bát Giáo, như có đề cập bên trên, gồm Hóa Nghi Tứ Giáo (化儀四敎, tức 4 hình thức và nghi tắc được đức Phật dùng để giáo hóa chúng sanh) và Hóa Pháp Tứ Giáo (四敎, tức 4 nội dung giáo pháp được đức Phật dùng để giáo hóa chúng sanh). Hóa Nghi Tứ Giáo có: (1) Đốn Giáo (), ban đầu đức Phật lấy phương pháp tự nội chứng trực tiếp giáo hóa chúng sanh; tương đương với giáo thuyết của Hoa Nghiêm Kinh. (2) Tiệm Giáo (), là giáo pháp có nội dung giáo hóa từ cạn tiến dần đến sâu; tương đương với ba thời thuyết giáo của A Hàm, Phương Đẳng và Bát Nhã. (3) Bí Mật Giáo (秘密), đức Phật tùy theo căn cơ, trình độ, năng lực bất đồng của mỗi chúng sanh mà thuyết giáo, khiến cho kia đây không biết nhau. (4) Bất Định Giáo (不定敎), tức giáo pháp không nhất định, tùy theo căn cơ của mỗi chúng sanh mà thể ngộ chân lý khác nhau. Trong đó, Bí Mật Giáo và Bất Định Giáo có điểm cọng thông là “Đồng Thính Dị Văn (同聽異聞, cùng nghe mà hiểu khác)”; có nghĩa là cùng ngồi trong một pháp hội nghe pháp mà mỗi người nghe hiểu mỗi khác, không ai giống ai. Hóa Pháp Tứ Giáo có: (1) Tam Tạng Giáo (三藏敎), gọi tắt là Tạng Giáo (藏敎), tức Tiểu Thừa Giáo (小乘敎). (2) Thông Giáo (通敎), Thông có 3 nghĩa là thông đồng, thông nhập và cọng thông; tức giáo nghĩa Đại Thừa cọng thông cả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. (3) Biệt Giáo (別敎), nghĩa là không cọng Hai Thừa mà chỉ vì Bồ Tát thuyết pháp, hoặc do sai biệt mà quán sát các pháp. (4) Viên Giáo (圓敎), nghĩa là giáo lý viên dung, không thiên chấp, là lý chân thật, hay lý giác ngộ của đức Phật. Như trong Thiên Thai Tứ Giáo Nghi (天台四, Taishō No. 1931) có giải thích rằng: “Thiên Thai Trí Giả Đại Sư, dĩ Ngũ Thời Bát Giáo, phán thích Đông lưu nhất đại Thánh Giáo, khánh vô bất tận (天台智者大師以五時八判釋東流一代聖罄無不盡, Thiên Thai Trí Giả Đại Sư lấy Ngũ Thời Bát Giáo để giải thích Thánh Giáo một đời được truyền sang phương Đông, đến rốt cùng tận).” Hay như trong Bổ Tục Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, CBETA No. 1524) quyển 25, phần Nam Châu Phổ Hiệp Pháp Sư Truyện (南洲溥洽法師傳) cũng có câu: “Hồng Võ Tân Hợi, xuất thế trú Cô Sơn Mã Não Giảng Tự, hựu trú Tô Châu Bắc Thiền, học đồ vân tập, sư vi khai diễn Ngũ Thời Bát Giáo, Như Lai nhất đại thí hóa chi nghi, vô trí ngu cao hạ, nhân nhân mãn sở dục nhi thối (洪武辛亥出世住孤山瑪瑙講寺又住蘇州北禪學徒雲集開演五時八如來一代施化之儀無智愚高下人人滿所欲而退, vào năm Tân Hợi [1371], niên hiệu Hồng Võ, Phổ Hiệp Pháp Sư đến trú tại Mã Não Giảng Tự ở Cô Sơn, rồi chuyển đến trú tại Bắc Thiền ở Tô Châu, học đồ tập trung rất đông, sư vì họ mà diễn giảng Ngũ Thời Bát Giáo, là nghi tắc giáo hóa một đời của Như Lai; không phân biệt trí ngu, cao thấp, mọi người đều thỏa mãn sự ham muốn của mình và lui ra).”
  2. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, j: Myōhōrengekyō, t: Dam-pahi-chos-pad-ma-dkar-po shes-bya-ba theg-pa chen-poi-mdo, c: Miao-fa-lien-hua-ching, 妙法蓮華經): còn gọi là Pháp Hoa Kinh (法華經), Tân Pháp Hoa Kinh (新法華經), 7 quyển (8 quyển), hiện còn, Taishō 9, 1, No. 262. Diêu Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập (Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch vào năm 406 (niên hiệu Hoằng Thỉ [弘始] thứ 8) đời Diêu Tần.
  3. Thất trục (七軸): bảy quyển, như trong bài kệ xưng tán Pháp Hoa Kinh có câu: “Lục vạn dư ngôn thất trục trang, vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng (六萬餘言七軸裝無邊妙義廣含藏, hơn sáu vạn lời thành bảy quyển, vô biên nghĩa mầu rộng hàm tàng).” Hay trong Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Thập Di Kệ Tụng (古林清茂禪師拾遺偈頌, CBETA No. 1413) quyển Hạ cũng có câu: “Thất trục Liên Kinh lục vạn ngôn, Linh Sơn nhất hội thượng y nhiên, hoàng kim tự hữu hoàng kim giá, bảo sở phân minh tại mục tiền (七軸蓮經六萬言靈山一會尚依然黃金自有黃金價寶所分明在目前, bảy quyển Liên Kinh sáu vạn lời, Linh Sơn nhất hội vẫn muôn đời, vàng ròng vốn có vàng ròng giá, chỗ báu rõ ràng trước mắt mình).”