8. Sớ Cúng Trung Nguyên

(Lệ Nhật Hy Hy)

 

Nguyên văn:

 

麗日熙熙運覩乾坤之亨泰、光天浩浩、會當國祚之延長、蠻貊欣騰、山川樂溢。拜疏爲越南國...省、...縣(郡)、...社、...村、家居(本寺)奉

修香獻恭遇元之辰、祈安保命迎祥集福。今弟子...等  、卽日拜干

大覺能仁俯垂炤鑒。言念、弟子等 辛屬中區、操生下品、人人皆蒙其德、均霑

佛祖之弘開、个个共懷其恩、咸賴皇天之廣濟。茲者辰臨七月屆中元、乃地官赦罪之期、依尊者度親之際。由是肅清梵宇、列陳香花、虔誠獻禮。伏願、毫光遠炤、惠澤邇遐、萬國安寧、咸享春臺之上、千家集福、永承玉燭之中、家眷平安、子孫康泰。寔賴

佛聖扶持之加惠也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ:

Lệ nhật hy hy, vận đổ càn khôn chi hanh thái; quang thiên hạo hạo, hội đương quốc tộ chi diên trường; man mạch1 hân đằng, sơn xuyên lạc dật.

Bái sớ vị: Việt Nam quốc … Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư (bổn tự) phụng Phật tu hương phúng kinh cung ngộ Trung Nguyên chi thần, kỳ an bảo mạng nghinh tường tập phước sự. Kim đệ tử … đẳng, tức nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.

Ngôn niệm: Đệ tử đẳng hạnh thuộc trung khu, thao sanh hạ phẩm; nhân nhân giai mông kỳ đức, quân triêm Phật tổ chi hoằng khai; cá cá cọng hoài kỳ ân, cảm lại Hoàng Thiên2 chi quảng tế. Tư giả thần lâm thất nguyệt, tiết giới Trung Nguyên; nãi Địa Quan xá tội chi kỳ, y Tôn giả độ thân chi tế. Do thị túc thanh Phạm vũ, liệt trần hương hoa, kiền thành hiến lễ.

Phục nguyện: Hào quang viễn chiếu, huệ trạch nhĩ hà; vạn quốc an ninh, hàm hưởng xuân đài chi thượng; thiên gia tập phước, vĩnh thừa ngọc chúc chi trung; gia quyến bình an, tử tôn khương thái.

Thật lại Phật Thánh phò trì chi gia huệ dã. Cẩn sớ.

Phật lịch … Tuế thứ … niên … nguyệt … nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Rực rỡ trời cao, dõi mắt nhìn trời đất hưởng thái; hào quang chói lọi, gặp lúc quốc gia thảy yên bình; muôn dân vui mừng, núi sông khởi sắc.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có chùa (gia đình) thờ Phật, dâng hương tụng kinh, gặp dịp Tết Trung Nguyên, cầu an đón lành gom phước. Nay có đệ tử ..., thành tâm cúi lạy, Đại Giác Năng Nhân, xót thương soi xét.

Nép nghĩ: Đệ tử chúng con, may ở cõi giữa, sanh vào phẩm dưới; người người đều mong đức cả, thảy nhuần Phật tổ mở khai; kẻ kẻ cùng nhớ ơn sâu, tất nhờ Trời cao độ khắp. Hôm nay gặp dịp tháng bảy, tiết thuộc Trung Nguyên; lúc Địa Quan xá tội muôn nơi, nương đúng dịp Tôn giả cứu mẹ. Nhân đây trọng sạch tự viện, bày khắp hương hoa, thành tâm cúng lễ.

Lại nguyện: Hào quang chiếu khắp, ơn huệ ban xa; vạn cõi an ninh, đều hưởng đài xuân tươi thắm; ngàn nhà tích phước, mãi nương đèn ngọc sáng trong; gia quyến bình an, cháu con khương thái. Ngưỡng lạy Phật Thánh phò trì ban ơn huệ. Kính dâng sớ.

Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con kính thành dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Man mạch (蠻貊, 蠻貉, ): tên gọi của một bộ tộc lạc hậu ở phương Nam và phương Bắc; đôi khi nó còn được dùng chỉ cho những bộ tộc lạc hậu ở khắp nơi. Trong lòng sớ trên, từ nầy có nghĩa là mọi người. Trong bài Bồi Địch Viên Ngoại Tảo Thu Đăng Phủ Tây Lâu Nhân Trình Viện Trung Chư Công (陪狄員外早秋登府西樓因呈院中諸公) của Sầm Tham (岑參, 715-770) nhà Đường có câu: “Uy thanh chấn man mạch, huệ hóa chung Hoa Dương (威聲振蠻貊惠化鍾華陽, uy thanh chấn mọi rợ, ân huệ động Hoa Dương).” Hay như trong Trà Hương Thất Tùng Sao (茶香室叢鈔), phần Bao Thuận (包順) của Du Việt (俞樾, 1821-1907) nhà Thanh cũng có đoạn: “Án Bao Công tại đương nhật dĩ danh động man mạch như thử (按包公在當日已名動蠻貊如此, theo như ông Bao Thuận vào ngày nầy đã gây tiếng tăm động đến đám mọi rợ như vậy).”
  2. Hoàng Thiên (皇天): là tiếng kính xưng ông trời, trời xanh; còn gọi là Hoàng Thiên Thượng Đế (皇天上帝), Hạo Thiên Thượng Đế (昊天上帝), một trong các vị thần của Đạo Giáo. Tên gọi của vị nầy xuất hiện sớm nhất trong Thượng Thư (尚書), Thi Kinh (詩經), là vị thần chủ tể của trời đất vũ trụ. Theo tác phẩm Trung Quốc Tôn Giáo Tư Tưởng Sử Đại Cương (中國宗敎思想史大綱, do Nhà Xuất Bản Dân Quốc Học Thuật Kinh Điển Văn Khố [民國學術經典文庫] ấn hành) của Vương Trị Tâm (王治心), trong truyện thần thoại thời thượng cổ của Trung Quốc có đề cập rằng Hạo Thiên (tức Hoàng Thiên) Thượng Đế là đấng tối tôn kính, kế đến là Thương Đế (蒼帝, hay Viêm Đế [炎帝]) ở phương Đông, chủ về mộc, tên là Linh Uy Ngưỡng (靈威仰); Xích Đế (赤帝) ở phương Nam, chủ về hỏa, tên là Xích Nộ (赤怒, hay Xích Hỏa Tiêu Nộ [赤火票怒]); Hoàng Đế (皇帝) ở trung ương, chủ về Thổ, tên là Xu Nữu (樞紐); Bạch Đế (白帝) ở phương Tây, chủ về kim, tên là Bạch Chiêu Cứ (白招據); Hắc Đế (黑帝) ở phương Bắc, chủ về thủy, tên là Diệp Quang Kỷ (葉光紀). Từ quan điểm nầy, ta thấy rằng Thượng Đế chỉ có một mà thôi, tức Hoàng Thiên Thượng Đế. Ngoài ra các vị đế khác thì không ít. Chữ “Đế ()” được dùng đơn độc trong Thi Kinh (詩經), Thư Kinh (書經), Dịch Kinh (易經), các đỉnh chuông, văn giáp cốt đều chỉ Thượng Đế. Quách Mạt Nhược (郭沫若, 1892-1978) cho rằng: “Thượng hạ bổn lai thị tương đối đích tự, hữu Thượng Đế nhất định dĩ hữu Hạ Đế(上下本來是相對的字、有上帝一定巳有下帝, xưa nay Thượng và Hạ là hai từ mang tính tương đối, có Thượng Đế nhất định phải có Hạ Đế).” Thi Kinh, phần Đại Nhã (大雅) cũng như Chu Tụng (周誦) có câu rằng: “Thiên sanh chưng dân, hữu vật hữu tắc (天生蒸民、有物有則, Trời sanh ra lũ dân, có vật thì có quy tắc).” Rõ ràng điều nầy muốn nhấn mạnh rằng Hạo Thiên Thượng Đế sinh dưỡng nhân dân, sáng tạo vạn vật, định ra pháp luật; cho nên Ngài là đấng sáng tạo. Trong phần Tiểu Nhã (小雅) và Đại Nhã (大雅) của tác phẩm trên cũng có câu: “Minh minh thiên thượng, chiếu lâm hạ địa (明明天上、照臨下地, sáng tỏ trên trời, chiếu xuống dưới đất)”, hay “Hoàng tai Thượng Đế, lâm hạ hữu hách (皇哉上帝、臨下有赫, Lớn thay Thượng Đế, giáng xuống lẫm liệt)”, hoặc “đãng đãng Thượng Đế, hạ dân chi tịch (蕩蕩上帝、下民之闢, vời vợi Thượng Đế, thâu khắp vạn dân)”; chứng tỏ muốn nói rằng Thượng Đế là đấng chủ tể của vạn dân vốn rất từ ái, vĩ đại, uy phong, vĩnh hằng, vô hạn. Trong chương Hy Công Thập Ngũ Niên (僖公十五年) 15 của Tả Truyện (左傳) có đoạn rằng: “Quân lý Hậu Thổ nhi đái Hoàng Thiên (履后土而戴皇天, người tuy đạp lên Thần Đất mà đội ông Trời).” Hoàng Thiên Hậu Thổ là thần Trời và thần Đất, là thuật ngữ thường đi chung với nhau. Như trong tác phẩm Cán Sa Ký (浣紗記), phần Phạt Việt (伐越) của Lương Thần Ngư (梁辰魚, 1520-1580) nhà Minh có câu: “Hoàng Thiên Hậu Thổ, giám sanh bình trung hiếu chi tâm, danh sơn đại xuyên, lượng túc tích anh hào chi khí (皇天后土鑒生平忠孝之心名山大川諒宿昔英豪之氣, Hoàng Thiên Hậu Thổ, chứng giám tâm trung hiếu trong đời, núi cao sông lớn, giữ mãi khí anh hào xưa kia).”