II. Bài Bia Minh Tháp Hòa Thượng Vĩnh Gia

 

Nguyên văn:

傳臨濟正尊三十九世福林寺永嘉和尚塔誌銘

諸佛菩薩、出入遊化有四土、曰寂光曰寔報曰方便曰同居、於同居土、佛法垂秋、而混跡度生、和光負重、五蘊之皆空、八風之不動、非親受囑之開士者難能也。噫、和尚出世底手段、若是其人歟、曩者波羅蜜圓覺禪師造謁、爲徵其道行、頌云、靈山付囑傳眞嗣、沙鹵荒涼起佛家、蓋興和尚道相契合故也。和尚諱上印下本、字祖源、號永嘉、貫廣南、醴陽、安合人、段氏子也。童齔時、稟天性已具孝因、及丱歲、二親相繼而逝、和尚念罔極之恩願報、惟佛能之、于讀禮後、發願出家、時年十有八、潛詣貫通師、於福林寺禮足、師深器之、爲法服處、凡六年管甚寒暑、然師之大敎期以時節、命詣三台寺、慧光禪師請益、嗣德癸亥薙染、次年貫通師在福林寺開大戒壇、和尚于時進圓具、師單提心地法門、於言下領了、

越二年、復禮師嗣法、號永嘉、以不遷境、上證無量壽、能生淨妙第一之樂、師體深意號焉、建福甲申、敕充靈應寺住持、不數年、和尚顧念福林祖庭深恩無何以答、遂辭歸、先是福林寺、爲明覺大師卓錫、師前歷指揮圓融二諦、名列于南史、有句云、

平蠻掃市兩度艱勞、出家奇發願尤奇、八袠生天成正果、

造寺鑄鐘二椿功德、革舊好鼎新固好、千秋覺世永傳燈、

諸所應有多未僃、迄今梵堂歲久而圮、和尚爰具公啟募、又率諸方薦力者依故址。重營佛宮僧舍、有若海湧、革魚金板以次整設。成泰癸巳、協三台至誠師、開戒壇于祝聖寺、推和尚爲敎授。甲午年、神京報國寺開戒壇、領第二尊證。丙午平定十塔寺開戒壇、尊爲羯摩。維新庚戌、和尚開戒壇于本寺、得戒弟子不下數百人、嗣法四十有九。明年欽奉敕賜福林寺匾額、逮今寺宇恢閎壯麗、增賁前規、檀越之至、無不雅慕。有如吏部荷亭贈以集句

僧侶且陪香火社、

高情猶愛水雲郷、

和尚之隆興廣運神智逾人、以有此大觀也。和尚平日、精究禪敎律兼參淨土爲正務、毎以敎人、耄年示同如來歲數、遂寢疾、知識名僧親抵參省、和尚猶以佛法中事勉之、忽中夜集寺衆、叮囑家風最後句、已而端坐示寂。和尚生于明命二十一年某月某日、化于啟定三年三月二十日某刻、閱世七十有九、夏臘凡五十五、建塔于寺旁之右、爰述其行狀庶之系以銘曰

大哉世尊、拈花示道、歷祖紹統、源流浩浩、爰及和尚、密契眞詮、寔相了明、智珠體圓、戒壇品極、悲願彌深、甘露普霑、得道如林、克振門庭、儼巨梵宇、貽厥嗣法、福緣幷竪、化機云週、寂光一入、登斯塔也、當知法身之永存、與靈山之卓立。

皇朝啟定己未佛成道日

春京天興寺釋慧法拜識、門人同拜立

 

Phiên âm:

TRUYỀN LÂM TẾ CHÁNH TÔNG1 TAM THẬP CỬU THẾ

PHƯỚC LÂM TỰ2 VĨNH GIA HÒA THƯỢNG THÁP CHÍ MINH

Chư Phật Bồ Tát, xuất nhập du hóa hữu Tứ Độ,3 viết Tịch Quang, viết Thật Báo, viết Phương Tiện, viết Đồng Cư. Ư Đồng Cư Độ, Phật pháp thùy Thu,4 nhi hỗn tích5 độ sanh, hòa quang6 phụ trọng; Ngũ Uẩn7 chi giai không, Bát Phong8 chi bất động; phi thân thọ chúc chi khai sĩ9 giả nan năng dã. Y ! Hòa Thượng10 xuất thế để thủ đoạn, nhược thị kỳ nhân dư ?

Nẵng giả Ba La Mật11 Viên Giác12 Thiền Sư tạo yết, vị trưng kỳ đạo hạnh tụng vân: “Linh Sơn13phó chúc truyền chơn tự, sa lỗ hoang lương khởi Phật gia.”14 Cái hứng Hòa Thượng đạo tương khế hợp cố dã.

Hòa Thượng húy thượng Ấn hạ Bổn, tự Tổ Nguyên, hiệu Vĩnh Gia; quán Quảng Nam, Lễ Dương,15An Hiệp nhân, Đoàn Thị16 tử dã. Đồng sấn17 thời, bẩm thiên tánh dĩ cụ hiếu nhân, cập quán tuế,18nhị thân tương kế nhi thệ. Hòa Thượng niệm võng cực19 chi ân nan báo, duy Phật năng chi, vu độc lễ20 hậu, phát nguyện xuất gia;21 thời niên thập hữu bát. Tiềm nghệ Quán Thông22 sư, ư Phước Lâm Tự lễ túc.23 Sư thâm khí24 chi, vị pháp phục25 xử. Phàm lục niên quản thậm hàn thử, nhiên sư chi đại giáo kỳ dĩ thời tiết. Mạng nghệ Tam Thai Tự,26 Huệ Quang Thiền Sư thỉnh ích,27 Tự Đức Quý Hợi28 trĩ nhiễm.29 Thứ niên Quán Thông30 sư tại Phước Lâm Tự khai Đại Giới Đàn,31 Hòa Thượng vu thời tấn viên cụ.32 Sư đơn đề Tâm Địa33 pháp môn, ư ngôn hạ lãnh liễu. Việt nhị niên, phục lễ sư từ pháp,34 hiệu Vĩnh Gia, dĩ bất thiên cảnh, thượng chứng Vô Lượng Thọ, năng sanh tịnh diệu đệ nhất chi lạc, sư thể thâm ý hiệu yên. Kiến Phúc Giáp Thân, sắc sung Linh Ứng Tự35 Trú Trì;36 bất sổ niên, Hòa Thượng cố niệm Phước Lâm Tổ Đình thâm ân vô hà dĩ đáp,37 toại từ quy, tiên thị Phước Lâm Tự, vị Minh Giác Đại Sư38 trác tích.39 Sư tiền lịch chỉ huy Viên Dung Nhị Đế,40 danh liệt vu Nam Sử.41 Hữu cú vân:42

Bình man43 tảo thị44 lưỡng độ45 gian lao, xuất gia kì phát nguyện vưu kì, bát trật46 sanh thiên thành chánh quả,47

Tạo tự chú chung nhị thung công đức, cách cựu hảo đỉnh tân48 cố hảo, thiên thu giác thế vĩnh truyền đăng.49

Chư sở ưng hữu đa vị bị, ngật kim Phạm Đường50 tuế cữu nhi bĩ. Hòa Thượng viên cụ công khải mộ, hựu suất chư phương tiến lực giả, y cố chỉ trùng doanh Phật cung51 Tăng xá, hữu nhược hải dũng, cách ngư kim bảng dĩ thứ chỉnh thiết. Thành Thái Quý Tỵ, hiệp Tam Thai Chí Thành52 sư, khai Giới Đàn vu Chúc Thánh Tự,53 suy Hòa Thượng vi Giáo Thọ.54 Giáp Ngọ niên, Thần Kinh55Báo Quốc Tự56 khai giới đàn, lãnh Đệ Nhị Tôn Chứng. Bính Ngọ57 Bình Định Thập Tháp Tự58khai Giới Đàn, tôn vi Yết Ma.59 Duy Tân Canh Tuất, Hòa Thượng khai Giới Đàn vu bổn tự, đắc giới đệ tử bất hạ sổ bách nhân; tự pháp tứ thập hữu cửu.60 Minh niên khâm phụng sắc tứ61 Phước Lâm Tự biển ngạch,62 đãi kim tự vũ khôi hoành tráng lệ, tăng bí tiền quy; đàn việt63 chi chí, vô bất nhã mộ. Hữu như Lại Bộ64 Hà Đình65 tặng dĩ tập cú:

Tăng lữ thả bồi hương hỏa xã,

Cao tình do ái thủy vân hương.

Hòa Thượng chi long hưng quảng vận thần trí du nhân, dĩ hữu thử đại quan dã. Hòa Thượng bình nhật, tinh cứu Thiền Giáo Luật kiêm tham Tịnh Độ66 vi chánh vụ; mỗi dĩ giáo nhân, mạo niên thị đồng Như Lai67 tuế số. Toại tẩm tật, tri thức danh tăng giai thân để tham tỉnh;68 Hòa Thượng do dĩ Phật pháp trung sự miễn chi; hốt trung dạ tập tự chúng, đinh chúc gia phong69 tối hậu cú, dĩ nhi đoan tọa thị tịch. Hòa Thượng sanh vu Minh Mạng nhị thập nhất niên mỗ nguyệt mỗ nhật,70 hóa vu Khải Định tam niên tam nguyệt nhị thập nhật mỗ khắc;71 duyệt thế thất thập hữu cửu; Hạ Lạp72phàm ngũ thập ngũ, kiến tháp vu tự bàng chi hữu, viên thuật kỳ hành trạng73 thứ chi hệ dĩ minh viết:

Đại tai Thế Tôn,74 niêm hoa75 thị đạo, lịch Tổ thiệu thống, nguyên lưu hạo hạo, viên cập Hòa Thượng, mật khế chơn thuyên, thật tướng liễu minh, trí châu thể viên, Giới Đàn phẩm cực, bi nguyện di thâm, Cam Lộ76 phổ triêm, đắc đạo như lâm, khắc chấn môn đình, nghiễm cự Phạm vũ,77di quyết từ pháp, phước duyên tinh thụ, hóa cơ vân châu, tịch quang nhất nhập, đăng tư tháp dã, đương tri Pháp Thân78 chi vĩnh tồn, dữ Linh Sơn chi trác lập.

Hoàng triều Khải Định Kỷ Mùi Phật Thành Đạo nhật.79

Xuân Kinh80 Thiên Hưng Tự81 Thích Huệ Pháp82 bái chí, môn nhân đồng bái lập.83

 

Dịch nghĩa:

BÀI MINH BIA THÁP HÒA THƯỢNG VĨNH GIA CHÙA PHƯỚC LÂM, TRUYỀN THỪA DÒNG LÂM TẾ CHÁNH TÔNG

ĐỜI THỨ BA MƯƠI CHÍN

 

Chư Phật Bồ Tát, ra vào du hóa có bốn quốc độ, là Tịch Quang, là Thật Báo, là Phương Tiện, là Đồng Cư. Nơi cõi Phàm Thánh Đồng Cư, Phật pháp suy tàn, mà vẫn ẩn tích độ sanh, hòa quang đồng trần, gánh vác trọng trách; Năm Uẩn thảy đều không, Tám Gió thổi chẳng động; chẳng phải vị Bồ Tát tha thiết thọ nhận di chúc thì chẳng thể nào thực hiện được.

Ôi ! Hòa Thượng ra đời với mục đích gì ? Cũng như người nầy chăng ? Xưa kia, khi đến thăm viếng Thiền Sư Viên Giác ở Chùa Ba La Mật, vì cảm đạo hạnh của Ngài mà Thiền Sư viết bài tụng rằng:

“Linh Sơn dặn dò truyền nối dõi, đất cát hoang sơ lập Phật nhà. Vui thay Hòa Thượng đạo khế hợp vậy !”

Hòa Thượng húy thượng Ấn hạ Bổn, tự là Tổ Nguyên, hiệu Vĩnh Gia; nguyên quán người vùng An Hiệp, làng Lễ Dương, Tỉnh Quảng Nam; con của họ Đoàn. Lúc còn tấm bé, bẩm tánh Trời ban đã đủ nhân hiếu, đến khi hơi lớn, cả song thân đều thay nhau qua đời. Hòa Thượng nhớ công ơn trời biển của cha mẹ khó mong báo đáp, chỉ có đức Phật mới làm được. Cho nên, sau khi cư tang xong, Hòa Thượng phát nguyện xuất gia. Lúc bấy giờ mười tám tuổi, Người âm thầm đến gặp Ngài Quán Thông, đảnh lễ Ngài tại Chùa Phước Lâm. Ngài biết là người xuất chúng, cho mang pháp phục. Trải qua sáu năm chẳng quản nóng lạnh bao nhiêu đi chăng nữa; nhưng lời giáo huấn của Thầy phải đợi đúng thời tiết. Khi ấy Ngài bảo Hòa Thượng đến Chùa Tam Thai, thỉnh giáo Hòa Thượng Huệ Quang. Vào năm Quý Hợi (1863) đời vua Tự Đức, Hòa Thượng xuống tóc xuất gia. Năm sau (1864), Ngài Quán Thông mở Đại Giới Đàn tại Chùa Phước Lâm; lúc bấy giờ Hòa Thượng thọ Cụ Túc giới. Ngài đề xướng pháp môn Tâm Địa (hành trì Giới Luật), Hòa Thượng vâng lời Thầy lãnh thọ. Sau hai năm, Hòa Thượng đến lạy Thầy để xin nối dõi dòng pháp, được hiệu là Vĩnh Gia, vì không thay đổi cảnh, trên chứng Vô Lượng Thọ, có thể sanh sự an lạc vi diệu thanh tịnh số một; Hòa Thượng rất đắc ý với hiệu ấy vậy.

Vào năm Giáp Thân (1884) đời vua Kiến Phúc, Hòa Thượng được sắc chỉ sung làm Trú Trì Chùa Linh Ứng. Không lâu sau, Hòa Thượng nhớ đến thâm ân của Tổ Đình Phước Lâm không biết lấy gì để báo đáp, bèn xin thôi và trở về lại chùa Tổ; trước hết là Chùa Phước Lâm, vì Đại Sư Minh Giác đã từng trú ở đây. Trước kia Đại Sư đã từng làm Chỉ Huy “Đạo Đời Viên Dung”, tên tuổi được ghi lại trong sử nước Nam. Nên có câu rằng:

Dẹp mọi quét chợ đôi bận gian lao, xuất gia đã lạ mà phát nguyện càng lạ, tám chục sanh thiên thành chánh quả;

Xây chùa đúc chuông hai điều công đức, đổi cũ vẫn tốt mà cách tân càng tốt, ngàn năm cõi giác mãi truyền thừa.

Cơ sở đã có mà phần lớn chưa đầy đủ, đến nay tự viện đã đổ nát theo thời gian. Hòa Thượng bắt đầu kêu gọi quyên góp, lại chỉ huy các nơi cùng góp sức, dựa trên nền đất cũ mà trùng kiến Chánh Điện, Nhà Tăng. Giống như biển dậy sóng, các kiến trúc dần dần được sửa sang trọn vẹn. Vào năm Quý Tỵ (1893) đời vua Thành Thái, Ngài cùng với Hòa Thượng Chí Thành ở Chùa Tam Thai mở Giới Đàn tại Chùa Chúc Thánh, (tại đây Ngài) được suy cử làm Giáo Thọ (A Xà Lê). Năm sau, Giáp Ngọ (1894), Chùa Báo Quốc đất Thần Kinh mở Giới Đàn, Ngài được cử làm Đệ Nhị Tôn Chứng. Đến năm Bính Ngọ (1906), Chùa Thập Tháp ở Bình Định mở Giới Đàn, Ngài được tôn làm Yết Ma (A Xà Lê). Vào năm Canh Tuất (1910) đời vua Duy Tân thứ 4, Ngài mở Giới Đàn tại chùa mình, đệ tử đắc giới lên đến mấy trăm người, đệ tử nối dòng pháp có 49 người. Năm sau, Ngài vâng mệnh nhận tấm biển ngạch đề “Sắc Tứ Phước Lâm Tự”. Cho đến nay, cảnh quan chùa đã được khôi phục tráng lệ, rạng rỡ nhiều hơn trước. Hàng tín đồ đến chùa, ai cũng rất kính mộ. Như Lại Bộ Thượng Thư Nguyễn Hà Đình có tặng câu thơ rằng:

Tăng sĩ còn lo hương hỏa chuyện

Cao tình mến mộ nước mây làng

Hòa Thượng cao hứng vận dụng hết thần trí để khuyên dụ mọi người, vậy mới biết Ngài có tầm nhìn rộng lớn vậy. Thường ngày, Hòa Thượng tinh cần tham cứu Thiền, giáo lý và Luật, lại kiêm tu cả Tịnh Độ làm công việc chính, lấy đó mà dạy người. Đến khi tuổi Ngài già yếu ngang đồng với số tuổi của đức Như Lai, nằm trên giường bệnh, các bậc tri thức danh tăng khắp nơi đến gần thăm viếng, học hỏi; Hòa Thượng còn lấy việc trong Phật pháp để khuyến khích mọi người.

Chợt vào nửa đêm, Ngài tập trung tăng chúng trong chùa, dặn dò câu cuối cùng của gia phong, xong Ngài ngồi ngay ngắn thị tịch. Hòa Thượng sanh vào ngày ấy tháng ấy năm thứ 21 (1840, Canh Tý) đời vua Minh Mạng; thác hóa vào giờ ấy ngày 20 tháng 3 năm thứ 3 (1918, Mậu Ngọ) đời vua Khải Định; hưởng thọ 79 tuổi đời và 55 Hạ Lạp. Tháp của Ngài được kiến lập phía bên phải của chùa; để thuật lại hành trạng rất nhiều của Ngài, liên quan bài minh ghi rằng:

Lớn thay Thế Tôn, đưa hoa chỉ đạo, chư Tổ nối tiếp, dòng chảy mênh mông, đến nơi Hòa Thượng, mật hợp nguồn chơn, thật tướng sáng tỏ, trí châu thể tròn, Giới Đàn tột bực, bi nguyện thâm sâu, Cam Lộ rưới khắp, đắc đạo như rừng, chấn động môn phong, uy nghiêm Phạm vũ, lưu truyền dòng pháp, phước duyên bày sẵn, hóa độ tròn đầy, nhập vào diệt độ, lên cao tháp ấy, phải biết Pháp Thân Ngài mãi còn, cùng vững trụ với Linh Sơn.

Ngày mồng 8 tháng Chạp năm Kỷ Mùi (1919), đời vua Khải Định

Thích Huệ Pháp Chùa Thiên Hưng, kinh đô Huế kính ghi. Môn đồ cùng bái lạy dựng bia.

 

Bảng Đối Chiếu

 

Văn bia của Hòa Thượng Vĩnh Gia trong Bản Công Văn Thủ Bút Của Tổ Giác Tiên

Văn bia hiện tồn tại tháp của Hòa Thượng Vĩnh Gia, Chùa Phước Lâm

1. Truyền Lâm Tế Chánh Tôn (傳臨濟正尊)

Truyền Lâm Tế Chánh Tông (傳臨濟正宗)

2. Viên Giác Thiền Sư (圓覺禪師)

Viên Giác Thiền Sư, nguyên Thanh Hóa Tỉnh, Bố Chính Sứ Nguyễn (圓覺禪師、原清化省、布政使阮)

3. Thứ niên Quán Thông sư tại Phước Lâm Tự khai Đại Giới Đàn (次年貫通師在福林寺開大戒壇)

Thứ niên Huệ Quang sư tại Phước Lâm Tự khai Đại Giới Đàn (次年慧光師在福林寺開大戒壇)

4. Hòa Thượng vu thời tấn viên cụ (和尚于時進圓具)

Hòa Thượng vu thần tấn viên cụ (和尚于辰進圓具)

5. Hòa Thượng cố niệm Phước Lâm Tổ Đình thâm ân vô hà dĩ đáp, toại từ quy (和尚顧念福林祖庭深恩無何以答、遂辭歸)

Hòa Thượng cố niệm Phước Lâm Tổ Đình, toại từ quy (和尚顧念福林祖庭、遂辭歸)

6. Tiên thị Phước Lâm Tự vi Minh Giác Đại Sư trác tích, sư tiền lịch Chỉ Huy Viên Dung Nhị Đế, danh liệt vu Nam Sử (先是福林寺、爲明覺大師卓錫、師前歷指揮圓融二諦、名列于南史)

Tiên thị Phước Lâm Tự vi Ân Triêm sư sáng thỉ, Minh Giác sư kế tịch, Giác sư tiền lịch quan Chỉ Huy quy tăng, danh liệt vu Nam Sử (先是福林寺、爲恩霑師創始、明覺師繼席、覺師前歷官指揮歸僧、名列于南史)

7. Bát trật sanh thiên thành chánhquả (八袠生天成正果)

Bát trật sanh thiên thành chứng quả (八袠生天成證果)

8. Giáp Ngọ niên, Thần Kinh Báo Quốc Tự khai Giới Đàn (甲午年、神京報國寺開戒壇)

Giáp Ngọ, Thần Kinh Báo Quốc Tự khai Giới Đàn (甲午、神京報國寺開戒壇)

9. Bính Ngọ, Bình Định Thập Tháp Tự khai Giới Đàn (丙午平定十塔寺開戒壇)

Bính Thân, Bình Định Thập Tháp Tự khai Giới Đàn (丙申平定十塔寺開戒壇)

10. Từ pháp tứ thập hữu cửu (嗣法四十有九)

Từ pháp đệ tử tam thập hữu nhị (嗣法弟子三十有二)

11. Đãi kim tự vũ khôi hoành tráng lệ (逮今寺宇恢閎壯麗)

Đãi kim tự vũ khôi hoằng tráng lệ (逮今寺宇恢弘壯麗)

12. Đàn việt chi chí, vô bất nhã mộ (檀越之至、無不雅慕)

Đàn việt chi chí chỉ, vô bất nhã mộ (檀越之至止、無不雅慕)

13. Toại tẩm tật (遂寢疾)

Tẩm tật (寢疾)

14. Hòa Thượng sanh vu Minh Mạng nhị thập nhất niên mỗ nguyệt mỗ nhật (和尚生于明命二十一年某月某日)

Hòa Thượng sanh vu Minh Mạng nhị thập nhất niên nhị nguyệt thập cửu nhật Dần thần (和尚生于明命二十一年二月十九日寅辰)

15. Hóa vu Khải Định tam niên tam nguyệt nhị thập nhật mỗ khắc (化于啟定三年三月二十日某刻)

Hóa vu Khải Định tam niên tam nguyệt nhị thập nhật Tuất khắc (化于啟定三年三月二十日戌刻)

16. Viên thuật kỳ hành trạng thứchi hệ dĩ minh viết (爰述其行狀庶之系以銘曰)

Thuật kỳ hành trạng thứ chi hệ dĩ minh viết (述其行狀次之繫以銘曰)

17. Hoàng triều Khải Định Kỷ Mùi Phật Thành Đạo nhật (皇朝啟定己未佛成道日)

Hoàng triều Khải Định Mậu Ngọ niên mạnh Hạ Như Lai Thành Đạo nhật (皇朝啟定戊午年孟夏如來成道日)

18. Xuân Kinh Thiên Hưng Tự Thích Huệ Pháp bái chí (春京天興寺釋慧法拜識)

Kinh Binh Tả Tam Vệ Chưởng Vệ, đệ tử Lê Viết Nghiêm Pháp danh Chơn Chỉnh tự Đạo Túc bái thức. Xuân Kinh Thiên Hưng Tự Thích Huệ Pháp bái chính. Từ pháp Phổ Minh Phổ Truyền đồng môn nhân bái lập (京兵左三衛掌衛、弟子黎曰嚴法名眞整字道肅拜識、春京天興寺釋慧法拜正、嗣法普明普傳仝門人拜立)

 

Chú thích:

  1. Bài văn bia của Hòa Thượng Vĩnh Gia trong Bản Công Văn Thủ Bút Của Tổ Giác Tiên ghi là “Lâm Tế Chánh Tôn (臨濟正尊)”, trong khi đó, bản văn bia hiện tồn tại tháp của Hòa Thượng Vĩnh Gia, Chùa Phước Lâm thì ghi là “Lâm Tế Chánh Tông (臨濟正宗).” Nếu xét về ngữ nghĩa, Lâm Tế Chánh Tông có nghĩa là tông phái Lâm Tế chánh thống; còn Lâm Tế Chánh Tôn thì không có nghĩa rõ ràng, hợp lý. Trường hợp nầy được giải thích theo lý do tuân thủ sự húy kỵ tên gọi đương thời. Húy kỵ dưới triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt Quốc húy dưới thời các vua Nguyễn thì khá phức tạp. Húy kỵ đã được nâng lên thành Quốc Luật, làm thay đổi một phần ngôn ngữ. Có nhiều chữ Nho do viết theo lối húy kỵ (thêm bộ chữ hoặc thêm bớt nét) mà biến thành dạng chữ khác ở cả cách đọc và cách viết; một số từ bị nói và viết chệch đi như: cây cảnh thành cây kiểng (do húy Hoàng Tử Cảnh [1780-1801]), hằng ngày thành thường ngày (húy của Thái Hậu Từ Dụ Phạm Thị Hằng [慈裕范氏姮, 1810-1902]), hoa () thành huê, tùng () thành tòng; một số chữ trong tên người cũng bị đổi chệch đi như Chu () thành Châu (húy chúa Nguyễn Phúc Chu [阮福淍, tại vị 1691-1725]); Hoàng () thành Huỳnh (húy chúa Nguyễn Hoàng [阮潢, 1525-1613]), Phúc () thành Phước (kị chữ Phúc trong tên nhiều chúa Nguyễn); chữ tông () thành tôn () vì tránh đọc tên húy của vua Thiệu Trị (紹治, tại vị 1841-1847) là Nguyễn Phúc Miên Tông (阮福綿宗), v.v. Như vậy chúng ta có thể lý giải vì sao từ Lâm Tế Chánh Tông (臨濟正宗) lại biến thành Lâm Tế Chánh Tôn (臨濟正尊); hay Thiền [Thuyền] Tông Tự (禪宗寺) lại trở thành Thiền [Thuyền] Tôn Tự (), tông phái (宗派) thành tôn phái (尊派), v.v.
  2. Phước Lâm Tự (福林寺): chùa tọa lạc tại Xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An, thuộc hệ phái gốc Thiền Lâm Tế Chúc Thánh. Chùa được xây theo phong cách Á Đông cổ, theo hình chữ “môn ()” gồm 3 gian 2 chái, hai bên là 2 lầu chuông hình tháp. Trong chùa hiện còn có nhiều tượng và cổ vật quí. Chùa còn là nơi đào tạo các danh tăng Việt Nam như chư vị cố Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, đệ I và đệ II Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam trước 1975. Chùa được trùng tu vào những năm 1822 (Nhâm Ngọ, Minh Mạng [明命] thứ 3), 1893 (Quý Tỵ, Thành Thái [成泰] thứ 5). Chùa do Thiền Sư Ân Triêm khai sơn vào giữa thế kỷ 18. Các Thiền Sư kế tiếp trú trì là Bình Man, Pháp Kiêm Minh Giác, Toàn Nhâm Quán Thông, Chương Nhẫn Quảng Hóa, Ấn Bổn Vĩnh Gia, Chơn Thể Phổ Minh, Chơn Nhật Phổ Trí, Như Trạm Tịch Chiếu, Chơn Quả Đương Như, Như Nhàn Trí Giác, Như Vạn Trí Phước, Thị Vinh Hạnh Hoa; chư vị đều tổ chức trùng tu chùa, đúc chuông, tạc tượng, v.v. Nổi tiếng là Hòa Thượng Vĩnh Gia (1840-1918), đã từng làm Trú Trì Chùa Linh Ứng (靈應寺) ở Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng vào năm 1884 (Giáp Thân, Kiến Phúc [建福] thứ nhất), làm Giáo Thọ trong Đại Giới Đàn Chùa Chúc Thánh năm 1893 và khai Đại Giới Đàn Chùa Phước Lâm năm 1910 (Canh Tuất, Duy Tân [維新] thứ 4). Chính Hòa Thượng Thích Giác Tiên đã từng thọ đại giới tại Giới Đàn nầy. Nhiều pho tượng cổ ở chùa cũng được tạc trong thời Hòa Thượng trụ trì. (Theo Võ Văn Tường: 500 Danh Lam Việt Nam. Nhà Xuất Bản Thông Tấn, 2008, tr. 186. Thích Như Tịnh: Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh. Nhà Xuất Bản Phương Đông, 2009, tr. 146~149)
  3. Tứ Độ (四土): còn gọi là Tứ Phật Độ (四佛土), Tứ Chủng Phật Độ (四種佛土), Tứ Chủng Tịnh Độ (四種淨土), Tứ Chủng Quốc Độ (四種國土); nghĩa là 4 loại quốc độ Phật. Có nhiều thuyết khác nhau về quan niệm nầy. Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397), Tổ sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, lập ra 4 loại Phật Độ là Phàm Thánh Đồng Cư Độ (凡聖同居土), Phương Tiện Hữu Dư Độ (方便有餘土), Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ (實報無障礙土), Thường Tịch Quang Độ (常寂光土). (1) Phàm Thánh Đồng Cư Độ, còn gọi là Nhiễm Tịnh Đồng Cư Độ (染淨同居土), Nhiễm Tịnh Quốc (染淨國); chỉ quốc độ cùng tồn tại chung của hạng phàm phu thuộc hai cõi Trời người và chư vị Thánh như Thanh Văn (s: śrāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺). Trong đó, cõi nầy được chia thành 2 loại là tịnh và uế, như thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆) là Đồng Cư Uế Độ (同居穢土), Tây Phương Cực Lạc (西方極樂) là Đồng Cư Tịnh Độ (同居淨土). (2) Phương Tiện Hữu Dư Độ, còn gọi là Phương Tiện Độ (方便土), Hữu Dư Độ (有餘土); chỉ cho quốc độ của những bậc Thánh tu đạo phương tiện, đã đoạn tận Kiến, Tư, Hoặc như Bích Chi Phật (辟支佛), A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢), v.v.; nên được gọi là phương tiện (s, p: upāya, 方便), nhưng chưa đoạn tận sự mê mờ về vô minh trần sa, mới có tên là hữu dư (有餘, vẫn còn dư, còn sót). Cõi nầy còn được gọi là Biến Dịch Độ (變易土). (3) Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ, còn gọi là Thật Báo Độ (實報土), Quả Báo Độ (果報土), là quốc độ của chư vị Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) đã đoạn trừ một phần của Vô Minh (s: avidyā, p: avijjā, 無明), không có hàng phàm phu của Hai Thừa. Đây là quốc độ tự tại vô ngại của đạo chân thật, nên có tên gọi như vậy. (4) Thường Tịch Quang Độ, còn gọi là Lý Tánh Độ (理性土); là trú xứ của chư Phật đã đoạn tận căn bản Vô Minh, tức là quốc độ của chư Phật chứng quả Diệu Giác Cứu Cánh. Thường nghĩa là thường có Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身), vốn có thể thường trú; Tịch ở đây là giải thoát, tức hết thảy các tướng vĩnh viễn vắng lặng; Quang là Bát Nhã (s: prajñā, p: paññā, 般若), tức là trí tuệ chiếu soi các tướng; nên cõi nầy cũng là quốc độ của Thường Trú (Pháp Thân), Tịch Diệt (Giải Thoát) và Quang Minh (Bát Nhã). Ba đức nầy có tên là Bí Mật Tạng (秘密藏), là nơi nương tựa của chư Phật Như Lai; vì vậy mới được gọi là Thường Tịch Quang Độ. Bên cạnh đó, Pháp Thường (法常, 567-645), Trí Nghiễm (智儼, 602-668), Đạo Tuyên (道宣, 596-667) và Huyền Uẩn (玄惲, ?-?, tức Đạo Thế [道世], người soạn bộ Pháp Uyển Châu Lâm [法苑珠林]), có lập ra Tứ Độ khác do chư Phật cư trú, gồm: (1) Hóa Tịnh Độ (化淨土), do chư Phật biến hiện ra 7 loại báu, 5 Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc); nhờ thần lực của Phật mà mặt đất mềm mại, không có gò trũng, cát đá, v.v., giống như cõi Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc, tùy theo tâm chúng sanh muốn thấy mà hóa hiện ra; và đây cũng là quốc độ của Hóa Thân (s: nirmāa-kāya, 化身). (2) Sự Tịnh Độ (事淨土), lấy 7 loại báu, 5 Trần làm hình tướng của quốc độ. Trong cõi nầy, có đầy đủ các loại trân bảo trang nghiêm vi diệu; giả như thế giới bị bốc lửa cháy rực, đức Như Lai trú trong đó vẫn đi kinh hành, vẫn an nhiên đi đứng nằm ngồi, cõi ấy tự nhiên từ trong đất hiện ra nước có Tám Công Đức, làm cho mát mẻ. Đây là quốc độ của Tha Thọ Dụng Thân (他受用身, tức Ứng Thân [s: nirmāa-kāya, 應身]). (3) Thật Báo Tịnh Độ (實報淨土), quốc độ lấy Hai Không làm cửa, Ba Tuệ làm con đường ra vào; Xa Ma Tha (s: samatha, 奢摩他, Thiền Định), Tỳ Bát Xá Na (p: vipassanā, 毘鉢舍那, Quán) làm cỗ xe; Căn Bản Vô Phân Biệt Trí (根本無分別智) làm dụng. Đây là quốc độ của Tự Thọ Dụng Thân (自受用身, tức Báo Thân [s: sambhoga-kāya, 報身]). (4) Pháp Tánh Tịnh Độ (法性淨土), quốc độ lấy chân như làm thể, là cõi của Pháp Thân. Ngoài ra, Duy Thức Tông lại lập ra 4 loại quốc độ khác là: (1) Pháp Tánh Độ (法性土), còn gọi là Tự Tánh Pháp Thân Y Pháp Tánh Độ (自性法身依法性土). Tự Tánh Thân tức là Pháp Thân, lấy tự tánh chân như làm thân, thể không sai biệt, không bị sắc tướng thâu nhiếp, giống như hư không, biến khắp tất cả nơi. (2) Tự Thọ Dụng Độ (自受用土), còn gọi là Tự Thọ Dụng Thân Y Tự Thọ Dụng Độ (自受用身依自受用土), tức là Thật Báo Độ (實報土), là do đức Phật lấy Tương Ứng Tịnh Thức (相應淨識) tu mà thành tựu nên; từ khi mới thành Phật cho đến tận cùng tương lai, liên tục biến thành quốc độ Phật thuần tịnh, chu vi không giới hạn, các loại báu trang nghiêm. Tự Thọ Dụng Thân nương vào cõi nầy mà trú. (3) Tha Thọ Dụng Độ (他受用土), còn gọi là Tha Thọ Dụng Thân Y Tha Thọ Dụng Độ (他受用身依他受用土), cũng là Thật Báo Độ. Đức Phật lấy năng lực đại từ bi, tùy theo sự thích nghi của các Bồ Tát trong Thập Địa (s: daśa-bhūmi, 十地) mà biến thành cõi Tịnh Độ. Tha Thọ Dụng Thân nương vào cõi nầy mà trú. (4) Biến Hóa Độ (變化土), còn gọi là Biến Hóa Thân Y Biến Hóa Độ (變化身依變化土). Đức Phật lấy năng lực đại từ bi, tùy theo sự thích nghi của chúng sanh có duyên mà biến hóa thành. Trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 3 có đoạn: “Tứ Độ Liên Hoa Tứ Độ hương, độ trung các các kiến Từ Vương, Quan Âm thường hoán si nhân tỉnh, Đại Thế tần thôi liên ngạc phương, tự tại nhàn vân Tam Muội đắc, thanh u Cam Lộ nhất tâm lương (四土蓮花四土香、土中各各見慈王、觀音常喚癡人醒、大勢頻催蓮萼芳、自在閒雲三昧得、清幽甘露一心涼, Bốn Cõi Hoa Sen Bốn Cõi thơm, cõi ấy mỗi mỗi thấy Từ Vương, Quan Âm thường gọi người mê tỉnh, Thế Chí luôn bày sen ngát hương, tự tại mây nhàn Tam Muội chứng, an lành Cam Lộ tâm mát trong).” Hay trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tuyển Định Tịnh Độ Thập Yếu (靈峰蕅益大師選定淨土十要, Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1164) quyển 9 có câu: “Nhất chân pháp giới tánh, bất biến năng tùy duyên, Tam Thân cập Tứ Độ, tất do tâm biến khởi (一眞法界性、不變能隨緣、三身及四土、悉由心變起, tánh pháp giới nhất chân, chẳng biến thường tùy duyên, Ba Thân và Bốn Cõi, tất do tâm biến hóa).”
  4. Thùy Thu (垂秋): đến gần mùa Thu, tức chỉ cho sự tàn lụi, băng hoại, suy tàn, thời mạt pháp. Phật pháp thùy Thu (佛法垂秋) nghĩa là đang thời kỳ mạt pháp. Như trong Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562) quyển 6 có câu: “Tượng Pháp thùy Thu, danh lợi căn thâm, như tượng một thâm nê, châu trầm cự hải (像法垂秋、名利根深、如象沒深泥、珠沉巨海, thời Tượng Pháp sắp tàn, gốc danh lợi sâu nặng, như voi lún bùn sâu, hạt châu chìm biển lớn).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 13 có đoạn: “Thiết niệm đạo pháp thùy Thu, chánh tông đạm bạc, lại ngô sư thừa đại bi nguyện luân, cao thụ pháp tràng, tông thuyết kiêm sướng, Chỉ Quán song vận, Tỳ Ni độc yết, Tịnh Độ chuyên môn, sử cuồng tử tri quy (切念道法垂秋、正宗澹薄、賴吾師乘大悲願輪、高豎法幢、宗說兼暢、止觀雙運、毗尼獨揭、淨土專門、使狂子知歸, thiết nghĩ đạo pháp lu mờ, chánh tông phai nhạt, nhờ Thầy ta nương bánh xe nguyện đại bi, dương cao cờ pháp, tông môn và giáo thuyết cùng tuyên xướng, Chỉ và Quán đều vận hành, Luật nghi xem trọng, Tịnh Độ chuyên môn, khiến cho người con điên biết quay về).” Hay như trong Sa Di Luật Nghi Tỳ Ni Nhật Dụng Hợp Tham (沙彌律儀毗尼日用合參, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1120) có câu: “Cao tăng dĩ Phật pháp vi kỷ nhiệm, cố văn ngọ hậu cử thoán, tri pháp vận thùy Thu, cố thế khấp nhi bi thán dã. Kim nhân thể nhược đa bệnh, dục số số thực giả, hoặc bất năng trì thử giới; cố cổ nhân xưng vãn thực vi dược thạch, thủ liệu bệnh chi ý dã (高僧以佛法爲己任、故聞午後舉爨、知法運垂秋、故涕泣而悲嘆也、今人體弱多病、欲數數食者、或不能持此戒、故古人稱晚食爲藥石、取療病之意也, vị cao tăng lấy pháp Phật làm trách nhiệm của mình, nên sau buổi trưa nghe nấu ăn, mới biết vận thế Phật pháp suy tàn, vì vậy rơi lệ mà buồn than vậy. Người đời nay thân thể suy yếu nhiều bệnh, muốn ăn nhiều lần, nên không thể giữ giới nầy được, vì vậy người xưa gọi buổi ăn chiều là Dược Thạch, với ý để trị bệnh vậy).”
  5. Hỗn tích (混跡): trà trộn tung tích, dấu vết, không để lộ rõ ra; tức là hòa mình vào môi trường sống, không thể hiện hành tung của bậc Thánh, mai danh ẩn tích. Như trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 9 có câu: “Tổ ư Nghiệp Đô hóa đạo, Tứ Chúng quy y, phàm tam thập tứ niên, toại thao quang hỗn tích, biến dịch nghi tướng, nhân mạc chi trắc (祖於鄴都化導、四眾皈依、凡三十四年、遂韜光混跡、變易儀相、人莫之測, Tổ [Huệ Khả] hóa đạo ở Nghiệp Đô, Bốn Chúng quy y, được ba mươi bốn năm, bèn mai danh ẩn tích, thay đổi hình tướng, người đời không lường được).” Hay như trong Phật Pháp Kim Thang Biên (佛法金湯編, Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628) quyển 4, phần Lục Thùy (陸倕) có câu: “Pháp sư tự thuyết tánh Chu danh Bảo Chí, hỗn tích loạn từ, cư vô thường sở, y phục ẩm thực suyễn bác bất hằng, Tống Thái Thỉ trung xuất nhập Chung Sơn (法師自說姓朱名寶誌、混跡亂詞、居無常所、衣服飲食舛駁不恆、宋泰始中出入鍾山, Pháp sư [Lục Thùy] tự bảo họ là Chu, tên Bảo Chí, ẩn tích nói lung tung, sống nơi không cố định, áo quần, ăn uống xuề xòa chẳng bình thường; trong khoảng niên hiệu Thái Thỉ [466-471] nhà Tống, Pháp sư thường ra vào Chung Sơn).”
  6. Hòa quang (和光): nói đủ là hòa quang đồng trần (和光同塵); vốn xuất xứ từ lời dạy của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh (道德經) rằng: “Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần (和其光、同其塵, hòa với ánh sáng ấy, đồng với bụi trần ấy)”; nghĩa là cùng với trần tục hợp lại với nhau, nhưng không tự lập dị. Theo Phật Giáo, từ nầy chỉ cho chư Phật, Bồ Tát vì cứu độ chúng sanh mà ẩn tàng ánh sáng trí tuệ, lấy phương tiện quyền giả của Ứng Hóa Thân () mà sanh ra nơi cõi trần thế đầy rẫy phiền não, khổ đau; cùng kết duyên với chúng sanh, dần dần dẫn dắt họ đến với Phật pháp, nhưng vẫn siêu trần thoát tục; như trường hợp Phổ Môn Thị Hiện của Bồ Tát Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音), v.v. Như trong Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō Vol. 46, No. 1911) quyển 6 có dạy rằng: “Hòa quang đồng trần, kết duyên chi thỉ; Bát Tướng Thành Đạo, dĩ luận kỳ chung (和光同塵、結緣之始、八相成道、以論其終, hòa quang đồng trần, ban đầu kết duyên; Tám Tướng Thành Đạo, để luận chung cuộc).” Tuy nhiên, Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 375) quyển 6 lại đưa ra thuyết “hòa quang bất đồng trần (和光不同塵)” với ý nghĩa rằng chư Phật, Bồ Tát vì muốn đạt mục đích cứu độ chúng sanh nên cùng hòa hợp với chúng sanh nơi cõi trần thế, nhưng không bị ô nhiễm. Cho nên, Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經略疏垂裕記, Taishō Vol. 38, No. 1779) quyển 5 có dạy rằng: “Hòa quang bất đồng kỳ trần giả phương tiện hiện tật, cố viết hòa quang; nội vô hoặc nghiệp, cố bất đồng trần (和光不同其塵者方便現疾、故曰和光、內無惑業、故不同塵, hòa cùng ánh sáng mà chẳng đồng với bụi trần ấy, phương tiện hiện ra tật bệnh, nên gọi là hòa quang; trong không có nghiệp mê hoặc, nên không đồng trần).” Trong Quy Sơn Cảnh Sách Chú (山警策註, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1239) lại có câu rằng: “Ẩn mai kỳ tích nhi hòa quang đồng trần, thao tàng hư danh nhi khử hoa vụ thật (隱晦其跡而和光同塵、韜藏虛名而去華務實, mai danh ẩn tích mà hòa quang đồng trần, giấu kín hư danh mà bỏ hoa lấy quả).” Hay trong Phạm Võng Kinh Trực Giải (梵網經直解, Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 697) cũng có đoạn rằng: “Chư Phật Bồ Tát, giáo hóa chúng sanh, tất nhiên ẩn Thánh hiện liệt, hòa quang đồng trần, dĩ đồng chúng sanh thân tướng sự nghiệp, như ảnh tùy hình, cửu hóa phương quy, sử kỳ giải thoát; thị cố giả thọ Tứ Đại huyễn thân, giả thọ Ngũ Uẩn hình mạng, nhi nhập lợi ích Tam Muội (諸佛菩薩、敎化眾生、必然隱聖現劣、和光同塵、以同眾生身相事業、如影隨形、久化方皈、使其解脫、是故假受四大幻身、假受五蘊形命、而入利益三昧, chư Phật Bồ Tát, giáo hóa chúng sanh, tất nhiên giấu sự Thánh thiện mà hiện ra sự yếu kém, hòa quang đồng trần, để cùng với thân tướng sự nghiệp của chúng sanh, như bóng theo hình, hóa độ lâu mới quy phục; cho nên mới giả thọ thân huyễn Bốn Đại, giả thọ hình hài Năm Uẩn, mà nhập vào lợi ích Tam Muội).”
  7. Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊): còn gọi là Ngũ Ấm (五陰), Ngũ Chúng (五眾), Ngũ Tụ (五聚). Uẩn (s: skandha, p: khandha, ) âm dịch là Tắc Kiện Đà (塞健陀), ý là tích tụ, loại biệt, tức là 5 loại khác nhau về các pháp hữu vi; về mặt khách quan, là chỉ cho toàn thể thế giới vật chất cũng như tinh thần. Ngũ Uẩn gồm: (1) Sắc Uẩn (s: rūpa-skandha, p: rūpa-khandha, 色蘊), tức chỉ cho nhục thể hữu tình, thế giới vật chất, các yếu tố Đất, Nước, Gió, Lửa, cũng như những loại được hình thành từ các yếu tố ấy. Trong 75 pháp của Câu Xá Luận (具舍論), 11 pháp Nhãn (, mắt), Nhĩ (, tai), Tỷ (, mũi), Thiệt (, lưỡi), Thân (, thân thể), Sắc (, sắc màu), Thanh (, âm thanh), Hương (, mùi hương), Vị (, mùi vị), Xúc (, xúc chạm), Vô Biểu (無表, không thể hiện) là chỉ cho Sắc Uẩn. (2) Thọ Uẩn (s: vedanā-skandha, p: vedanā-khandha, 受蘊), chỉ cho tác dụng cảm thọ của khổ, vui, v.v., mang tính tinh thần (tri giác), mang tính nhục thể (cảm giác); được phân thành 3 loại Thọ là Khổ, Vui, Không Khổ Không Vui; hay 5 loại Thọ là Ưu (, buồn), Hỷ (, mừng), Khổ (, khổ), Lạc (, vui), Xả (, xả bỏ). (3) Tưởng Uẩn (s: sañjā-skandha, p: saññā-khandha, 想蘊), tương đương với khái niệm, biểu tượng. (4) Hành Uẩn (s: sakhāra-skandha, p: sakhāra-khandha, 行蘊), nghĩa hẹp là chỉ cho tư duy (ý chí); nghĩa rộng là chỉ cho các pháp tâm bất tương ứng với tính cách là sức mạnh để vận động hết thảy tác dụng tinh thần, tác dụng vật chất, trừ ba uẩn Thọ, Tưởng và Thức. Tỷ dụ như Đắc (, đạt được), Phi Đắc (非得, không đạt được), Sanh (, sanh), Trụ (, tồn tại), Dị (, thay đổi), Diệt (, hoại diệt), Danh (), Cú (), Văn (), v.v. (5) Thức Uẩn (s: vijñāna-skandha, p: viññāa-khandha, 識蘊), với tính cách là chủ thể của tâm, nó chỉ cho Nhãn Thức (眼識) cho đến 6 thức kia; hơn nữa thức thứ 7 Mạt Na (末那) cũng như thức thứ 8 A Lại Da (s, p: ālaya, 阿賴耶) của Duy Thức Học, cũng thuộc về Thức Uẩn nầy. Trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 28 có đoạn rằng: “Phật vi nhất thiết mê nhân nhận Ngũ Uẩn hòa hợp vi tự thể tướng, phân biệt nhất thiết pháp vi ngoại trần tướng, hiếu sanh ố tử niệm niệm thiên lưu, bất tri mộng huyễn hư giả, uổng thọ luân hồi (佛爲一切迷人認五蘊和合爲自體相、分別一切法爲外塵相、好生惡死念念遷流、不知夢幻虛假、枉受輪回, Phật vì hết thảy người mê nhận Năm Uẩn hòa hợp là tướng tự thể, phân biệt tất cả pháp là tướng ngoại trần, thích sống sợ chết mỗi niệm trôi nổi, chẳng biết mộng huyễn giả dối, uổng chịu luân hồi).” Hay như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 38 cũng có câu: “Ngũ Uẩn sơn trung tịch diệt trường, lục song hư sưởng dạ sanh quang, chỉ tu hoán tỉnh yểm trung chủ, mạc sử hôn trầm tự cái tàng (五蘊山中寂滅塲、六窗虛敞夜生光、只須喚醒弇中主、莫使昏沉自蓋藏, Năm Uẩn trong rừng vắng lặng trường, sáu cửa mở toang đêm phát quang, chỉ nên tỉnh thức làm chủ cả, chớ để hôn trầm che kín màng).” Hoặc trong phần Bát Nhã (般若) của Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖大師法寶壇經, Taishō No. 2008) có đoạn: “Đương dụng đại trí tuệ, đả phá Ngũ Uẩn phiền não trần lao, như thử tu hành, định thành Phật đạo, biến Tam Độc vi Giới Định Tuệ(當用大智打破五蘊煩惱塵勞如此修行定成佛道變三毒爲戒定慧, nên dùng trí tuệ lớn, đả phá Năm Uẩn phiền não trần lao; tu hành như vậy, nhất định thành Phật đạo, biến Ba Độc thành Giới Định Tuệ).” Trong Kinh Bát Nhã có câu rất nổi tiếng là: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách (觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時、照見五蘊皆空、度一切苦厄, khi Bồ Tát Quán Tự Tại thực hành sâu trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật Đa, thấy rõ Năm Uẩn đều không, thoát khỏi hết thảy khổ ách).” Từ đó, Ngũ Uẩn Giai Không (五蘊皆空, Năm Uẩn Đều Không) hay Nhất Thiết Giai Không (一切皆空, Tất Cả Đều Không) được xem như là tư tưởng căn bản của Phật Giáo. Như trong Thiền Gia Quy Giám (禪家龜鑑, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1255) có đoạn: “Phàm nhân lâm mạng chung thời, đản quán Ngũ Uẩn giai không, Tứ Đại vô ngã, chân tâm vô tướng, bất khứ bt lai, sanh thời tánh diệc bất sanh, tử thời tánh diệc bất khứ, trạm nhiên viên tịch, tâm cảnh nhất như (凡人臨命終時、但觀五蘊皆空、四大無我、眞心無相、不去不來、生時性亦不生、死時性亦不去、湛然圓寂、心境一如, phàm người khi đến lúc lâm chung, nên quán Năm Uẩn vô thường, Bốn Đại vô ngã, chân tâm vô tướng, không đến không đi, khi sanh tánh cũng không sanh, khi chết tánh cũng không mất, vắng lặng tròn đầy, tâm cảnh như một).”
  8. Bát Phong (八風): tám ngọn gió, còn gọi là Bát Pháp (八法), Bát Thế Phong (八世風); là 8 pháp hay ngọn gió được thế gian yêu, ghét, có thể làm động nhân tâm, nên lấy gió làm ví dụ. Tám ngọn gió ấy gồm: (1) Lợi (), tức lợi ích; phàm có lợi ích đối với mình, đều gọi là lợi. (2) Suy (), tức suy diệt; phàm có sự suy tổn đối với mình, đều gọi là suy. (3) Hủy (), tức hủy báng, vì nhân ghét người nào đó, dùng lời không tốt để nói xấu họ. (4) Dự (), tức khen ngợi, tán thán, nghĩa là do vì yêu thích người nào đó, cho dù chưa hề gặp mặt, cũng lấy lời lẽ tốt đẹp mà khen ngợi. (5) Xưng (), xưng dương, nêu cao; nghĩa là do vì tôn trọng người nào đó, thường xưng dương họ trước mọi người. (6) Cơ (), tức quở trách, chê bai; nghĩa là do vì ghét người nào đó, dù không có chuyện gì, cũng dối làm cho thành sự thật, chê bai, trình bày trước mọi người. (7) Khổ (), tức có ý nghĩa bức bách; nghĩa là nhân gặp duyên hay cảnh không tốt mà thân tâm phải chịu bức bách, khổ não. (8) Lạc (), ý là vui mừng; nghĩa là nhân gặp duyên hay cảnh tốt mà thân tâm đều vui mừng, hoan hỷ. Trong Đại Thừa Vô Sanh Phương Tiện Môn (大乘無生方便門, Taishō Vol. 85, No. 2834) có câu: “Thân thể cập thủ túc, tịch nhiên an bất động, Bát Phong xuy bất động (身體及手足、寂然安不動、八風吹不動, thân thể và tay chân, vắng lặng yên chẳng động, Tám Gió thổi chẳng động).” Hay như trong Thiền Môn Chư Tổ Sư Kệ Tụng (禪門諸祖師偈頌, Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1298), quyển 2, phần Tô Khê Hòa Thượng Mục Hộ Ca (蘇溪和尚牧護歌) lại có câu: “Sanh dã do như trước sam, tử dã hoàn đồng thoát khố, sanh tử vô hỷ vô ưu, Bát Phong khởi năng kinh bố(生也猶如著衫、死也還同脫袴、生死無喜無憂、八風豈能驚怖, sống cũng giống như mặc áo, chết chẳng khác gì cởi quần, sống chết chẳng vui chẳng buồn, Tám Gió tại sao kinh sợ).” Hoặc như trong Ngô Sơn Tịnh Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (吳山淨端禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1449) có đoạn rằng: “Phổ Hóa Hàn Sơn Thập Đắc chi lưu, chỉ yếu đương nhân thời thời tỉnh bộ, bất tùy Bát Phong sở phiêu, hốt nhiên nhất niệm tương ưng, tức thị đáo gia thời tiết (普化寒山拾得之流、只要當人時時省捕、不隨八風所漂、忽然一念相應、卽是到家時節, dòng Thiền của Phổ Hóa, Hàn Sơn, Thập Đắc, chỉ cần người ấy luôn luôn tỉnh giác nắm bắt, chẳng bị Tám Gió cuốn theo, đột nhiên một niệm tương ưng, tức là đến lúc về nhà).” Tương truyền thi sĩ Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) có làm một bài thơ thể hiện chỗ sở ngộ của ông và trình lên cho Thiền Sư Phật Ấn Liễu Nguyên (佛印了元, Butsuin Ryōgen, 1032-1098) xem, trong đó có hai câu rằng: “Bát Phong xuy bất động, đoan tọa Tử Kim Đài (八風吹不動、端坐紫金台, Tám Gió thổi chẳng động, ngồi yên Vàng Tía Đài).”
  9. Khai Sĩ (開士): tên gọi khác của Bồ Tát. Vị Bồ Tát hiểu rõ tất cả chân lý, có thể dẫn dắt chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, có thể tự khai mở giác ngộ, lại có thể khai mở tín tâm của người khác; nên có tên gọi như vậy. Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển 1 có đoạn rằng: “Kinh trung đa hô Bồ Tát vi Khai Sĩ, Tiền Tần Phù Kiên tứ Sa Môn hữu đức giải giả hiệu Khai Sĩ (經中多呼菩薩爲開士、前秦苻堅賜沙門有德解者號開士, trong kinh phần lớn gọi vị Bồ Tát là Khai Sĩ, vua Phù Kiên [338-385] nhà Tiền Tần ban tặng cho vị Sa Môn có đức độ và thông hiểu kinh điển là Khai Sĩ).” Trong Độ Thế Phẩm Kinh (度世品經, Taishō Vol. 10, No. 292) quyển 2 có câu: “Sử ngô bất ly chư Phật Thế Tôn cập chư Khai Sĩ, quyên trừ sanh tử trì dật chi nạn (使吾不離諸佛世尊及諸開士、蠲除生死馳逸之難, khiến ta chẳng rời chư Phật Thế Tôn cùng các vị Bồ Tát, dứt trừ nạn sống chết đuổi theo).” Hay trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414) quyển 8 lại có đoạn: “Tam thế Thánh nhân, lịch đại Khai Sĩ, mạc bất tự thử nhi xuất; tam thiên uy nghi, bát vạn tế hạnh, mạc bất tự thử nhi sanh (三世聖人、歷代開士、莫不自此而出、三千威儀、八萬細行、莫不自此而生, ba đời Thánh nhân, lịch đại Bồ Tát, thảy đều từ đây mà ra; ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, thảy đều từ đây mà sanh).”
  10. Hòa Thượng (s: upādhyāya, p: upajjhāya, 和尚、和上): chỉ bậc xuất gia đức độ cao cả; còn gọi là Hòa Xà (和闍), Hòa Xã (和社), Cốt Xã (鶻社), Ô Xã (烏社), Ô Ba Đà Da (鄔波馱耶), Ô Ba Địa Da (摀波地耶), Ưu Ba Đà Ha (優婆陀訶), Úc Ba Đệ Da Dạ (郁波第耶夜), Phật Đà (佛佗). Ý dịch là Thân Giáo Sư (親敎師), Lực Sanh (力生), Cận Tụng (近誦), Y Học (依學), Đại Chúng Chi Sư (大眾之師). Hòa Thượng là bậc thầy mô phạm của người thọ giới, cho nên các tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tịnh Độ, v.v., đều gọi là Giới Hòa Thượng (和尚). Về sau, Hòa Thượng trở thành tôn xưng của trò đối với bậc thầy. Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch là Lực Sanh, ý chỉ rằng đệ tử nương vào thầy mà sanh đạo lực, nhưng nghĩa nầy không được lưu truyền rộng rãi. Trong giai vị Tăng Quan của Phật Giáo Nhật Bản có chức vị Hòa Thượng, Đại Hòa Thượng. Đặc biệt, vị trú trì của một chùa nào đó cũng được gọi là Oshō-sama (和尚様, Hòa Thượng Dạng), hay Oshō-san (和尚さん) mang nghĩa thông tục. Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 13 cho biết rằng: “Vân hà Sa Di, Sa Di Ni xuất gia thọ giới pháp ? Bạch Y lai dục cầu xuất gia, ưng cầu nhị sư, nhất Hòa Thượng, nhất A Xà Lê; Hòa Thượng như phụ, A Xà Lê như mẫu; dĩ khí bổn sanh phụ mẫu, đương cầu xuất gia phụ mẫu. Trước Ca Sa, thế trừ tu phát, ưng lưỡng thủ tróc Hòa Thượng lưỡng túc. Hà dĩ tróc túc ? Thiên Trúc pháp dĩ tróc túc vi đệ nhất cung kính cúng dường (云何沙彌、沙彌尼出家受戒法、白衣來欲求出家、應求二師、一和上、一阿闍梨、和上如父、阿闍梨如母、以棄本生父母、當求出家父母、著袈裟、剃除鬚髮、應兩手捉和上兩足、何以捉足、天竺法以捉足爲第一恭敬供養, thế nào là Sa Di, Sa Di Ni xuất gia thọ giới pháp ? Hàng Bạch Y đến muốn cầu xuất gia, nên cầu hai vị thầy: một là Hòa Thượng, một là A Xà Lê; Hòa Thượng như cha, A Xà Lê như mẹ; để bỏ đi cha mẹ sanh mình ra, nên cầu cha mẹ xuất gia. Mang y Ca Sa, cạo bỏ râu tóc, nên lấy hai tay nắm chặt hai chân của Hòa Thượng. Vì sao vậy ? Pháp tắc của Ấn Độ cho rằng nắm chặt chân là cung kính cúng dường số một).”
  11. Chùa Ba La Mật (波羅蜜寺): do Bố Chánh Nguyễn Khoa Luận (tức Đại Sư Viên Giác [圓覺]) khai sơn vào năm 1886 (Mậu Tuất, Đồng Khánh [同慶] thứ 2) ở thôn Nam Phổ, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, sau khi đã treo ấn từ quan. Đại Sư xuất gia ở Chùa Từ Hiếu, làm đệ tử của Ngài Hải Thiệu Cương Kỷ. Sau đó về nhà xây một ngôi chùa trong vườn để tu hành, đặt tên là Ba La Mật. Những pháp tử thuộc thế hệ sau tiếp tục trùng tu chùa như Hòa Thượng Viên Thành, Hòa Thượng Trí Thủ và chùa trở thành một trong những ngôi chùa trang nghiêm ở Huế. Đặc biệt vào năm 1943 (Quý Mùi, Bảo Đại [保大] thứ 18), Hòa Thượng Trí Thủ đã tổ chức trùng tu, kiến trúc ngôi chùa khang trang như ngày nay. Chùa Ba La Mật hiện nay đặt văn phòng Ban Đại Diện Phật Giáo huyện Phú Vang. (Theo nguồn của Dư Địa Chí Thừa Thiên-Huế, Võ Văn Tường: 500 Danh Lam Việt Nam. Nhà Xuất Bản Thông Tấn, 2008, tr. 133)
  12. Đại Sư Thanh Chơn Viên Giác (清眞圓覺, 1835-1900), húy là Nguyễn Khoa Luận, nguyên làm quan Bố Chánh Thanh Hóa. Sau treo ấn từ quan, xuất gia thọ giáo với Hòa Thượng Hải Thiệu Cương Kỷ ở Chùa Từ Hiếu (慈孝寺). Sau một thời gian, vào năm 1886 (Bính Tuất, Đồng Khánh thứ 2), Ngài về lại ngôi nhà của gia đình tại làng Nam Phổ, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, xây một ngôi chùa ở trong vườn nhà để tu hành, đặt tên là Ba La Mật (波羅蜜). Sinh tiền Ngài nổi tiếng là một vị cao tăng chuyên tu khổ hạnh và trì tụng Kinh Bát Nhã Ba La Mật, nên lấy tên chùa như vậy. Viên Giác Đại Sư viên tịch vào ngày 26 tháng 6 năm Canh Tý (1900, Thành Thái [成泰] thứ 12), hưởng thọ 66 tuổi. Đại sư có một vị đệ tử xuất chúng là Thiền Sư Viên Thành (圓成), Tổ khai sơn Chùa Tra Am (Huế). Sau khi Đại Sư viên tịch, chùa Ba La Mật được Pháp điệt của Ngài là Hòa Thượng Tâm Như Trí Thủ (心如智首) trùng tu vào năm 1934 và đại trùng tu vào năm 1943 (Theo nguồn của Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Liễu Quán, Huế). Trong bộ Hàm Long Sơn Chí (山志, ghi năm Kỷ Hợi [1899, Thành Thái 11]) quyển 1, phần Từ Hiếu Tự Yết Ma Hòa Thượng Pháp Từ (慈孝寺羯磨和尚法嗣, pháp từ của Hòa Thượng Yết Ma [tức Ngài Hải Thiệu Cương Kỷ] Chùa Từ Hiếu), có đoạn ghi rõ bài kệ phú pháp như sau: “Phó Thanh Chơn Viên Giác Đại Sư kệ viết: ‘Sơn hoa chánh phát sắc phương hưng, dụng lực tài bồi nhật nhật tân, tăng tiến Bồ Đề vô thối chuyển, xuân lai kết quả khí phương phân’ (清眞圓覺大師偈曰、山花正發色方興、用力栽培日日新、增進菩提無退轉、春來結菓氣芳芬, Trao cho Đại Sư Thanh Chơn Viên Giác kệ rằng: ‘Hoa núi nở ra màu tươi xinh, dùng sức vun bồi ngày mới toanh, tinh tấn Bồ Đề không thối chuyển, xuân về kết trái khí thơm lừng’).” Nếu xét về thứ tự, Ngài là đệ tử thứ 8 của Ngài Hải Thiệu Cương Kỷ. Trước Ngài có các vị (1) Thanh Phước Chánh Lương (清福正良); (2) Thanh Quang Huệ Đăng (清光慧燈); (3) Thanh Mỹ Dụ Côn (清美裕昆); (4) Thanh Đức Huệ Nghiêm (清德慧嚴); (5) Thanh Lợi Hiền Lương (清利賢良); (6) Thanh Xán Huệ Khánh (清燦慧慶); (7) Thanh Hy Nguyên Cát (清熙元吉); Sau Ngài có các vị khác như: (1) Thanh Hợp Từ Vân (清合慈雲); (2) Thanh Trường Minh Chí (清長銘鋕); (3) Thanh Minh Đức Nhuận (清明德潤); (4) Thanh Bạch Châu Lâm (清白珠林); (5) Thanh Tường Huệ Chiếu (清祥慧炤); (6) Thanh Thái (清泰), tự Chánh Sắc (正色), Huệ Minh (慧明); (7) Thanh Trừng (清澄), tự Tự Toản (緒纂), Huệ Đạt (慧達); (8) Thanh Giáo (清敎), tự Từ Hàng (慈航), Huệ Quang (慧光); (9) Thanh Kỳ (清淇) tự Duy Trì (維持), Huệ Khai (慧開); (10) Thanh Tâm (清心), tự Duy Thận (惟愼), Huệ Lãng (慧朗). (11) Thanh Tú (清秀), tự Phong Nhiêu (豐饒), Huệ Pháp (慧法); (12) Thanh Thiệm (清贍), tự Trực Chất (), Huệ Nhật (慧日); (13) Thanh Tánh (清性), tự Lý Thiệm (), Huệ Điểm (慧點); (14) Thanh Bổn (清本), tự Long Thi (隆詩), Huệ Tuấn (慧峻); (15) Thanh Lý (), tự Chánh Tâm (正心), Huệ Nguyên (慧源); (16) Thanh Nghiệm (清騐), tự Duy Cần (維勤), Huệ Lực (慧力); (17) Thanh Phước (清福), tự Vĩnh Gia (永嘉), Huệ Khai (慧開); (18) Thanh Phước (清福), tự Hưng Long (興隆), Huệ Thành (慧誠); (19) Thanh Kiệm (清儉), tự Huy Tuần (輝珣), Huệ Thông (慧通); (20) Thanh Trí (清智), tự Hải Luận (海論), Huệ Giác (慧覺); (21) Thanh Bình (清平), tự Chánh Chất (正質), Huệ Linh (慧靈); (22) Thanh Nguyên (清源), tự Phổ Hiệp (溥洽), Huệ Sanh (慧生), v.v.
  13. Linh Sơn (靈山): tiếng gọi tắt của Linh Thứu Sơn (靈鷲山), hay còn gọi là Thứu Phong (鷲峰), Thứu Lãnh (鷲嶺), tiếng phiên âm của nguyên ngữ Sanskrit là Kỳ Xà Quật Sơn (s: Gdhrakūa, p: Gijjhakūa, 耆闍崛山), tên ngọn núi nằm ở phía Đông Bắc thành Vương Xá thuộc nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), hiện tại nằm ở phía Đông Rajgir của Ấn Độ. Đây là một trong những Thánh địa của Phật Giáo, là nơi đức Phật đã từng thuyết pháp; cho nên người ta cho rằng phần lớn các kinh điển Đại Thừa như Pháp Hoa, Bát Nhã, Đại Bảo Tích, Vô Lượng Thọ, v.v., và cũng như câu chuyện Niêm Hoa Vi Tiếu của Thiền Tông đều phát xuất từ đây. Trong bộ Long Hưng Phật Giáo Biên Niên Thông Luận (隆興佛敎編年通論, Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 12 do Thạch Thất Sa Môn Tổ Tú (石室沙門祖琇) ở phủ Long Hưng (隆興府) soạn, có đoạn: “Huyền Trang … sưu dương Tam Tạng tận Long Cung chi sở trữ, nghiên cứu Nhất Thừa cùng Thứu Lãnh chi di chỉ, tinh dĩ tải ư Bạch Mã hoàn hiến Tử Thần, tầm mông hạ chiếu sắc sứ phiên dịch (玄奘搜揚三藏盡龍宮之所儲、研究一乘窮鷲嶺之遺旨、幷已載於白馬還獻紫宸、尋蒙下詔敕使翻譯, Huyền Trang … tìm tòi Tam Tạng kinh điển tận chốn Long Cung tàng trữ, nghiên cứu giáo lý Nhất Thừa soi rõ yếu chỉ của Thứu Lãnh, cùng bỏ lên Bạch Mã mang về dâng Hoàng triều, mong trên hạ chiếu cho người phiên dịch).” Trong bài thơ Linh Ẩn Tự (靈隱寺) của thi sĩ Tống Chi Vấn (宋之問, khoảng 656-712) đầu thời nhà Đường có câu trứ danh là: “Thứu Lãnh uất thiều nghiêu, Long Cung tỏa tịch liêu, lâu quán thương hải nhật, môn đối Triết Giang triều, quế tử nguyệt trung lạc, thiên hương vân ngoại phiêu (鷲嶺鬱岧嶢、龍宮鎖寂寥、樓觀滄海日、門對浙江潮、桂子月中落、天香雲外飄, Thứu Lãnh rậm vút cao, Long Cung mờ tịch liêu, lầu trên biển xanh ngắm, cửa tựa Triết Giang triều, hàng quế trăng thầm rụng, hương trời mây trắng bay).” Hoặc trong bài Hòa Vương Ký Thất Tùng Triệu Vương Xuân Nhật Du Đà Sơn Tự (和王記室從趙王春日遊陀山寺) của Lạc Tân Vương (駱賓王, khoảng 619-687) nhà Đường cũng có câu: “Điểu dư bồi phỏng đạo, Thứu Lãnh hiệp thê chơn, Tứ Thiền minh tĩnh nghiệp, Tam Không quảng thắng nhân, tường hà sơ điệp giản, huệ nhật kiểu trùng luân, diệp ám Long Cung mật, hoa minh Lộc Uyển xuân (鳥旟陪訪道、鷲嶺狎棲眞、四禪明靜業、三空廣勝因、祥河疏疊澗、慧日皎重輪、葉暗龍宮密、花明鹿苑春, cờ xí lên vấn đạo, Thứu Lãnh dưỡng nuôi chơn, Bốn Thiền sáng nghiệp lắng, Ba Không rõ duyên nhân, sông từ trong khe mát, trời tuệ tỏ thế nhân, lá che Long Cung thẳm, hoa tươi Lộc Uyển xuân).”
  14. Phật gia (佛家): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Nơi thờ phụng chư Phật, nơi chư tăng tu hành theo pháp môn Phật Giáo; tức chỉ cho chùa, tự viện Phật Giáo. (2) Chỉ cho người tin thờ Phật Giáo, tức tín đồ Phật Giáo; hay tăng lữ hoặc nhà nghiên cứu tư tưởng học thuật Phật Giáo. Như trong Chu Tử Ngữ Loại (朱子語類) quyển 76 của Lê Tĩnh Đức (黎靖德, ?-?) nhà Tống, có đoạn: “Phật gia hữu hàm cái càn khôn cú, hữu tùy ba trục lưu cú, hữu tiệt đoạn chúng lưu cú, Thánh nhân ngôn ngữ diệc nhiên (佛家有函蓋乾坤句、有隨波逐流句、有截斷眾流句、聖人言語亦然, nhà Phật có câu ‘che trùm trời đất’, có câu ‘theo sóng thuận dòng’, có câu ‘chận đứt các dòng’, ngôn ngữ Thánh nhân cũng như vậy).” (3) Chỉ cho cõi Tịnh Độ của chư Phật. Như trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō Vol. 12, No. 365) có dạy rằng: “Nhược niệm Phật giả, đương tri thử nhân tức thị nhân trung Phân Đà Lợi hoa; Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, vi kỳ thắng hữu, đương tọa đạo tràng, sanh chư Phật gia (若念佛者、當知此人卽是人中芬陀利花、觀世音菩薩、大勢至菩薩、爲其勝友、當坐道塲、生諸佛家, nếu có người niệm Phật, phải biết người nầy tức là hoa Phân Đà Lợi trong cõi người; Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí là bạn lành của họ, sẽ ngồi đạo tràng, sanh vào nhà chư Phật).” Trong Giáo Giới Tân Học Tỳ Kheo Hành Hộ Luật Nghi (敎誡新學比丘行護律儀, Taishō Vol. 45, No. 1897) lại có câu: “Chư thiện luật nghi, Phật gia chi trụ thạch dã, đạo phẩm chi lâu quán, Thiền định chi tâm thành (諸善律儀、佛家之柱石也、道品之樓觀、禪定之心城, các luật nghi đúng, là trụ đá của nhà Phật, là lầu đài của đạo đức, là thành trì của Thiền định).” Hay như trong Thập Trụ Kinh (十住經, Taishō Vol. 10, No. 286) quyển 1 cũng có dạy rằng: “Chư Phật tử ! Bồ Tát sanh như thị tâm, tức thời quá phàm phu địa, nhập Bồ Tát vị, sanh tại Phật gia (諸佛子、菩薩生如是心、卽時過凡夫地、入菩薩位、生在佛家, này các Phật tử ! Bồ Tát sanh tâm như vậy, tức thời vượt qua cõi phàm phu, bước vào địa vị Bồ Tát, sanh tại nhà Phật).”
  15. Theo Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam Thế Kỷ XX, Tập I do Thích Đồng Bổn chủ biên (Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh ấn hành, 1995, tr. 55), phần tiểu sử Hòa Thượng Thích Vĩnh Gia (1840-1918) có ghi là: “Ngài họ Đoàn tên Nhược, quán làng Thế Dương, quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam”; nhưng nếu căn cứ vào bản nguyên bản Hán văn trong Bản Công Văn của Tổ Giác Tiên: “Quán Quảng Nam, Lễ Dương, An Hiệp nhân(貫廣南、醴陽、安合人, Ngài quê quán người vùng An Hiệp, Lễ Dương, Tỉnh Quảng Nam).” Như vậy, quê quán của Ngài ở làng Lễ Dương (hiện tại là làng An Hiệp, xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam), chứ không phải là Thế Dương.
  16. Tên thật của Ngài là Đoàn Văn Hiệu (theo Thích Như Tịnh: Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh. Nhà Xuất Bản Phương Đông, 2009, tr. 162).
  17. Đồng sấn (童齔): (1) Tuổi ấu thơ, đồng niên. Như trong Cựu Đường Thư (舊唐書), Truyện Bùi Hưu (裴休傳) có câu: “Hưu chí thao kiên chánh, đồng sấn thời, huynh đệ đồng học ư Tế Nguyên biệt thự (休志操堅正、童齔時、兄弟同學於濟源別墅, Hưu chí vững kiên trì, lúc tuổi nhỏ, anh em cùng học nơi biệt thự của Tế Nguyên).” Hay như trong Quách Tân Giai Truyện (郭新楷傳) của Vương Khải Vận (王闓運, 1833-1916) cũng có câu: “Đồng sấn dĩnh dị, sổ tuế tang phụ, cô cư Trường Sa (童齔穎異、數歲喪父、孤居長沙, lúc nhỏ khác thường, mấy năm sau để tang cha, sống một mình nơi Trường Sa).” (2) Chỉ cho tiểu nhi, đứa con nít. Như trong Bắc Sử (北史), Truyện Hàn Kỳ Lân (韓麒麟傳) có đoạn rằng: “Giả lịnh nhất xứ đàn tranh, xuy địch, hoãn vũ trường ca, nhất xứ nghiêm sư khổ huấn, tụng thi giảng lễ, tuyên lịnh đồng sấn, nhậm ý sở tùng (假令一處彈箏、吹笛、緩舞長歌、一處嚴師苦訓、誦詩講禮、宣令童齔、任意所從, giả ra lịnh cho một nơi chơi đàn tranh, thổi sáo, nhảy múa, ca hát; một nơi khác thì có thầy nghiêm khắc, dạy khó khăn, đọc thơ giảng lễ nghi, rồi ra lịnh bảo trẻ nít, tùy ý theo nơi nào).” Ngoài ra, Thuyết Văn (說文) có giải thích rõ rằng: “Nam bát nguyệt sanh xỉ, bát tuế nhi sấn; nữ thất nguyệt sanh xỉ, thất tuế nhi sấn (男八月生齒、八歲而齔、女七月生齒、七歲而齔, nam tám tháng mọc răng, tám tuổi mọc răng già; nữ bảy tháng mọc răng, bảy tuổi mọc răng già).” Cho nên trẻ em 7, 8 tuổi còn được gọi là Đồng Sấn (童齔). Trẻ lên 9 tuổi là Cửu Linh (九齡). Trong Chu Thư (周書), quyển 12, Liệt Truyện (列傳) thứ 4, phần Tề Dương Vương Hiến (齊煬王憲) có đoạn rằng: “Tề Dương Vương Hiến tự Tỳ Hạ Đột, Thái Tổ đệ ngũ tử dã; tánh thông mẫn, hữu độ lượng, tuy tại đồng sấn, nhi thần thái ngực nhiên (齊煬王憲字毗賀突、太祖第五子也、性通敏、有度量、雖在童齔、而神彩嶷然, Tề Dương Vương Hiến tự là Tỳ Hạ Đột, con thứ năm của Thái Tổ [tại vị 479-482]; tánh thông mẫn, có độ lượng, tuy đang còn nhỏ tuổi mà thần thái khác người).” Trong Ma Ha A Di Đà Kinh Trung Luận (摩訶阿彌陀經衷論, Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 401) có câu rằng: “Dư đồng sấn thời, nhật tùng tiên tỉ chú hương đảnh lễ, cập thập tuế quá hương đôn, văn kỳ sư phương thọ chư đệ Mạnh Tử thư (余童齔時、日從先妣炷香頂禮、及十歲過鄉墩、聞其師方授諸弟孟子書, lúc ta tuổi còn bé, hằng ngày theo mẹ đã quá vãng thắp hương đảnh lễ, đến mười tuổi khi đi qua ụ đất của làng, nghe vị thầy ấy dạy cho học trò sách Mạnh Tử).” Hoặc như trong Khai Nguyên Thích Giáo Lục (開元釋敎錄, Taishō Vol. 55, No. 2154) quyển 3, truyện của Phật Đà Bạt Đà La (s: Buddhabhadra, 佛陀跋陀羅, thế kỷ thứ 7) cũng có câu: “Kỳ đồng sấn xuất gia, dĩ thông giải kinh luận, thiếu thọ nghiệp ư Đại Thiền Sư Phật Đại Tiên (其童齔出家、已通解經論、少受業於大禪師佛大先, Ngài xuất gia lúc bé, đã thông hiểu kinh luận, lớn lên thọ giáo với Đại Thiền Sư Phật Đại Tiên).”
  18. Quán tuế (丱歲): thuở bé, tuổi nhỏ. Quán () có nghĩa là bện tóc làm hai múi hai bên, nên quán tuế là tuổi bện tóc thành hai múi, tuổi để tóc chỏm. Như vậy, tuổi đồng sấn (童齔) còn trẻ nhỏ hơn quán tuế vài tuổi. Như trong bài Hậu Chu Minh Uy Tướng Quân Lương Công Thần Đạo Bi (後周明威將軍梁公神道碑) của thi sĩ Dương Quýnh (楊炯, 650-695) nhà Đường có câu: “Quán tuế đằng phương, thiều niên siêu ái (丱歲騰芳、髫年超靄, tuổi nhỏ hiển đạt, lớn lên siêu quần).” Trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) có đoạn rằng: “Sư, Vĩnh Gia nhân dã, tánh Đới thị; quán tuế xuất gia, biến thám Tam Tạng, tinh Thiên Thai Chỉ Quán viên diệu pháp môn (師、永嘉人也、姓戴氏、丱歲出家、遍探三藏、精天台止觀圓妙法門, sư người vùng Vĩnh Gia, họ là Đới; tuổi nhỏ xuất gia, tìm khắp Tam Tạng, tinh thông pháp môn mầu nhiệm tròn đầy của Thiên Thai Chỉ Quán).” Hơn nữa, trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 32 cũng có đoạn: “Trường Sa Phủ Quy Sơn Ngũ Phong Như Học Thiền Sư, Lâm Đồng Nhậm thị tử, quán tuế thất hỗ, tùng Ngũ Đài Thiên Tề trĩ phát, viên cụ ư Trừng Luật Sư (長沙府山五峰如學禪師、臨潼任氏子、丱歲失怙、從五臺天齊薙髮、圓具於澄律師, Thiền Sư Như Học ở Quy Sơn Ngũ Phong, phủ Trường Sa, con nhà họ Nhậm ở Lâm Đồng, tuổi nhỏ đã mất cha, xuống tóc xuất gia với Thiên Tề ở Ngũ Đài Sơn, thọ cụ túc giới với Trừng Luật Sư).”
  19. Võng cực (罔極): (1) Không cùng tận. Như trong Thi Kinh (詩經), phần Tiểu Nhã (小雅), Hà Nhân Tư (何人斯), có câu: “Hữu điến diện mục, thị nhân võng cực (有靦面目、視人罔極, có vẻ thẹn thùng, nhìn người không cùng tận).” (2) Chỉ cho công ơn của cha mẹ vô cùng vô tận như trời đất. Cũng trong Thi Kinh, phần Tiểu Nhã, Lục Nga (蓼莪) có đoạn: “Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, … dục báo chi đức, hạo thiên võng cực (父兮生我、母兮鞠我欲報之德、昊天罔極, cha chừ sanh ta, mẹ chừ nuôi ta, … muốn báo đức ấy, trời cao vô tận).” Hay trong bản Cầu Thông Thân Thân Biểu (求通親親表) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc cũng có câu: “Chung hoài lục nga võng cực chi ai (終懷蓼莪罔極之哀, mãi nhớ đến nỗi đau buồn vô cùng tận khi mất cha mẹ).” Chu Hy Tập Truyện (朱熹集傳) có câu rằng: “Ngôn phụ mẫu chi ân, như thiên vô cùng, bất tri sở dĩ vi báo dã (言父母之恩、如天無窮、不知所以爲報也, gọi là ơn cha mẹ, như trời đất vô cùng, không biết lấy gì để báo đáp được vậy).” Từ đó, sau nầy từ võng cực được dùng để chỉ cho sự nhớ tưởng xót xa, đau buồn vô cùng tận của người con đối với cha mẹ đã quá vãng. Trong Duy Tâm Tập (唯心集, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1208) có khuyên rằng: “Võng cực ân thâm hà dĩ báo, vô như niệm Phật độ song thân (罔極恩深何以報、無如念佛度雙親, ơn sâu vô tận làm sao báo, chẳng bằng niệm Phật độ song thân).” Hay như trong Chánh Tông Tâm Ấn Hậu Tục Liên Phương (正宗心印後續聯芳, Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1617) có đoạn rằng: “Ấu chí thanh tu, trưởng cận hiền lương, tư thân ân chi võng cực, niệm quang âm chi tấn tốc, tẩy tâm địch lự, trai giới kiền thành, nguyện song thân hoạch phước thiện, lập nhất chí học Bồ Đề (幼志清修、長近賢良、思親恩之罔極、念光陰之迅速、洗心滌慮、齋戒虔誠、願雙親獲福善、立一志學菩提, tuổi nhỏ chí tu thanh tịnh, lớn lên gần bậc hiền lương, nghĩ công ơn song thân vô cùng tận, nhớ thời gian chóng qua mau, rửa sạch tâm tẩy lo nghĩ, ăn chay giữ giới tâm thành, nguyện song thân được phước thiện, lập một chí học giải thoát).”
  20. Độc lễ (讀禮): (1) Học tập lễ tiết. Như trong Tuân Tử (荀子), phần Khuyến Học (勸學) có câu: “Thỉ hồ tụng kinh, chung hồ độc lễ (始乎誦經、終乎讀禮, trước hết là tụng kinh, sau cùng học lễ tiết).” Hay trong Hạc Lâm Ngọc Lộ (鶴林玉露) quyển 5 của La Đại Kinh (羅大經, 1196-1242) nhà Tống có đoạn: “Nhi học hiệu chi sở giảng, phùng dịch chi sở đàm, kỉ hữu nhược đồ nhi chi lễ Phật, xướng gia chi độc lễ giả, thị khả thán dã (而學校之所講、逢掖之所談、幾有若屠兒之禮佛、娼家之讀禮者、是可嘆也, vậy trường học được giảng, Nho học được luận bàn, có mấy kẻ đồ tể đến lễ Phật, bao nhà điếm học lễ nghi, thật đáng tiếc thay).” (2) Người xưa trong thời gian cư tang tại nhà, thường đọc những thư tịch lễ nghi liên quan đến việc Tang Tế, vì vậy cư tang còn được gọi là độc lễ. Như trong Lễ Ký (禮記), phần Khúc Lễ (曲禮) có giải thích rằng: “Cư tang vị táng, độc tang lễ; ký táng, độc tế lễ (居喪未葬、讀喪禮、既葬、讀祭禮, thời gian cư tang chưa an táng thì đọc sách Tang Lễ, đã an táng rồi thì đọc sách Tế Lễ).” Sau nầy có vài tác phẩm liên quan đến độc lễ như Độc Lễ Nhật Tri (讀禮日知), 2 quyển, do Kim Chiết (金淛, ?-?) nhà Minh soạn; hay Độc Lễ Thông Khảo (讀禮通考), 120 quyển, của Từ Càn Học (徐乾學, 1631-1694) nhà Thanh, v.v. Trong Tam Giáo Bình Tâm Luận (三敎平心論, Taishō Vol. 52, No. 2117) quyển Thượng có câu: “Tăng can triều hiến, Ni phạm tục hình, thí tụng Luật nhi xuyên du, như độc lễ nhi kiêu cứ (僧干朝憲、尼犯俗刑、譬誦律而穿窬、如讀禮而憍倨, Tăng làm sai hiến pháp triều đình, Ni thì vi phạm hình phạt thế tục, giống như tụng Luật mà đào tường (trộm cắp), đọc lễ nghi mà kiêu ngạo).”
  21. Xuất gia (s: pravrajyā, p: pabbajjā, j: shukke, 出家): âm dịch là Ba Phệ Nễ Da (波吠儞耶), tức ra khỏi sinh hoạt gia đình thế tục, chuyên tâm tu tập tịnh hạnh của bậc Sa Môn (s: śramaa, p: samaa, 沙門). Từ nầy còn chỉ chung cho những người xuất gia, đồng nghĩa với Sa Môn, Tỳ Kheo (s: bhiku, p: bhikkhu, 比丘); đối lập với từ tại gia (在家). Trong Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký (潙山警策句釋記, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1240) quyển Hạ giải thích xuất gia có 2 nghĩa: “Xuất gia hữu nhị, nhất xuất thế tục gia, túc ly trần tục, viễn tham tri thức; nhị xuất phiền não gia, đoạn vọng chứng chơn, đốn siêu Tam Hữu (出家有二、一出世俗家、足離塵俗、遠參知識、二出煩惱家、斷妄證眞、頓超三有, xuất gia có hai, một là ra khỏi nhà thế tục, chân xa lìa trần tục, đi xa tham vấn tri thức; hai là ra khỏi nhà phiền não, đoạn sai lầm chứng chân thật, vượt ra khỏi Ba Cõi).” Hay trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh Chú (四十二章經註, Tục Tạng Kinh Vol. 37, No. 669) lại giải thích xuất gia có 3 nghĩa: “Cát ái từ thân, thân xuất gia dã; thức tâm đạt bổn, tâm xuất gia dã. Xuất gia hữu tam, nhất từ thân, xuất thế tục gia; nhị ngộ đạo, xuất Ngũ Uẩn gia; tam chứng quả, xuất Tam Giới gia (割愛辭親、身出家也、識心達本、心出家也、出家有三、一辭親、出世俗家、二悟道、出五蘊家、三證果、出三界家, cắt yêu thương, từ cha mẹ là thân xuất gia; biết rõ tâm, đạt nguồn chơn là tâm xuất gia; xuất gia có ba, thứ nhất từ cha mẹ, ra khỏi nhà thế tục; thứ hai ngộ đạo, ra khỏi nhà Năm Uẩn; thứ ba chứng quả, ra khỏi nhà Ba Cõi).” Bên cạnh đó, Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 23 cho rằng xuất gia có 4 nghĩa: “Nhất xuất trần tục ân ái gia, nhị xuất Tam Giới hỏa trạch gia, tam xuất thô hoặc phiền não gia, tứ xuất tế hoặc Vô Minh gia, xuất đắc tứ chủng gia, thỉ xưng Nạp Tăng gia (一出塵俗恩愛家、二出三界火宅家、三出麤惑煩惱家、四出細惑無明家、出得四種家、始稱衲僧家, thứ nhất ra khỏi nhà ân ái trần tục, thứ hai ra khỏi nhà bốc lửa Ba Cõi, thứ ba ra khỏi nhà phiền não thô hoặc, thứ tư ra khỏi nhà Vô Minh tế hoặc, ra khỏi được bốn loại nhà ấy, mới gọi là nhà Nạp Tăng).” Ngoài ra, xuất gia còn có 3 loại khác là thân xuất gia mà tâm không xuất gia, tâm xuất gia mà thân không xuất gia, và cả thân và tâm đều xuất gia. Phàm người phát tâm xuất gia thì phải cạo bỏ râu tóc, xả đi áo quần thế tục mà mang vào áo hoại sắc; cho nên xuất gia còn được gọi là lạc sức (落飾), thế phát (剃髮), lạc phát nhiễm y (落髮染衣), thế phát nhiễm y (剃髮染衣), thế nhiễm (), lạc nhiễm (), trĩ nhiễm (薙染). Trong 7 chúng đệ tử của Phật, ngoại trừ 2 chúng tại gia là Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞) và Ưu Bà Di (s, p: upāsikā, 優婆夷); 5 chúng còn lại thuộc hàng ngũ xuất gia là Tỳ Kheo (s: bhiku, p: bhikkhu, 比丘), Tỳ Kheo Ni (s: bhikuī, p: bhikkhunī, 比丘尼), Sa Di (s: śrāmaera, p: sāmaera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaerikā, p: sāmaerā, sāmaerī, 沙彌尼), Thức Xoa Ma Na (s: śikamāa, p: sikkhamānā, 式叉摩那); được gọi là Ngũ Chúng Xuất Gia. Từ xưa, xuất gia vốn phát xuất từ Ấn Độ, từ thời đại Phệ Đà (s: Veda, 吠陀) đã có người từ bỏ thế tục, xa gia đình để cầu giải thoát. Về sau, giáo đồ Bà La Môn kế thừa phong tục nầy, phần nhiều vào trong rừng sâu thanh vắng, chuyên tâm tu đạo. Phật Giáo khởi đầu từ việc xuất gia học đạo của đức Thích Tôn, về sau mới tổ chức thành giáo đoàn. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc quan trọng phải tuân thủ khi xuất gia là phải được sự chấp thuận của cha mẹ. Cho nên, trong Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự (根本說一切有部毘奈耶破僧事, Taishō Vol. 24, No. 1450) quyển 17 có khẳng định rằng: “Phụ mẫu bất thính, bất đắc xuất gia thọ giới (父母不聽、不得出家受戒, cha mẹ không bằng lòng, không được xuất gia thọ giới).” Có khá nhiều tác phẩm tranh vẽ, điêu khắc về hình tượng xuất gia của đức Phật, tối cổ nhất là tác phẩm ở Đại Tháp Madras, Amarāvatī, Ấn Độ. Trên cửa phía Đông của Đại Tháp Sanchi ở miền Trung Ấn cũng có các phù điêu diễn tả cảnh tượng đức Phật xuất gia như thế nào. Về phía Trung Quốc, tại Thê Hà Tự (棲霞寺) ở Giang Tô (江蘇), Linh Nham Quật Tự (靈巖窟寺) ở Sơn Tây (山西), vẫn còn những bức phù điêu khắc cảnh đức Thích Tôn đến nơi thanh tĩnh, cỡi bỏ mũ báu trao cho Xa Nặc (s: Chandaka, p: Channa, 車匿), rồi tự lấy bảo kiếm cắt tóc xuất gia. Về công đức xuất gia, Phật Thuyết Xuất Gia Công Đức Kinh (佛說出家功德經, Taishō Vol. 16, No. 707) có thuật rõ như sau: “Bất xuất gia giả, mạng chung hoặc năng đọa ư Địa Ngục(不出家者、命終或能墮於地獄, người không xuất gia, sau khi mạng hết hoặc có thể bị đọa vào Địa Ngục)”; hay “dĩ nhất nhật nhất dạ xuất gia cố, mãn nhị thập kiếp, bất đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, thường sanh thiên nhân, thọ phước tự nhiên (以一日一夜出家故、滿二十劫、不墮地獄、餓鬼、畜生、常生天人、受福自然, vì lấy một ngày một đêm xuất gia, nên tròn hai mươi kiếp, không đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, thường sanh Trời người, hưởng phước tự nhiên).”
  22. Hòa Thượng Quán Thông (貫通, 1798-1883): Ngài có thế danh là Nguyễn Văn Định, sinh năm Mậu Ngọ (1798, Cảnh Thịnh [景盛] thứ 2) tại thôn Thanh Liêm, tỉnh Bình Định. Ngài có chí xuất gia tìm cầu giải thoát nên đến bái ngài Pháp Kiêm Minh Giác làm thầy và được ban Pháp danh là Toàn Nhâm, tự Vi Ý, hiệu Quán Thông; kế thừa dòng pháp đời thứ 37 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 4 thuộc Phái Chúc Thánh. Sau khi bổn sư viên tịch, Ngài kế thừa Trú Trì Tổ Đình Phước Lâm vào năm 1830 (Canh Dần, Minh Mạng thứ 11) và sau đó được môn phái cung thỉnh làm Trú Trì Tổ Đình Chúc Thánh. Cũng trong năm nầy, Ngài cùng với các vị Toàn Đức, Toàn Định được triều đình ban cho Giới Đao, Độ Điệp. Đến năm 1835 (Ất Mùi, Minh Mạng thứ 16), Ngài đứng ra quyên góp trùng tu Tổ Đình Chúc Thánh. Vào năm 1847 (Đinh Mùi, Thiệu Trị thứ 7), Ngài khai Đại Giới Đàn tại Chùa Chúc Thánh và được cung thỉnh làm Đàn Đầu Hòa Thượng. Đến năm 1863 (Quý Hợi, Tự Đức thứ 16), Ngài tiếp tục khai Đại Giới Đàn tại Chùa Chúc Thánh. Trong số hàng đệ tử đắc pháp có Hòa Thượng Vĩnh Gia. Vào ngày mồng 2 tháng 3 năm 1883 (Quý Mùi, Tự Đức thứ 36), Ngài thị tịch, hưởng thọ 86 tuổi đời. Môn nhân cung thỉnh nhục thân Ngài nhập tháp tại bên trái (từ ngoài nhìn vào) Tổ Đình Phước Lâm. (Theo Thích Như Tịnh: Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh. Nhà Xuất Bản Phương Đông, 2009, tr. 159-160)
  23. Lễ túc (s: pāda-vandika, 禮足): lạy dưới chân; tức là lấy đảnh đầu, mặt lạy xuống chạm với chân Phật, để thể hiện sự quy kính tuyệt đối về thân và tâm; còn gọi là đảnh lễ (頂禮), tiếp túc tác lễ (接足作禮, lễ lạy chạm chân), đầu diện lễ túc (頭面禮足, đầu mặt lạy dưới chân), khể thủ lễ túc (稽首禮足, cúi đầu lạy dưới chân), đảnh lễ song túc (頂禮雙足, đầu lạy hai chân), khể thủ tiếp túc (稽首接足, cúi lạy chạm chân). Đây là hình thức thể hiện sự tôn kính tối thượng của Ấn Độ. Trong thân thể con người, đầu được xem là tối cao, tối thượng, nơi tôn kính và chân là chỗ thấp kém nhất, chạm đất; nên thành ngữ Việt Nam có câu: “đầu đội trời, chân đạp đất”. Thế nhưng, một khi lấy đầu hạ thấp xuống mà đảnh lễ sát chân của đấng tôn kính, hoặc lạy xuống đất; có nghĩa là tỏ bày sự cung kính tột bực. Cho nên, trong các kinh điển còn ghi lại cho biết rằng khi bất cứ người nào đến thăm viếng, thọ pháp với đức Thế Tôn, trước hết đều đảnh lễ dưới chân Ngài, rồi đi nhiễu quanh Ngài và ngồi qua một bên. Như trong Phật Thuyết A Nan Đồng Học Kinh (佛說阿難同學經, Taishō Vol. 2, No. 149) có đoạn: “Thị thời A Nan, chí Thế Tôn sở, đáo dĩ đầu diện lễ túc, tại nhất diện lập (是時阿難、至世尊所、到已頭面禮足、在一面立, lúc bấy giờ A Nan, đến chỗ của Thế Tôn, khi đến nơi thì đầu mặt cúi lạy dưới chân Ngài, rồi đứng qua một bên).” Hay như trong Trùng Trị Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu (重治毗尼事義集要, Tục Tạng Kinh Vol. 40, No. 719) quyển 15 có câu: “Cấp Cô Trưởng Giả, mỗi hướng Kỳ Viên thọ tân Tỳ Kheo kinh, đản tất tiên lễ túc nhi hậu thuyết pháp (給孤長者、每向祇園授新比丘經、但必先禮足而後說法, Trưởng Giả Cấp Cô Độc, mỗi khi đến Kỳ Viên giảng kinh cho các Tỳ Kheo mới, đều trước hết lạy dưới chân [họ] rồi sau đó mới thuyết pháp).” Trong Phước Cái Chánh Hành Sở Tập Kinh (福蓋正行所集經, Taishō Vol. 32, No. 1671) quyển 3 cũng có đoạn rằng: “Vãng nghệ Phật sở, đầu diện lễ túc, tâm hoài ưu não, thế lệ bi khấp, sám tạ tiên cữu (往詣佛所、頭面禮足、心懷憂惱、涕淚悲泣、懺謝先咎, đến thăm chỗ Phật, đầu mặt lạy duới chân, tâm lo sầu não, nước mắt ràn rụa, sám hối tội trước).” Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) có dẫn bài kệ quán tưởng lễ Phật của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利): “Năng lễ sở lễ tánh không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư nghì, ngã thử đạo tràng như đế châu, thập phương chư Phật ảnh hiện trung, ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền, đầu diện tiếp túc quy mạng lễ (能禮所禮性空寂、感應道交難思議、我此道塲如帝珠、十方諸佛影現中、我身影現諸佛前、頭面接足歸命禮, người lạy đấng được lạy tánh vắng lặng, cảm ứng đạo giao tiếp khó nghĩ bàn, đạo tràng con đây như châu ngọc vua, mười phương chư Phật hình ảnh hiện ra, đầu mặt chạm chân quy mạng kính lạy).”
  24. Thâm khí (深器): biết rõ là bậc pháp khí, hiểu rõ là người xuất chúng. Như trong Tục Đăng Tồn Cảo (續燈存稿, Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1585) quyển 11 có đoạn rằng: “Tây Kinh Bảo Ứng Nguyệt Nham Vĩnh Đạt Thiền Sư, Phần Châu Lưu thị tử, thọ nghiệp ư lí chi Thiên Ninh, mỗi dĩ sanh tử vi khích lệ; vãng kiến Linh Nham, Nham thâm khí chi (西京寶應月岩永達禪師、汾州劉氏子、受業於里之天寧、每以生死爲激勵、往見靈巖、巖深器之, Thiền Sư Nguyệt Nham Vĩnh Đạt ở Bảo Ứng, Tây Kinh, là con nhà họ Lưu ở Phần Châu, thọ giáo với Thiên Ninh ở quê nhà, thường lấy việc sống chết để khích lệ mình; Thiền Sư đến gặp Linh Nham, Nham biết đây là người xuất chúng).” Hay như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 5 có đoạn viết về Thiền Sư Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思, ?-740): “Tổ thâm khí chi, hội hạ học đồ tuy chúng, sư cư thủ yên (祖深器之、會下學徒雖眾、師居首焉, Tổ biết là bậc pháp khí, trong chúng đệ tử tuy đông, nhưng Thiền Sư vẫn là người đứng đầu).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, Tục Tạng Kinh Vol. 81, No. 1571) quyển 20 cũng có đoạn ghi lại hành trạng của Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽, 904-975) như sau: “Tầm vãng Thiên Thai Sơn Thiên Trụ Phong, cửu tuần tập định, hữu ô loại xích yến, sào ư y triệp trung, kị yết Thiều Quốc Sư, nhất kiến nhi thâm khí chi, mật thọ nguyên chỉ (尋往天台山天柱峰、九旬習定、有烏類斥鷃、巢於衣襵中、暨謁韶國師、一見而深器之、密授元旨, Thiền Sư tìm đến trú tại đỉnh núi Thiên Trụ, Thiên Thai Sơn, tu Thiền định trong chín tuần; có loài chim sẻ đen như quạ, làm tổ trong chéo áo Thiền Sư; sau Thiền Sư đến tham yết Thiều Quốc Sư, chỉ mới gặp mà Quốc Sư đã biết là bậc xuất chúng, bèn bí mật truyền trao cho huyền chỉ).”
  25. Pháp Phục (法服): (1) Nghĩa là phục sức quy định trong lễ pháp thời cổ đại. Như trong Hiếu Kinh (孝經), Chương Khanh Đại Phu (卿大夫章) có câu: “Phi tiên vương chi Pháp Phục bất cảm phục (非先王之法服不敢服, chẳng phải là Pháp Phục của tiên vương thì chẳng dám mặc).” Hay trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 35 có đoạn rằng: “Nhân hữu đạo tục chi dị, tại gia tắc y hồ ngoại giáo, phục tiên vương chi Pháp Phục, thuận tiên vương chi pháp ngôn (人有道俗之異、在家則依乎外敎、服先王之法服、順先王之法言, người có đạo tục khác nhau, hàng tại gia tất phải nương vào giáo thuyết khác, mặc Pháp Phục của tiên vương, vâng theo lời dạy của tiên vương).” (2) Trong Phật Giáo, còn gọi là Pháp Y (法衣), Tăng Phục (僧服), Tăng Y (僧衣); tức là y phục của Tăng Ni thường dùng; chỉ cho y phục do đức Phật chế ra, như Như Pháp Y (如法衣), Ứng Pháp Y (應法衣). Y phục do đức Phật chế có Tam Y, Ngũ Y, v.v. Trường hợp Trung Quốc, Nhật Bản có khí hậu khác với Ấn Độ, nên phạm vi của Pháp Y rộng hơn, hình thức đa dạng hơn. Phàm những y phục nào của Tăng Ni dùng mà không vi phạm giới luật, đều được gọi là Pháp Y. Tại Ấn Độ, quy định vị Tỳ Kheo có 3 y là Tăng Già Lê (s, p: saī, 僧伽梨), Uất Đa La Tăng (s, p: uttarāsaga, 鬱多羅僧) và An Đà Hội (s: antarvāsa, p: antaravāsaka, 安陀會). Riêng Tỳ Kheo Ni, trừ 3 y nêu trên, còn có thêm 2 y khác là Tăng Kỳ Chi (s: saṃkakṣikā, 僧衹支) và Quyết Tu La (s: kusūla, 厥修羅). Ba Y là tiếng gọi chung của âm dịch tiếng Sanskrit Chi Phạt La (s: cīvara, 支伐羅). Hơn nữa, do vì có nhuộm sắc màu nên gọi là Ca Sa (s: kaāya; p: kāsāya, 袈裟, ý dịch là hoại sắc); hoặc gọi là Phước Điền Y (福田衣), Hàng Tà Y (降邪衣), Tràng Tướng Y (幢相衣), Gian Sắc Y (間色衣), Tạp Trần Phục (雜塵服), Vô Cấu Y (無垢衣), Vô Tướng Y (無相衣), Thắng Tràng Y (勝幢衣), Vô Thượng Y (無上衣), Giải Thoát Phục (解脫服), Đạo Phục (道服), Xuất Thế Phục (出世服), A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Y (阿耨多羅三藐三菩提衣), Từ Bi Phục (慈悲服), Nhẫn Nhục Khải (忍辱鎧), Nhẫn Khải Y (忍鎧衣), Công Đức Y (功德衣), Tiêu Sấu Y (消瘦衣), Liên Hoa Y (蓮華衣), Liên Hoa Phục (蓮華服), Điền Tướng Y (田相衣), v.v. Trong Ba Y, Tăng Già Lê còn gọi là Đại Y (大衣), Trọng Y (重衣), Tạp Toái Y (雜碎衣), Cao Thắng Y (高勝衣), Nhập Vương Cung Tụ Lạc Y (入王宮聚落衣), v.v. Uất Đa La Tăng có tên gọi khác là Thất Điều Ca Sa (七條袈裟), Thất Điều Y (七條衣), Thất Điều (七條), Thượng Y (上衣), Nhập Chúng Y (入衆衣), v.v.; được dùng khi lễ tụng, thính giảng, Bố Tát (s: upavasatha, p: uposatha, 布薩). An Đà Hội còn gọi là Ngũ Điều Y (五條衣), Nội Y (內衣), Trung Túc Y (中宿衣); là y mặc dùng vào lúc sinh hoạt hằng ngày, hay khi đi ngủ. Như trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 7 có câu: “Phật tức cáo ngôn: ‘Thiện lai Tỳ Kheo !’ Tu phát tự lạc, Pháp Phục trước thân, tiện thành Sa Môn, tinh cần tu tập, đắc A La Hán quả, Tam Minh Lục Thông, cụ Bát Giải Thoát, chư thiên thế nhân, sở kiến kính ngưỡng (佛卽告言、善來比丘、鬚髮自落、法服著身、便成沙門、精懃修習、得阿羅漢果、三明六通、具八解脫、諸天世人、所見敬仰, Phật bèn nói rằng: ‘Tỳ Kheo hãy khéo đến đây !’ Râu tóc tự rơi rụng, Pháp Phục mang vào thân, bèn thành Sa Môn, siêng năng tu tập, chứng quả A La Hán, Ba Minh Sáu Thông, đủ Tám Giải Thoát, Trời người trên đời, trông thấy kính ngưỡng).” Hay như trong Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 17 lại có câu: “Bỉ ư hậu thời, thế trừ tu pháp, phục tam Pháp Y, xuất gia tu đạo, hành bình đẳng pháp (彼於後時、剃除鬚髮、服三法衣、出家修道、行平等法, vị ấy sau đó, cạo bỏ râu tóc, mặc ba Pháp Y, xuất gia tu đạo, hành pháp bình đẳng).” Trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 26 cũng có câu: “Triều đình tam khiển trọng thần giáng hương, tích hiệu Phật Huệ Viên Giám Phổ Tế Thiền Sư, tinh tứ Kim Lan Pháp Y (朝廷三遣重臣降香、錫號佛慧圓鑒普濟禪師、幷賜金襴法衣, triều đình ba lần cử sứ thần đến dâng hương, ban cho hiệu là Phật Huệ Viên Giám Phổ Tế Thiền Sư, và ban thưởng cho Pháp Y Kim Lan).” Trong Sa Di Ni Luật Nghi Yếu Lược (沙彌尼律儀要略, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1122), phần Sự Sư Đệ Tam (事師第三, Hầu Thầy Thứ Ba) lại có đoạn: “Tảo khởi thời, đương tiên thanh tịnh trước Pháp Y, lễ Phật pháp, khước lễ sư (早起時、當先清淨著法衣、禮佛法、卻禮師, khi dậy sớm, trước phải thanh tịnh mang Pháp Y vào, lạy Phật pháp, rồi lạy thầy).”
  26. Tam Thai Tự (三台寺): Chùa tọa lạc ở xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, trong khu vực Ngũ Hành Sơn, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, cách trung tâm Thành Phố Đà Nẵng 13km; được xây dựng vào năm 1630 (?). Đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất còn lại của thành phố Đà Nẵng. Vào cuối thế kỷ 17, Thiền Sư Hưng Liên từ Trung Quốc sang Đại Việt, là người đầu tiên đưa phái Thiền Tào Động vào Đàng Trong, đã trụ trì và lập đạo tràng tại Chùa Tam Thai. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825, Ất Dậu), nhà vua đã cho xây dựng lại chùa. Theo Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事), vào năm Ất Hợi (1695) Ngài Thích Đại Sán (釋大汕, 1633-1702, tức Hòa Thượng Thạch Liêm [石濂]) có đến thăm chùa này. Dưới triều Nguyễn (1802-1945), Chùa Tam Thai được sắc chỉ là Quốc Tự. Trải qua thời gian, diện mạo cảnh quan và kiến trúc xưa của chùa đã có nhiều thay đổi. Từ năm 1907 đến 1995, chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu. Công trình kiến trúc hiện nay của chùa bao gồm nhiều hạng mục như: Tam Quan, sân chùa, Hành cung, chùa chính, v.v. Hiện trong chùa còn lưu giữ tấm biển Tam Thai Tự và tấm kim bài bằng đồng hình trái tim lửa khắc theo ngự bút của vua Minh Mạng ghi là “Ngự chế Tam Thai Tự, Minh Mạng lục niên phụng tạo (御製三台寺、明命六年奉造, Ngự chế Chùa Tam Thai, năm Minh Mạng thứ 6 [1825] vâng tạo)”. Tấm kim bài bằng đồng với ý nghĩa ngợi ca Phật pháp vô lượng từ bi phổ độ chúng sinh. Vòng ra sau lưng chùa, theo con đường đất du khách sẽ gặp một cổng vôi cổ kính phía trên có khắc 3 chữ Hán “Huyền Không Quan (懸空關)”. Đây chính là cửa vào Động Hoa Nghiêm và Động Huyền Không. Động Huyền Không là một hang lộ thiên nằm gọn trong lòng núi. Mái động hình vòm, nền động bằng phẳng, trần động có 5 lỗ lớn nhỏ có thể trông thấy bầu trời bên ngoài. Trong động không có măng đá và nhũ đá, tuy nhiên vách động có bọt đá tạo nên những hình thù kỳ thú. Đến Chùa Tam Thai, ngoài việc tham quan, vãn cảnh chùa, du khách còn có thể vào tham quan Tháp Phổ Giang, Chùa Từ Tâm, Vọng Giang Đài, v.v. Vọng Giang Đài là điểm cao nhất ở ngọn núi Thủy Sơn. Đứng ở Vọng Giang Đài, du khách có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát cả một vùng đồng ruộng bao la bát ngát của xứ Quảng Đà, với những con Sông Cổ Cò, Sông Hàn, Sông Cẩm Lệ quanh co tựa như một bức tranh thủy mặc sống động. Thật đúng như cảm nhận của Đại sư Thích Đại Sán, vị khách của Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), khi đến viếng thăm Ngũ Hành Sơn và đã có một bài trường ca với tựa đề “Chơi Núi Tam Thai”, trong đó có hai câu: “Đỉnh non buông mắt xa trông, nước trời man mác hồng mông một vùng.” (Theo nguồn vietnamtourism.com. Võ Văn Tường: 500 Danh Lam Việt Nam. Nhà Xuất Bản Thông Tấn, 2008, tr. 182. Thích Như Tịnh: Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh. Nhà Xuất Bản Phương Đông, 2009, tr. 150~153)
  27. Thỉnh ích (請益): (1) Thỉnh cầu thầy giảng lại một đoạn văn hay một chương nào đó. Như trong Lễ Ký (禮記), phần Khúc Lễ (曲禮) có câu: “Thỉnh nghiệp tắc khởi, thỉnh ích tắc khởi (請業則起、請益則起, thỉnh cầu dạy thì phải đứng dậy, thỉnh cầu giảng lại cũng phải đứng dậy).” Hay trong Đường Quốc Sử Bổ (唐國史補) quyển Hạ của Lý Triệu (李肇, ?-?) nhà Đường có đoạn: “Hàn Dũ dẫn trí hậu tấn, vi cầu khoa đệ, đa hữu đầu thư thỉnh ích giả, thời nhân vị chi Hàn môn đệ tử (韓愈引致後進、爲求科第、多有投書請益者、時人謂之韓門弟子, Hàn Dũ hết mình hướng dẫn lớp đi sau, để cầu thi đỗ, có nhiều người đem sách đến xin giảng cho một đoạn, người đương thời gọi họ là môn đệ của Hàn Dũ).” (2) Thỉnh cầu thêm nữa. (3) Trong Thiền lâm, phần lớn học trò sau khi thọ giáo xong, vẫn có chỗ chưa rõ ràng, thấu triệt, nên lại đến cầu xin thầy chỉ giáo cho lần nữa; đó gọi làthỉnh ích. Về nguyên tắc thỉnh ích, trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 6, phần Thỉnh Ích có giải thích rõ rằng: “Phàm dục thỉnh ích giả, tiên bẩm Thị Giả, thông phú Trú Trì: ‘Mỗ giáp Thượng Tọa kim vãn dục nghệ Phương Trượng thỉnh ích.’ Như duẫn sở thỉnh, định chung hậu nghệ Thị Ty, hầu Phương Trượng bỉnh chúc trang hương, Thị Giả dẫn nhập Trú Trì tiền vấn tấn sáp hương, đại triển cửu bái, thâu Tọa Cụ tấn vân: ‘Mỗ vi sanh tử sự đại, vô thường tấn tốc, phục vọng Hòa Thượng từ bi phương tiện khai thị.’ Túc cung trắc lập đế thính thùy hối tất, tấn tiền sáp hương, đại triển cửu bái, vị chi tạ nhân duyên, miễn tắc xúc lễ, thứ nghệ thị ty trí tạ (凡欲請益者、先稟侍者、通覆住持、某甲上座今晚欲詣方丈請益、如允所請、定鍾後詣侍司、候方丈秉燭裝香、侍者引入住持前問訊插香、大展九拜、收坐具進云、某爲生死事大、無常迅速、伏望和尚慈悲方便開示、肅恭側立諦聽垂誨畢、進前插香、大展九拜、謂之謝因緣、免則觸禮、次詣侍司致謝, phàm có người xin chỉ giáo, trước thưa với Thị Giả để thông qua trước với vị Trú Trì rằng: ‘Có Thượng Tọa … chiều nay muốn đến gặp Phương Trượng để xin thỉnh giáo.’ Như được chấp thuận lời thỉnh cầu, sau khi cử chuông xong thì đến gặp người hầu cận, hầu Phương Trượng cầm đuốc dâng hương; Thị Giả dẫn vào trước mặt vị Trú Trì thưa hỏi, cắm hương lên, rồi lạy xuống chín lạy, gấp Tọa Cụ lại và thưa rằng: ‘Con vì sanh tử chuyện lớn, vô thường chóng qua, cúi mong Hòa Thượng từ bi phương tiện khai thị.’ Xong cung kính đứng qua một bên lắng nghe lời dạy xong, tiến về phía trước cắm hương, lạy xuống chín lạy, đó gọi là lạy nhân duyên; nếu được miễn thì chỉ vái thôi, tiếp theo đến gặp người hầu cận tạ lễ).” Cho nên, quy tắc thỉnh ích rất nghiêm cẩn. Trong các Ngữ Lục của Thiền Tông thường thấy xuất hiện rất nhiều ký lục liên quan đến việc thỉnh ích. Như trong Tục Chỉ Nguyệt Lục (續指月錄, Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1579) quyển 4 có đoạn: “Lâm An Kính Sơn Vô Chuẩn Sư Phạm Thiền Sư, sanh ư Thục chi Tử Đồng Ung thị, cửu tuế xuất gia, trường du Thành Đô tọa hạ, thỉnh ích Tọa Thiền chi pháp ư lão túc Nghiêu Thủ Tòa (臨安徑山無準師範禪師、生於蜀之梓潼雍氏、九歲出家、長遊成都坐夏、請益坐禪之法於老宿堯首座, Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm ở Kính Sơn, Lâm An, sanh ra trong nhà họ Ung ở Tử Đồng nước Thục, năm 9 tuổi xuất gia, giao du thân mật với chư vị tăng An Cư Kiết Hạ ở Thành Đô, thỉnh giáo pháp môn Tọa Thiền với bậc lão túc Nghiêu Thủ Tòa).” Hay trong Vân Cốc Hòa Thượng Ngữ Lục (雲谷和尚語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1454) quyển Hạ có câu: “Tài đáo nhất sở tại, tu thị tiên thỉnh ích nhân duyên, phương hứa nhập thất (纔到一所在、須是先請益因緣、方許入室, mới đến một nơi nào, trước nên xin chỉ giáo nhân duyên, mới cho nhập thất).”
  28. Tự Đức Quý Hợi (嗣德癸亥): tức là năm 1863, thuộc niên hiệu Tự Đức thứ 16. Theo như văn bản trên thì năm nầy Hòa Thượng Vĩnh Gia xuống tóc xuất gia, rồi năm sau (1864) thì được cho thọ Cụ Túc giới tại Đại Giới Đàn Chùa Phước Lâm do Bổn Sư là Ngài Quán Thông kiến lập. Như vậy, nếu so với thông tin viết về Hòa Thượng Vĩnh Gia trong Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam Thế Kỷ XX, Tập I do Thích Đồng Bổn chủ biên (Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh ấn hành, 1995, tr. 56) có phần không ăn khớp với nhau: “Năm 1865, được 25 tuổi Ngài đến cầu đạo với Ngài Huệ Quang tại Chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn) Quảng Nam. Tại đây, Ngài thọ tam đàn Cụ Túc giới.” Và theo tác phẩm Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh (Nhà Xuất Bản Phương Đông, 2009) của tác giả Thích Như Tịnh: “Năm Quý Hợi (1863), Tổ Quán Thông khai Giới Đàn tại Chùa Phước Lâm, Ngài được đăng đàn thọ giới Cụ Túc, đắc pháp hiệu là Vĩnh Gia” (tr. 162), lại có điểm sai khác nữa.
  29. Trĩ nhiễm (薙染): trĩ () nghĩa là cắt tóc trên đầu, nhiễm () là nhuộm áo thành y hoại sắc; tức chỉ việc xuất gia làm tăng sĩ. Như trong bài Thảo Hà Lục (草河錄) thuộc Dương Châu Họa Phang Lục (揚州畫舫錄) của Lý Đẩu (李斗, ?-?) nhà Thanh có câu: “Tăng Đạo Tồn, tự Thạch Trang, Thượng Nguyên nhân, trĩ nhiễm Giang Ninh Thừa Ân Tự (僧道存、字石莊、上元人、薙染江寧承恩寺, vị tăng Đạo Tồn, tự là Thạch Trang, người vùng Thượng Nguyên, xuất gia ở Thừa Ân Tự, Giang Ninh).” Hay như trong Kính Thạch Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 4, phần Hàng Châu Kính Sơn Vô Huyễn Tánh Xung Thiền Sư (杭州徑山無幻性沖禪師, Thiền Sư Vô Huyễn Tánh Xung ở Kính Sơn, Hàng Châu), có đoạn: “Văn Vô Thú nãi bản sắc đạo nhân, hân nhiên vãng tham, Thú hối dĩ giáo ngoại biệt truyền chi chỉ, hữu sở khế nhập, toại trĩ nhiễm kết am Kính Sơn (聞無趣乃本色道人、欣然往參、趣誨以敎外別傳之旨、有所契入、遂薙染結菴徑山, Thiền Sư nghe Vô Thú là bậc đạo nhân có bản sắc, nên vui mừng đến tham bái, Vô Thú dạy cho yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền, Thiền Sư có chỗ khế ngộ, bèn xuất gia và dựng am tu hành ở Kính Sơn).” Lại trong Phật Tổ Cương Mục (佛祖綱目, Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1594) quyển 41 cũng có đoạn rằng: “Phạn Kỳ tự Sở Thạch, thất tuế năng thư đại tự, thi thư quá mục bất vong, viễn cận xưng vi kỳ đồng, cửu tuế khí tục trĩ nhiễm, thập lục thọ cụ (梵琦字楚石、七歲能書大字、詩書過目不忘、遠近稱爲奇童、九歲棄俗薙染、十六受具, Phạn Kỳ tự là Sở Thạch, năm bảy tuổi có thể viết chữ đại tự, thơ sách chỉ đọc qua là nhớ rõ, xa gần gọi Thiền Sư là kỳ đồng, năm chín tuổi từ bỏ thế tục xuất gia, đến năm lên mười sáu tuổi thì thọ Cụ Túc giới).”
  30. Bản văn bia của Hòa Thượng Vĩnh Gia hiện tồn tại Tổ Đình Phước Lâm, Hội An lại ghi là: “Thứ niên Huệ Quang sư tại Phước Lâm Tự khai Đại Giới Đàn (次年慧光師在福林寺開大戒壇, năm sau [1864], Ngài Huệ Quang mở Đại Giới Đàn tại Chùa Phước Lâm).” Như vậy, thông tin nầy không chính xác vì mãi đến năm 1869 (Kỷ Tỵ, Tự Đức thứ 22), Thiền Sư Huệ Quang mới khai đàn truyền giới tại Chùa Phước Lâm. (Thích Như Tịnh: Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh. Nhà Xuất Bản Phương Đông, 2009, tr. 161)
  31. Giới Đàn (戒壇): là đàn tràng dùng để cử hành nghi thức truyền thọ giới pháp cũng như thuyết giới. Nguyên lai, Giới Đàn không cần phải xây dựng nhà cửa gì cả, tùy theo chỗ đất trống kết giới mà thành. Xưa kia, thời cổ đại Ấn Độ tác pháp ngoài trời, không cần phải làm đàn. Về việc Giới Đàn được kiến lập đầu tiên, Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Thượng, có ghi lại rằng Bồ Tát Lâu Chí (樓至) thỉnh ý đức Phật xin thiết lập Giới Đàn cho chư vị Tỳ Kheo thọ giới và được Ngài hoan hỷ chấp thuận: “Tây Thiên Kỳ Viên, Tỳ Kheo Lâu Chí thỉnh Phật lập đàn, vi Tỳ Kheo thọ giới Như Lai ư viên ngoại viện Đông Nam, trí nhất đàn, thử vi thỉ dã (西天祇園、比丘樓至請佛立壇、爲比丘受戒、如來於園外院東南、置一壇、此爲始也, Kỳ Viên ở Tây Thiên [Ấn Độ], Tỳ Kheo Lâu Chí xin Phật thiết lập Giới Đàn để truyền thọ giới cho Tỳ Kheo; đức Như Lai thiết lập một đàn ở phía Đông Nam ngoài Kỳ Viên; đây là khởi đầu).” Tại Trung Quốc, tương truyền Giới Đàn đầu tiên do Đàm Kha Ca La (s: Dharmakāla, 曇柯迦羅) kiến lập trong khoảng thời gian niên hiệu Gia Bình (嘉平, 249-254), Chánh Nguyên (正元, 254-256) nhà Tào Ngụy. Từ thời nhà Tấn, Tống trở đi, ở phương Nam kiến lập Giới Đàn rất nhiều. Như Pháp Hộ (s: Dharmaraksa, 法護, 231-308?) nhà Đông Tấn lập đàn ở Ngõa Quan Tự (瓦官寺), Dương Đô (揚都, Nam Kinh [南京]). Chi Đạo Lâm (支道林, 314-366) cũng thiết lập ở Thạch Thành (石城, Lê Thành [黎城], Sơn Tây [山西]), Phần Châu (汾州, Tân Xương [新昌], Triết Giang [浙江]) mỗi nơi một đàn. Chi Pháp Tồn (支法存, ?-457) lập đàn ở Nhã Da (若耶, Thiệu Hưng [紹興], Triết Giang). Trí Nghiêm (智嚴) nhà Nam Tống lập đàn ở Thượng Định Lâm Tự (上定林寺, Nam Kinh). Huệ Quán (慧觀) lập đàn ở Thạch Lương Tự (石梁寺, Thiên Thai Sơn [天台山]). Cầu Na Bạt Ma (s: Guavarman, 求那跋摩, 367-431) lập đàn ở Nam Lâm Tự (南林寺). Tăng Phu (僧敷, ?-?) của nhà Nam Tề lập đàn ở Vu Hồ (蕪湖). Pháp Siêu (法超) của nhà Lương thời Nam Triều lập đàn ở Nam Giản (南澗, Nam Kinh). Tăng Hựu (僧祐, 445-518) thiết lập tại Nam Kinh 4 chùa Vân Cư (雲居), Thê Hà (棲霞), Quy Thiện (歸善) và Ái Kính (愛敬), mỗi nơi một đàn. Tổng cọng hơn 300 Giới Đàn. Đến thời nhà Đường, vào năm thứ 2 (667) niên hiệu Càn Phong (乾封), Luật Sư Đạo Tuyên (道宣, 596-667) kiến lập Giới Đàn tại Tịnh Nghiệp Tự (淨業寺) ở ngoại ô Trường An (長安). Bắt đầu từ thời nầy, Giới Đàn đã hình thành quy thức nhất định. Về sau, chư cao tăng khác như Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713), Nhất Hành (一行, 683-727), Kim Cang Trí (金剛智, 671-741), v.v., từng kiến lập Giới Đàn ở vùng phụ cận Lạc Dương (洛陽). Vào năm đầu (765) niên hiệu Vĩnh Thái (永泰), vua Đại Tông (代宗, tại vị 762-779) ban sắc lệnh kiến lập Phương Đẳng Giới Đàn (方等戒壇, tức Đại Thừa Giới Đàn) ở Đại Hưng Thiện Tự (大興善寺); rồi cho đặt 10 vị Lâm Đàn Đại Đức (臨壇大德) trong giáo đoàn Tăng Ni ở Kinh Thành; tức sau nầy là Tam Sư Thất Chứng (三師七證). Về phía Nhật Bản, Giới Đàn đầu tiên do Giám Chơn (鑑眞, Ganjin, 688-763) kiến lập ở phía trước Chánh Điện Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) vào năm 749 (Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寶] thứ 6). Đến tháng 4 năm nầy, Giám Chơn đã truyền giới cho Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749) cùng với 430 người khác. Sau đó, Giới Đàn Viện (戒壇院) được kiến lập ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji); và hai Giới Đàn khác ở Quan Thế Âm Tự (觀世音寺, Kanzeon-ji), vùng Trúc Tử (筑紫, Chikushi) và Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji) thuộc tiểu quốc Hạ Dã (下野, Shimotsuke). Trong (Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành) Thích Giáo Bộ Vị Khảo ([古今圖書集成]釋敎部彙考, Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1521) quyển 2 có câu: “Trường Khánh tứ niên, Kính Tông tức vị, Từ Tứ Vương Trí Hưng, thỉnh trí Tăng Ni Giới Đàn (長慶四年、敬宗卽位、徐泗王智興、請置僧尼戒壇, niên hiệu Trường Khánh thứ 4 [824], vua Kính Tông nhà Đường lên ngôi, Từ Tứ Vương Trí Hưng, xin thiết trí Giới Đàn Tăng Ni).” Hay trong Chung Nam Gia Nghiệp (終南家業, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1109) quyển Trung có đoạn rằng: “Chí Nguyên Hỷ thập niên, hữu Tăng Già Bạt Ma, ư Dương Đô Nam Lâm Giới Đàn, vi Tăng Huệ Chiếu đẳng ngũ thập nhân, Ni Huệ Quả đẳng tam thập tam nhân, trùng thọ cụ giới (至元喜十年、有僧伽拔摩、於揚都南林戒壇、爲僧慧照等五十人、尼慧果等三十三人、重受具戒, cho đến niên hiệu Nguyên Hỷ thứ 10, tại Giới Đàn Chùa Nam Lâm ở Dương Đô, có Tăng Già Bạt Ma vì nhóm Tăng Huệ Chiếu 50 người, nhóm Ni Huệ Quả 33 người, thọ giới Cụ Túc lại).”
  32. Viên cụ (圓具): là tên gọi khác của Cụ Túc Giới, vì người thọ trì Cụ Túc Giới thì gần với quả vị viên mãn của Niết Bàn (s: nirvāa, p: nibbāna, 涅槃). Như trong Tỳ Ni Quan Yếu (毗尼關要, Tục Tạng Kinh Vol. 40, No. 720) quyển 2 có giải thích rằng: “Xuất gia thọ Tỳ Kheo giới, cố vân cận viên, hựu vân cụ viên, diệc danh viên cụ; dĩ thử cụ giới, nãi cụ túc Niết Bàn chánh nhân, cố danh cụ viên viên cụ dã (出家受比丘戒、故云近圓、又云具圓、亦名圓具、以此具戒、乃具涅槃正因、故名具圓圓具也, xuất gia thọ giới Tỳ Kheo, được gọi là cận viên [gần viên mãn], lại có tên là cụ viên [đầy đủ viên mãn], cũng gọi là viên cụ [viên mãn đầy đủ]; nhờ giới Cụ Túc nầy, mà đầy đủ nhân chính của Niết Bàn, nên gọi là cụ viên, viên cụ).” Từ viên cụ nầy xuất hiện khá nhiều trong các Ngữ Lục Thiền Tông. Như trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 6 có câu: “Phổ An Tùng Khuy Thiện Quyền Vị Thiền Sư, Sở Bắc Cù thị tử, nhân thế loạn nhập Kiềm, ngụ An Thuận chi Thái Hư Động trĩ nhiễm, y Hàm Quang viên cụ, tham Nguyệt Tràng Hòa Thượng ấn chứng, trú An Nam chi Vạn Thọ (普安松巋善權位禪師、楚北瞿氏子、因世亂入黔、寓安順之太虛硐薙染、依含光圓具、參月幢和尚印證、住安南之萬壽, Thiền Sư Tùng Khuy Thiện Quyền Vị ở Phổ An, con của nhà họ Cù ở phương Bắc nước Sở, nhân thời loạn lạc mà đến Quý Châu, nhờ Thái Hư Động ở An Thuận được xuất gia, nương theo Hàm Quang thọ Cụ Túc giới, rồi tham vấn Hòa Thượng Nguyệt Tràng được ấn chứng, trú tại Vạn Thọ thuộc An Nam).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 22 có đoạn rằng: “Đàm Châu Đại Quy Sơn Tổ Triện Thiền Sư, tánh Ngô thị, Phúc Châu Hầu Quan nhân dã, xuất gia viên cụ, tham Đại Quy Tú Thiền Sư, khế ngộ Tổ ý, đạo hạnh cao khiết, lệ thực thô y(潭州大溈山祖瑑禪師、姓吳氏、福州候官人也、出家圓具、參大溈秀禪師、契悟祖意、道行高潔、糲食麤衣, Thiền Sư Tổ Triện ở Đại Quy Sơn, Đàm Châu, họ là Ngô, người vùng Hầu Quan, Phúc Châu; xuất gia và thọ giới Cụ Túc, rồi tham học với Thiền Sư Đại Quy Tú, lãnh ngộ ý của Tổ, đạo hạnh thanh cao, ăn gạo lức và mặc áo thô sơ).”
  33. Tâm Địa (心地): (1) Chỉ cho Giới (s: śīla, p: sīla, ). Giới lấy tâm làm gốc, giống như thế gian lấy đại địa làm cơ sở; nên mới gọi Giới là Tâm Địa (đất tâm). Vì vậy có Pháp Môn Tâm Địa, tức là pháp môn chuyên hành trì Giới Luật tinh nghiêm. (2) Chỉ cho tâm thuộc 50 giai vị của Bồ Tát, gồm Thập Tín (十信), Thập Trụ (十住), Thập Hạnh (十行), Thập Hồi Hướng (十回向), Thập Địa (十地). Vị Bồ Tát căn cứ vào tâm mà tu hành, nên thí dụ tâm như đất, mới có tên là Tâm Địa. (3) Trong Thiền Tông, Bồ Đề do Tổ Sư Đạt Ma (達摩) truyền cũng được gọi là Tâm Địa. Trong Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh Nghĩa Sớ Phát Ẩn (梵網菩薩戒經義疏發隱, Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 679) có đoạn: “Thử Tâm Địa giới, phi thiện phi ác, nhi thật dĩ hành thiện chỉ ác vi dụng, y trì thử giới, nhiên hậu hành thiện hữu phương, chỉ ác hữu đạo (此心地戒、非善非惡、而實以行善止惡爲用、依持此戒、然後行善有方、止惡有道, giới Tâm Địa nầy, chẳng thiện chẳng ác, mà thật ra lấy công dụng của việc làm điều thiện dừng việc ác, nương vào việc giữ giới nầy, sau đó làm điều thiện mới có hướng, dừng việc ác mới có đường).” Hay trong Nguyên Tẩu Hành Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (元叟行端禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1419) có câu: “Tham Thiền chỉ yếu liễu Tâm Địa, Tâm Địa liễu thời chư pháp không (參禪只要了心地、心地了時諸法空, Tham Thiền chỉ cần rõ Tâm Địa, Tâm Địa rõ rồi các pháp không).” Hoặc trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) quyển 1 có đoạn rằng: “Nguyên giả thị nhất thiết chúng sanh bản giác chơn tánh, diệc danh Phật tánh, diệc danh Tâm Địa; ngộ chi danh Tuệ, tu chi danh Định, Định Tuệ thông danh vi Thiền, thử tánh thị Thiền chi bản nguyên; cố vân Thiền nguyên, diệc danh Thiền Na (源者是一切眾生本覺眞性、亦名佛性、亦名心地、悟之名慧、修之名定、定慧通名爲禪、此性是禪之本源、故云禪源、亦名禪那, đầu nguồn là chơn tánh bản giác của chúng sanh, cũng gọi là Phật pháp, cũng gọi là Tâm Địa; ngộ thì gọi là Tuệ, tu tập thì gọi là Định, tên chung của Định Tuệ là Thiền, tánh nầy là nguồn gốc của Thiền; nên gọi là nguồn Thiền, cũng gọi là Thiền Na).”
  34. Từ pháp (嗣法): thuật ngữ của Thiền Tông, nghĩa là kế thừa pháp thống, dòng pháp; còn gọi là truyền pháp (), từ tục (嗣續). Xưa kia, khi truyền pháp cho Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉), lời phó chúc của Đức Phật vẫn còn ghi lại trong khá nhiều tác phẩm của Thiền Tông như Truy Môn Thế Phổ (緇門世譜, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1603), Gia Thái Phổ Đăng Lục (嘉泰普燈錄, Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1559) quyển 1, Truyền Pháp Chánh Tông Luận (傳法正宗論, Taishō Vol. 51, No. 2080) quyển Hạ, Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 1, Ngũ Đăng Nghiêm Thống (五燈嚴統, Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1568) quyển 1, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 1, v.v., rằng: “Ngô dĩ thanh tịnh Pháp Nhãn, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu Chánh Pháp, tương phó ư nhữ, nhữ đương hộ trì (吾以清淨法眼涅槃妙心、實相無相微妙正法將付於汝汝當護持, ta lấy Pháp Nhãn thanh tịnh, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng không tướng, Chánh Pháp vi diệu, giao phó cho ngươi, ngươi hãy giữ gìn).” Dòng pháp thống nầy kéo dài mãi cho đến ngày nay, nối tiếp từ đời nầy sang đời khác, nên gọi là từ pháp. Nếu nói về nghĩa hẹp thì có nghĩa là đệ tử kế thừa giáo pháp của Thầy, nên có tên gọi là pháp từ (法嗣). Thông thường, khi truyền thừa giữa Thầy với trò, vị Thầy sẽ truyền trao cho trò sách kế thừa để làm vật chứng minh, nhưng người được truyền thừa chỉ giới hạn trong hàng ngũ Tăng sĩ xuất gia mà thôi. Trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) quyển 14 có đoạn: “Hoắc Sơn Hám Dư Xiêm Thiền Sư, Tây Sung Vương thị tử, tham biến tôn túc, mạt hậu nhập Tự Nhàn Hòa Thượng thất, thỉ từ pháp yên, xuất trú Tấn chi Hoắc Sơn (霍山憨余暹禪師、西充王氏子、參遍尊宿、末後入自閒和尚室、始嗣法焉、出住晉之霍山, Thiền Sư Hám Dư Xiêm ở Hoắc Sơn, là con nhà họ Vương ở Tây Sung, đi tham học khắp chư vị tôn túc, đến cuối cùng thì vào thất của Hòa Thượng Tự Nhàn, khi ấy mới được kế thừa dòng pháp, rồi trở ra trú tại Hoắc Sơn nhà Tấn).” Hay trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 87 có câu: “Cẩm Quan Thảo Đường Hống Nhất Đẳng Thiền Sư, Vinh Xương Vương thị tử, từ pháp vu Đạm Trúc Mật, trú Cẩm Quan Thảo Đường Tự (錦官草堂吼一等禪師榮昌王氏子嗣法于澹竹密住錦官草堂寺, Thiền Sư Thảo Đường Hống Nhất Đẳng ở Cẩm Quan, là con của dòng họ Vương ở Vinh Xương, truyền pháp cho Đạm Trúc Mật, trú tại Thảo Đường Tự, Cẩm Quan).” Trong Phật Tổ Chánh Truyền Cổ Kim Tiệp Lục (佛祖正傳古今捷錄, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1595) có đoạn ghi về Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn như sau: “Hàm Hưởng trung, truyền pháp Lô Năng, thị tịch ư Cao Tông Thượng Nguyên nhị niên Ất Hợi, thọ thất thập hữu tứ, thụy viết Đại Mãn, từ pháp nhất thập tam nhân (咸亨中、傳法盧能、示寂於高宗上元二年乙亥、壽七十有四、諡曰大滿、嗣法一十三人, trong khoảng niên hiệu Hàm Hưởng [670-674], Tổ truyền pháp cho Huệ Năng, thị tịch vào năm Ất Hợi, niên hiệu Thượng Nguyên thứ 2 [675] đời vua Cao Tông, hưởng thọ 74 tuổi, thụy hiệu là Đại Mãn, kế thừa dòng pháp 13 người).”
  35. Linh Ứng Tự (靈應寺): chùa tọa lạc ở phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, cách trung tâm thành phố khoảng 8 km về phía Đông Nam. Chùa thuộc hệ phái Bắc Tông. Ngũ Hành Sơn là một thắng cảnh bậc nhất ở miền Trung xưa nay. Ở phía Đông, có 123 bậc cấp lát bằng đá dẫn đến Chùa Linh Ứng, thường được gọi là Chùa Ngoài. Trước năm 1891 (Tân Mão, Thành Thái [成泰] thứ 3), chùa có tên là Ứng Chân (應眞). Sách Danh thắng Non Nước–Ngũ Hành Sơn (Nguyễn Trọng Hoàng, Đà Nẵng, 2000) cho biết vào đời Vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) có Hòa Thượng Quang Chánh, hiệu Bảo Đài đến tu tại động Tàng Chân. Ngài dựng Am Dưỡng Chân, sau sửa chữa lại thành Dưỡng Chân Đường. Đến đời Gia Long, Dưỡng Chân Đường được đổi thành Chùa Ứng Chân. Sau khi Vua Minh Mạng đến vãng cảnh chùa lần đầu tiên vào năm 1825 (Ất Dậu, Minh Mạng [明命] thứ 6) thì các ngôi chùa tranh tre ở đây mới được thay bằng gạch ngói. Vua đã ban cho chùa tấm biển có ghi “Ngự chế Ứng Chân Tự, Minh Mạng lục niên (御製應眞寺、明命六年, Ngự chế Ứng Chân Tự, Minh Mạng thứ 6 [1825])”. Đến đời Thành Thái, do kỵ húy tên một vị vua nhà Nguyễn nên chùa được đổi tên là Linh Ứng. Chùa còn tấm biển ghi “Cải tứ Linh Ứng Tự, Thành Thái tam niên (改賜靈應寺、成泰三年, vua ban đổi thành Linh Ứng Tự, Thành Thái thứ 3 [1891])”. Năm 1901 (Thành Thái thứ 13), chùa bị cơn bão Tân Sửu tàn phá nặng nề. Chùa được trùng tu nhiều lần. Năm 1993, Thượng Tọa Thích Thiện Nguyện đã tổ chức trùng tu ngôi Chánh Điện theo kiểu chữ “nhất ()”. Bên phải Chánh Điện là Nhà Tổ, Giảng Đường, Nhà Khách, Nhà Thiền và Nhà Trù. Chùa đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận là Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Quốc Gia.(Theo nguồn dichvudulichviet.com, Võ Văn Tường: 500 Danh Lam Việt Nam. Nhà Xuất Bản Thông Tấn, 2008, tr. 173)
  36. Trú Trì, Trụ Trì (住持, jūji): nguyên ban đầu có ý nghĩa là sống lâu, hộ trì Phật pháp; nhưng sau nầy chuyển sang nghĩa chỉ cho vị tăng chưởng quản một ngôi chùa; còn gọi là Trú Trì Chức (住持職), gọi tắt là Trú Chức (住職, jūshoku); hay gọi là Duy Na (維那), Tự Chủ (寺主). Từ sau thời nhà Tống (, hay Lưu Tống [劉宋], 420~479) trở đi, chức danh Trú Trì được dùng rộng rãi trong Thiền Lâm. Khi Phật Giáo đầu tiên mới du nhập vào Trung Quốc, những người tu Thiền lấy đạo truyền trao cho nhau, hoặc là sống trong hang động núi rừng, hoặc nương nơi các ngôi chùa Luật; và thuở ấy chưa có tên gọi Trú Trì. Mãi đến thời nhà Đường (, 618~907), Thiền phong dần dần hưng thịnh, đồ chúng mỗi ngày một tăng, Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 749-814) mới bắt đầu chế ra chức Trú Trì; sau nầy được tôn xưng là Trưởng Lão (長老), hay Phương Trượng (方丈). Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 5 có ghi rằng: “Thiền Tông Trú Trì, nhi xưng chi viết Trưởng Lão, dĩ xỉ đức cụ tôn dã (禪宗住持、而稱之曰長老、以齒德俱尊也, vị Trú Trì trong Thiền Tông được gọi là Trưởng Lão, vì coi trọng đức của vị ấy đủ tôn kính).” Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 2, phần Trú Trì Nhật Dụng (住持日用) có giải thích chi tiết 16 pháp vị Trú Trì phải hành trì bao quát hằng ngày, gồm: (1) Thượng đường (上堂, thuyết pháp cho đại chúng tại Pháp Đường), (2) Vãn tham (晚參, buổi chiều thuyết pháp, giáo huấn cho đại chúng tại Pháp Đường), (3) Tiểu tham (小參, thuyết pháp không phải theo thời gian quy định), (4) Cáo hương (告香, thuyết pháp khai thị cho vị tăng mới đến), (5) Phổ thuyết (普說, thuyết pháp), (6) Nhập thất (入室), (7) Niệm tụng (念誦), (8) Tuần liêu (巡寮, tuần tra các liêu phòng của chúng tăng), (9) Túc chúng (肅眾, giám sát và đốc thúc đại chúng), (10) Huấn đồng hành (訓童行, dạy cho chúng điệu nhỏ mới vào tu), (11) Vị hành giả phổ thuyết (爲行者普說, thuyết pháp cho hành giả), (12) Thọ Pháp Y (受法衣, nhận Pháp Y), (13) Nghênh thị tôn túc (迎侍尊宿, nghinh tiếp chư tôn túc đến thăm), (14) Thí chủ thỉnh thăng tòa Trai Tăng (施主請陞座齋僧, Thí chủ cung thỉnh lên tòa chứng minh, thọ nhận lễ Trai Tăng), (15) Thọ từ pháp nhân tiên điểm (受嗣法人煎點, châm trà tiếp đãi những vị đến thọ nhận từ pháp), (16) Từ pháp sư di thư chí (嗣法師遺書至, vị thầy từ pháp mang di thư đến). Trú Trì là người phải đầy đủ đức hạnh kiêm toàn, nên trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 30 có câu: “Tương dục Trú Trì Tam Bảo, tất tu đức hạnh nội sung(將欲住持三寶、必須德行內充, nếu muốn Trú Trì Tam Bảo, tất phải có đầy đủ đức hạnh bên trong).” Hay trong Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú (禪林寶訓合註, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1263) quyển 4 có nêu ra 4 yếu tố cần thiết cho vị Trú Trì: “Trú Trì chi thể hữu tứ yên, nhất đạo đức, nhị ngôn hạnh, tam nhân nghĩa, tứ lễ pháp; đạo đức ngôn hạnh, nãi giáo chi bổn dã, nhân nghĩa lễ pháp, nãi giáo chi mạt dã; vô bổn bất năng lập, vô mạt bất năng thành (住持之體有四焉、一道德、二言行、三仁義、四禮法、道德言行、乃敎之本也、仁義禮法、乃敎之末也、無本不能立、無末不能成, thể của Trú Trì có bốn điều, một là đạo đức, hai là ngôn hạnh, ba là nhân nghĩa, bốn là lễ pháp; đạo đức ngôn hạnh là gốc của giáo pháp vậy; nhân nghĩa lễ pháp là rễ của giáo pháp; không gốc thì không đứng vững được, không rễ thì không hình thành được).” Cho nên, Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký quyển 1 còn khẳng định thêm rằng: “Khả kiến vi tăng giả, toàn lại tu hành vi bổn, sở vị trú trì hữu đạo đức, tắc tùng lâm nhật an, vô tắc tùng lâm nhật nguy (可見爲僧者、全賴修行爲本、所謂住持有道德、則叢林日安、無則叢林日危, có thể thấy rằng làm tăng sĩ toàn bộ đều lấy việc tu hành làm gốc, gọi là vị Trú Trì có đạo đức thì tùng lâm ngày một yên ổn, nếu không thì tùng lâm ngày một nguy khốn).” Quyển 5 của tác phẩm trên còn cho biết rằng: “Linh Sơn trú trì, Đại Ca Diếp thống chi; Trúc Lâm trú trì, Xá Lợi Phất chủ chi (靈山住持、大迦葉統之、竹林住持、舍利弗主之, trù trì Linh Sơn do Đại Ca Diếp thống quản, trú trì Trúc Lâm Tinh Xá do Xá Lợi Phất làm chủ).” Hay trong Niệm Phật Tam Muội (念佛三昧, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1190) cũng nêu rõ rằng: “Ta Bà thế giới, Thích Tôn trú trì, Hoa Tạng thế giới, Lô Xá Na Thế Tôn trú trì(娑婆世界、釋尊住持、華藏世界、盧舍那世尊住持, thế giới Ta Bà do đức Thích Tôn trú trì, thế giới Hoa Tạng do đức Thế Tôn Lô Xá Na trú trì).”
  37. Bản văn bia của Tổ Vĩnh Gia tại Tổ Đình Phước Lâm chỉ ghi là: “Hòa Thượng cố niệm Phước Lâm Tổ Đình(和尚顧念福林祖庭, Hòa Thượng nghĩ nhớ đến Tổ Đình Phước Lâm)”, không có mấy từ “thâm ân vô hà dĩ đáp(深恩無何以答, ơn sâu không gì báo đáp được).” Theo tác phẩm Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh của Thích Như Tịnh cho biết rằng: “Năm Đinh Hợi (1887), Hòa Thượng Chương Nhẫn Quảng Hóa, Trú Trì Tổ Đình Phước Lâm viên tịch, Ngài bèn khất hồi về lại Phước Lâm để phụng sự chốn Tổ.” (tr. 163)
  38. Hòa Thượng Minh Giác (明覺, 1747-1830): thế danh là Võ Đức Nghiêm, sinh vào giờ Tuất, ngày 15 tháng 1 năm Đinh Mão (1747, Cảnh Hưng [景興] thứ 8), tại Thôn Ngọc Trì (nguyên là Hoa Trì, nhưng vì húy kỵ nên đổi thành như vậy), Huyện Tư Nghĩa, Tỉnh Quảng Ngãi (nay thuộc Huyện Trà Bồng, Tỉnh Quảng Ngãi). Vào năm 1759 (Kỷ Mão, Cảnh Hưng thứ 20), lúc 12 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia, đến Chùa Phước Lâm lạy Hòa Thượng Thiệt Dinh Ân Triêm làm thầy, được Bổn Sư ban cho pháp danh là Pháp Kiêm, tự Luật Oai, hiệu Minh Giác. Sau hơn 10 năm tu tập, năm 1770 (Canh Dần, Cảnh Hưng thứ 31), Ngài về quê gặp lúc giặc mọi Đá Vách quấy phá nên Ngài tòng quân dẹp giặc, lập nhiều công trạng và được phong đến chức Chỉ Huy. Sau đó, Ngài từ quan về phát nguyện quét chợ Hội An trong vòng 20 năm. Về sau, Ngài kế thừa Trụ Trì Chùa Phước Lâm. Ngài viên tịch vào giờ Tý ngày mồng 10 tháng 11 năm Canh Dần (1830), hưởng thọ 84 tuổi. Ngài có công tu bổ chùa Phước Lâm và đúc nhiều quả chuông lưu lại tại Quảng Nam. (Theo nguồn phongtho.net. Thích Như Tịnh: Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh, tr. 157-158)
  39. Trác tích (卓錫): trác () nghĩa là dựng đứng, tích () là Tích Trượng (s: khakkhara, khakharaka, 錫杖), một trong 18 vật thường dùng của chư tăng; trác tích nghĩa là chống cây Tích Trượng mà đứng; từ đó nó có chỉ cho vị tăng du hành dừng chân trú ở một nơi nào đó. Như trong bài thơ Lăng Già Cổ Mộc (楞伽古木) của Trương Bá Thuần (張伯淳, 1242-1302) nhà Nguyên có câu rằng: “Đạo Lâm trác tích cựu chủng thử, phảng phất ư kim bát bách niên (道林卓錫舊種此、髣髴於今八百年, Đạo Lâm dừng chân trồng cây ấy, mịt mờ nay đã tám trăm năm).” Hay trong chương Tây Tăng (西僧) của Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異) do Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh sáng tác, có đoạn: “Tây tăng tự Tây Vức lai, nhất phó Ngũ Đài, nhất trác tích Thái Sơn (西僧自西域來,一赴五臺,一卓錫泰山, chư tăng từ Tây Vức đến, một vị lên Ngũ Đài Sơn, một vị dừng chân trú tại Thái Sơn).” Trong bài Lục Tổ Trác Tích Tuyền Minh (六祖卓錫泉銘) của thi hào Tô Thức (蘇軾, 1036-1101) có ghi lại việc khi đang trú tại Tào Khê (曹溪), Lục Tổ Huệ Năng (慧能, 638-713) đã từng chống Tích Trượng trên mặt đất và xảy ra chuyện thần kỳ: “Lục Tổ sơ trú Tào Khê, trác tích tuyền dũng, thanh lương hoạt cam, thiệm túc đại chúng, đãi kim sổ bách niên hỉ (六祖初住曹溪、卓錫泉湧、清涼滑甘、贍足大眾、逮今數百年矣, Lục Tổ khi mới đến trú ở Tào Khê, chống Tích Trượng xuống đất làm cho suối phun nước lên, trong mát ngọt dịu, cấp đủ cho đại chúng dùng, cho đến nay đã mấy trăm năm rồi).” Từ đó, trác tích còn chỉ cho trú xứ của chư tăng. Trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 28 có câu: “Tổ khai pháp Vạn Phong, Tổ trác tích Tô Châu Đặng Úy Sơn, nạp tử bôn tập, toại thành tùng lâm (祖開法萬峰、祖卓錫蘇州鄧尉山、衲子奔集、遂成叢林, Tổ khai pháp ở Vạn Phong, Tổ trú tại Đặng Úy Sơn, Tô Châu, chúng tăng tập trung về rất đông, cuối cùng thành tòng lâm).”
  40. Nhị Đế (二諦): chỉ cho Chơn Đế và Tục Đế. Đế () là lý chân thật bất hư. Chơn Đế (s: paramārtha-satya, p: paramattha-sacca, ), còn gọi là Thắng Nghĩa Đế (勝義諦), là chân lý của xuất thế gian. Tục Đế (s: saṃvṛti-satya, p: sammuti-sacca, 俗諦), còn gọi là Thế Tục Đế (世俗諦), Thế Đế (世諦); tức là chân lý thế gian. Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳, Taishō Vol. 54, No. 2125) quyển 4 cho rằng việc thế tục che trùm chân lý thế gian, nên Tục Đế được dịch là Phú Tục Đế (覆俗諦). Ý nghĩa của Nhị Đế được thuyết trong các kinh điển không thống nhất với nhau. Tùy theo kinh điển mà tên gọi của Nhị Đế cũng khác nhau. Như Niết Bàn Kinh (涅槃經), Nhân Vương Bát Nhã Kinh (仁王般若經), Đại Trí Độ Luận (大智度論), Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章), v.v., thì gọi là Thế Đế và Đệ Nhất Nghĩa Đế (第一義諦). Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh Phá Thủ Trước Bất Hoại Giả Danh Luận (金剛般若波羅蜜經破取著不壞假名論), Thành Thật Luận (成實論) thì gọi là Chơn Đế và Tục Đế. Trong khi đó, Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (大般若波羅蜜多經), Du Già Luận (瑜伽論), Duy Thức Luận (唯識論) thì gọi là Tục Đế và Thắng Nghĩa Đế. Trong đó, từ Chơn Đế và Tục Đế là thịnh hành nhất. Pháp của Nhị Đế cũng được diễn đạt khác nhau tùy theo các tông phái. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa (妙法蓮華經玄義, Taishō Vol. 33, No. 1716) quyển 2 cho rằng: “Phù Nhị Đế giả, danh xuất chúng kinh, nhi kỳ lý nan hiểu, thế gian phân vân, do lai thạc tranh (夫二諦者、名出眾經、而其理難曉、世間紛紜、由來碩諍, phàm Nhị Đế, tên có khắp trong các kinh, nhưng lý của nó khó hiểu, thế gian phân vân, tranh luận sôi nỗi xuất xứ của nó).” Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 24 của phái Nam Sơn lại liệt Nhị Đế thuộc vào dị thuyết của xưa nay. Trong khi đó, qua Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) 1, Pháp Sư Tịnh Ảnh Huệ Viễn (淨影慧遠, 523-592) thì giải thích rằng: “Đệ tứ tông trung, phân vi Nhị Đế, thể vi Chơn Đế, dụng vi Thế Đế (第四宗中、分爲二諦、體爲眞諦、用爲世諦, trong tông thứ tư, chia thành Hai Đế, thể là Chơn Đế, dụng là Thế Đế).” Đại Thừa Tứ Luận Huyền Nghĩa (大乘四論玄義, Tục Tạng Kinh Vol. 46, No. 784) quyển 5 định nghĩa Nhị Đế là: “Cái thị Pháp Tánh chi chỉ quy, nhất chơn Bất Nhị chi cực lý dã (蓋是法性之旨歸。一眞不二之極理也, vốn là yếu chỉ quy nguyên của Pháp Tánh, là lý tột cùng của nguồn chơn Không Hai).” Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 82 cho rằng: “Đắc nhập Trung Đạo, song chiếu Nhị Đế, tâm tâm tịch diệt, tự nhiên lưu nhập Tát Bà Nhã hải, danh Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế quán (得入中道雙照二諦心心寂滅自然流入薩婆若海名中道第一義諦觀, vào được Trung Đạo, song chiếu Nhị Đế, tâm tâm vắng lặng, tự nhiên trôi nhập vào biển hết thảy chủng trí, ấy gọi là quán Nghĩa Đế Thứ Nhất của Trung Đạo).” Hay trong Lạc Dương Già Lam Ký (洛陽伽藍記,Taishō Vol. 51, No. 2092) quyển 1 lại ghi rằng: “Chí ư Nhất Thừa Nhị Đế chi nguyên, Tam Minh Lục Thông chi chỉ, Tây Vức bị tường, Đông Độ mĩ ký (至於一乘二諦之原三明六通之旨西域僃詳東土靡記, cho đến nguồn gốc của Một Thừa, Hai Đế; ý chỉ của Ba Trí, Sáu Thần Thông, Tây Vức [Ấn Độ] thì giải thích đầy đủ, còn Đông Độ [Trung Hoa] thì không ghi gì cả).” Trong Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (瑜伽集要焰口施食儀, Taishō Vol. 21, No. 1320) hay Lễ Xá Lợi Tháp Nghi Thức (禮舍利塔儀式, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1491) có đoạn: “Nguyện tương dĩ thử thắng công đức, hồi hướng vô thượng chơn Pháp Giới, tánh tướng Phật pháp cập Tăng Già, Nhị Đế dung thông Tam Muội Ấn, như thị vô lượng công đức hải, ngã kim giai tất tận hồi hướng (願將以此勝功德迴向無上眞法界性相佛法及僧伽二諦融通三昧印如是無量功德海我今皆悉盡迴向, nguyện lấy công đức thù thắng nầy, hối hướng vô thượng chơn Pháp Giới, tánh tướng Phật pháp và Tăng Già, Hai Đế dung thông Tam Muội Ấn, như vậy vô lượng công đức biển, con nay đều xin hồi hướng thảy).”
  41. Bản văn bia của Hòa Thượng Vĩnh Gia được thâu lục trong Bản Công Văn Thủ Bút Của Tổ Giác Tiên ghi rằng: “Tiên thị Phước Lâm Tự, vị Minh Giác Đại Sư trác tích. Sư tiền lịch Chỉ Huy Viên Dung Nhị Đế, danh liệt vu Nam Sử (先是福林寺、爲明覺大師卓錫、師前歷指揮圓融二諦、名列于南史, trước hết là Chùa Phước Lâm, vì Đại Sư Minh Giác đã từng trú ở đây. Trước kia Đại Sư đã từng làm Chỉ Huy, Đạo Đời Viên Dung, tên tuổi được ghi lại trong sử nước Nam).” Tuy nhiên, bản văn bia của Ngài tại Tổ Đình Phước Lâm có phần sai khác: “Tiên thị Phước Lâm Tự, vi Ân Triêm sư sáng thỉ, Minh Giác sư kế tịch, Giác sư tiền lịch quan Chỉ Huy quy tăng, danh liệt vu Nam Sử (先是福林寺、爲恩霑師創始、明覺師繼席、覺師前歷官指揮歸僧、名列于南史, trước hết là Chùa Phước Lâm, vì do Đại Sư Ân Triêm sáng lập, Đại Sư Minh Giác kế thừa, sư Minh Giác trước kia từng làm chức quan Chỉ Huy, rồi trở về làm tu sĩ, tên tuổi được ghi lại trong sử nước Nam).”
  42. Tương truyền hai câu nầy do triều đình nhà Nguyễn đi điếu cho Đại Sư Minh Giác, và hiện vẫn còn lưu lại ở Nhà Tổ Chùa Phước Lâm. Tuy nhiên, hai câu đối nầy không phải là bản gốc ngày xưa, mà do chư tôn đức trong sơn môn pháp phái đi chúc mừng nhân dịp lễ Lạc Thành Nhà Tổ vào năm 1989 (Kỷ Tỵ), Phật Lịch 2533. Nếu so sánh hai câu nầy trong bản Công Văn Thủ Bút Của Tổ Giác Tiên và văn bia hiện tồn tại tháp của Hòa Thượng Vĩnh Gia, chúng ta thấy có điểm sai khác, như trong bản Công Văn Thủ Bút Của Tổ Giác Tiên ghi là: “Bát trật sanh thiên thành chánh quả (八袠生天成正果, tám chục sanh thiên thành chánh quả)”; nhưng bản văn bia hiện tồn tại tháp của Hòa Thượng Vĩnh Gia thì ghi là: “Bát trật sanh thiên thành chứng quả (八袠生天成證果, tám chục sanh thiên thành chứng quả).”
  43. Bình man (平蠻): bình định, dẹp yên giặc mọi rợ. Từ nầy ám chỉ Đại Sư Minh Giác đã từng tòng quân dẹp yên giặc mọi Đá Vách, lập khá nhiều công trạng nên được chúa Nguyễn phong đến chức Chỉ Huy. Từ buổi đầu triều đại nhà Nguyễn, dân tộc Đá Vách ở Quảng Ngãi đã nổi dậy chống đối, rồi tiếp tục hoạt động suốt hơn nửa thế kỷ làm cho triều đình luôn phải lo lắng. Như trong Sãi Vãi có câu rằng: “Những sợ nhiều quân Đá Vách, tưởng thôi lạc phách nhớ đến kinh hồn.” Phía Tây Quảng Ngãi là địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số, trong đó nhiều nhất là người Hré. Trong các thư tịch xưa, người Hré được ghi bằng các tên gọi khác nhau, như: Mọi Lũy (ý nói dân ở bên kia lũy Bình Man), Mọi Nước (hay Mọi Đồng, chỉ cho dân tộc này biết làm ruộng lúa nước), Mọi Hoang (ý nói không khống chế nổi), Tà Mạ (tên một cư trú của ngưới Hré), Mọi Đá Vách (hay Man Thạch Bích, tức gọi theo tên một ngọn núi có tên Nôm là Đá Vách, tên Hán Việt là Thạch Bích) hay chỉ đơn giản là Man. Họ nổi dậy quấy phá với nhiều nguyên nhân như sưu thuế cao, cai trị bằng bạo lực, tệ nạn nhũng nhiễu, tham lam của quan lại và địa chủ, xúc phạm những tập tục lâu đời của dân tộc họ, v.v. (Theo nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/Nổi_dậy_ở_Đá_Vách_thời_Nguyễn)
  44. Tảo thị (掃市): quét chợ. Chỉ cho việc Đại Sư Minh Giác, sau khi dẹp giặc xong, được phong chức quan; nhưng Ngài từ quan, về phát nguyện quét chợ Hội An trong vòng 20 năm.
  45. Từ nầy chỉ cho hai lần gian lao cực khổ trong thời gian dài 40 năm của Đại Sư Minh Giác là 20 năm tùng quân dẹp giặc mọi Đá Vách, và 20 năm quét chợ Hội An.
  46. Trật (): cùng nghĩa với chữ trật (), mười năm là một trật, như thất trật (七袠) là bảy mươi tuổi, bát trật (八袠) là tám mươi tuổi.
  47. Chánh quả (正果): (1) Chỉ cho sự chứng ngộ nhờ tu tập đúng chánh pháp; còn gọi chứng quả (證果). Sở dĩ gọi là chánh quả, vì đó là quả nhờ học Phật chứng đắc được; khác với ngoại đạo tu luyện mù lòa, sai lầm. (2) Đặc biệt chỉ cho thân của hữu tình, là quả báo chánh thể cảm đắc nhờ nghiệp nhân quá khứ; còn gọi là chánh báo (正報). Như trong Lăng Nghiêm Kinh Yếu Giải (楞嚴經要解, Tục Tạng Kinh Vol. 11, No. 270) quyển 2 có câu: “Chúng sanh nghiệp chủng thành tụ, hành nhân bất thành chánh quả, giai do bất tri nhị bổn thác loạn tu tập (眾生業種成聚、行人不成正果、皆由不知二本錯亂修習, chúng sanh giống nghiệp tích tụ, người hành trì không thành chánh quả, đều vì chẳng biết hai gốc rễ tu tập thác loạn).” Hay như trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Thuật Nghĩa (沙彌律儀要略述義, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1119) lại có câu: “Dĩ thành chánh quả viết Thánh, linh siêu vạn vật viết nhân, mô phạm hậu học viết sư, Lục Hòa thanh tịnh viết Tăng (已成正果曰聖、靈超萬物曰人、模範後學曰師、六和清淨曰僧, đã thành chánh quả gọi là Thánh, linh ứng vượt qua vạn vật gọi là người, làm mô phạm cho học đồ đi sau gọi là thầy, sống Lục Hòa thanh tịnh gọi là Tăng).”
  48. Đỉnh tân (鼎新): cách tân, đổi mới. Như trong bài Thỉnh Cải Quan Chế Tiền Dự Tuyển Quan Tập Hành Trục Ty Sự Vụ Trát Tử (請改官制前預選官習行逐司事務劄子) của Tằng Củng (曾鞏, 1019-1083) nhà Tống có câu: “Quan hiệu pháp chế, đỉnh tân ư thượng (官號法制、鼎新於上, pháp chế về quan hiệu, đổi mới từ bên trên).” Trong Thanh Châu Bách Vấn (青州百問, Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1313) có câu: “Cung duy Thanh Châu Pháp Tổ Đại Sư đề cương chấn lĩnh, đỉnh tân Tào Động chi tông, vận trí hưng bi, di phú nhi tôn chi ấn (恭惟青州法祖大師提綱振領、鼎新曹洞之宗、運智興悲、彌覆兒孫之癊, cúi mong Pháp Tổ Đại Sư ở Thanh Châu đề xướng cương lĩnh, đổi mới Tào Động Tông phong, vận trí tuệ hưng khởi từ bi, che khắp tâm bệnh của con cháu).” Hay trong Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562) quyển 14 cũng có đoạn: “Công tam tọa đạo tràng, điện vũ Thiền phường, hoán nhiên đỉnh tân, biệt kiến Lan Nhã, nhị thập dư sở (公三坐道塲、殿宇禪坊、煥然鼎新、別建蘭若、二十餘所, ông ba lần ngồi đạo tràng, nhà cửa Thiền phòng, đổi mới sáng sủa, kiến lập thêm ngôi chùa khác, hơn hai mươi chỗ).”
  49. Truyền đăng (傳燈): (1) Truyền trao ngọn đèn pháp. Như trong Kim Cang Kinh Chú Giải (金剛經注解, Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 503) có câu: “Phật chi truyền đăng, vi diệu bí mật, dư hà nhân tư (佛之傳燈、微妙祕密、予何人斯, chư Phật truyền đăng, mầu nhiệm bí mật, trao cho ai đây).” Hay trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) quyển 1 có đoạn: “Đạt Ma Tây lai, lịch đại thọ thọ, cổ đức truyền đăng, vô tận quang trung, đại viên kính lí, nhật vãng nguyệt lai, dĩ chí ư kim (達摩西來、歷代授受、古德傳燈、無盡光中、大圓鏡裏、日往月來、以至於今, Đạt Ma từ Ấn Độ đến, qua các đời trao nhận, cổ đức truyền đèn pháp, trong ánh sáng vô tận, nơi gương sáng tròn đầy, ngày qua tháng lại, cho đến ngày nay).” Trong Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca (永嘉證道歌, Taishō Vol. 48, No. 2014) cũng có đoạn: “Đệ nhất Ca Diếp thủ truyền đăng, nhị thập bát đại Tây Thiên ký, pháp Đông lưu nhập thử độ, Bồ Đề Đạt Ma vi sơ Tổ, lục đại truyền y thiên hạ văn(第一迦葉首傳燈、二十八代西天記、法東流入此土、菩提達磨爲初祖、六代傳衣天下聞, thứ nhất Ca Diếp đứng đầu truyền đăng, hai mươi tám đời Tây Thiên ghi lại, pháp chảy về Đông vào quốc độ nầy, Bồ Đề Đạt Ma là Tổ đầu tiên, sáu đời truyền y thiên hạ đều nghe).” (2) Từ gọi tắt của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄).
  50. Phạm đường (梵堂): nhà thờ Phật, tên gọi khác của tự viện Phật Giáo. Như trong bài Phụng Hòa Cửu Nguyệt Cửu Nhật Đăng Từ Ân Tự Phù Đồ Ứng Chế (奉和九月九日登慈恩寺浮屠應制) của Sầm Hi (岑羲, ?-713) nhà Đường có câu: “Phạm đường dao tập nhạn, đế nhạc cận tường loan (梵堂遙集雁、帝樂近翔鸞, chùa Phật xa nhạn đến, nhạc vua gần chim bay).” Hay trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林), phần Khí Dụng (器用) có câu: “Thọ quang thị trang đài vô trần chi kính, trường minh thị Phạm đường bất diệt chi đăng (壽光是妝檯無塵之鏡、長明是梵堂不滅之燈, sống lâu là kính trang điểm không gợn bụi, sáng tỏ là đèn bất diệt của Thiền môn).” Trong Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 8 còn cho biết thêm rằng: “Nhập đệ tứ Thiền, phục hữu tứ pháp, vị tứ Phạm đường, nhất từ, nhị bi, tam hỷ, tứ xả (入第四禪、復有四法、謂四梵堂、一慈、二悲、三喜、四捨, vào cõi Thiền thứ tư, lại có bốn pháp, gọi là bốn Phạm đường: một là từ, hai là bi, ba là hỷ, bốn là xả).”
  51. Phật cung (佛宮): cung điện thờ Phật, tức chỉ cho tự viện Phật Giáo; tương đương với Phạm cung (梵宮), Phạm vũ (梵宇), Phạm sát (梵刹). Như trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 28 có bài thơ Quá Hướng Thành Quảng Phước Tự (過向城廣福寺) rằng: “Vạn thốc vân sơn ủng Phật cung, tuyền đề tảo tỉnh thảo lai phong, tịch dương khư lạc hướng thành Bắc, kỉ độ chung thanh tống vãn phong (萬簇雲山擁佛宮、璇題藻井草萊封、夕陽墟落向城北、幾度鐘聲送晚風, vạn cụm núi mây ôm Phật cung, biển ngọc phù điêu cỏ xanh um, bóng chiều thành cũ xuôi về Bắc, mấy độ chuông chùa theo gió ngân).” Hay trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2099) quyển Hạ có câu: “Nhân tức sáng hưng Phạm vũ, đế cấu Phật cung, thập hữu thất niên bất hạ phong đảnh, Thiền tụng tinh cần, thốn âm vô phế (因卽創興梵宇、締搆佛宮、十有七年不下峰頂、禪誦精勤、寸陰無廢, nhân đó mà sáng lập Phạm vũ, xây dựng Phật điện, trong vòng mười bảy năm không xuống đỉnh núi, hành Thiền tinh tấn, thời gian không bỏ phí).”
  52. Hòa Thượng Ấn Thanh Tổ Đạo Chí Thành (1841-1895): vị trú trì đời thứ 6 của Tổ Đình Tam Thai trong khoảng thời gian từ 1884 đến 1895. Thế danh ngài là trần văn thành, sinh năm Tân Sửu (1841), tại Thôn Long Bình, Tổng Xuân Đài, Huyện Đồng Xuân, Phú Yên (nay là Phường Long Bình, thị trấn sông cầu, Phú Yên). Thuở nhỏ, ngài xuất gia với Tổ Chương Tín Hoằng Ân tại Chùa Linh Ứng, Ngũ Hành Sơn, với pháp danh là Ấn Thanh, pháp tự Tổ Đạo. Vào năm Nhâm Tuất (1862), Tổ Hoằng Ân viên tịch, ngài tham học với Tổ Chương Tư Huệ Quang tại Chùa Tam Thai, đắc pháp hiệu Chí Thành Đại Sư, truyền thừa đời 39 Tông Lâm Tế, thế hệ thứ 6 Pháp Phái Chúc Thánh. Năm Quý Dậu (1873), ngài được triều đình cử làm Trú Trì Chùa Linh Ứng. Năm Giáp Thân (1884), được cải bổ Trú Trì Chùa Tam Thai. Đến tháng 4 năm Quý Tỵ (1893), ngài được sơn môn cung thỉnh làm Đường Đầu Hòa Thượng tại Giới Đàn Chùa Chúc Thánh, Hội An. Ngày 25 tháng 4 năm Ất Mùi (1895), ngài thị tịch, thọ 55 tuổi. Tháp lập bên tháp Tổ Huệ Quang. Đệ tử đắc pháp rất nhiều, tiêu biểu có các vị như Chơn Đỉnh Phước Thông, Chơn Pháp Phước Trí, Chơn Nhẫn Phước Điền, Chơn Bổn Phước Khánh, v.v. (Thích Như Tịnh: Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng. Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, 2008)
  53. Chùa Chúc Thánh (祝聖寺): chùa tọa lạc tại Phường Cẩm Phô, Thị Xã Hội An, Tỉnh Quảng Nam, cách trung tâm phố cổ Hội An chừng 2km. Chùa được Thiền Sư Minh Hải Pháp Bảo (明海法寶) kiến lập vào cuối thế kỷ 17 (1696). Chùa Chúc Thánh nổi tiếng là nơi khai sinh ra chi phái Thiền Lâm Tế Chúc Thánh. Chùa được xây theo mô hình chữ tam (), có phong cách kiến trúc tổng hợp của truyền thống Trung Quốc và Việt Nam với nhiều tượng lớn, chạm trổ cầu kỳ. Ở chính điện thờ Tam Thế Phật, Di Lặc, 18 vị La Hán, trước sân có tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Ngoài ra trong chùa còn có nhiều ngôi tháp của Tổ Sư Minh Hải, Thiền Sư Thiệt Thọ (đời 35), Ấn Bính (đời 39), Thiện Quả, v.v. Từ đó đến nay chùa đã trãi qua hai lần đại trùng tu vào năm 1956 (Bính Thân) và 1964 (Giáp Thìn). Tổ Sư Minh Hải có một bài kệ truyền pháp nổi tiếng, sau nầy trở thành kệ truyền thừa của dòng Thiền Lâm Tế Chúc Thánh: “Minh thật pháp toàn chương, ấn chơn như thị đồng, Chúc Thánh thọ thiên cửu, kỳ quốc tộ địa trường, đắc chánh luật vi tông, Tổ đạo giải hành thông, giác hoa bồ đề thọ, sung mãn nhân thiên trung (明實法全彰、印眞如是同、祝聖壽天久、祈國祚地長、得正律爲宗、祖道解行通、覺花菩提樹、充滿人天中).” (Theo nguồn Tổng Cục Du Lịch Việt Nam. Võ Văn Tường: 500 Danh Lam Việt Nam. Nhà Xuất Bản Thông Tấn, 2008, tr. 183. Thích Như Tịnh: Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh, tr. 139~143)
  54. Giáo Thọ (敎授): tức Giáo Thọ A Xà Lê (敎授阿闍梨), là tên gọi của một trong Tam Sư (三師), gồm Giới Sư (戒師, tức Đàn Đầu Hòa Thượng [壇頭和尚]), Yết Ma A Xà Lê (羯摩阿闍梨) và Giáo Thọ A Xà Lê. Hay là một trong 5 loại A Xà Lê, như trong Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 39 có nêu rõ là: “Hữu ngũ chủng A Xà Lê, hữu Xuất Gia A Xà Lê, Thọ Giới A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê (有五種阿闍梨、有出家阿闍梨、受戒阿闍梨、敎授阿闍梨、受經阿闍梨、依止阿闍梨, có năm loại A Xà Lê, có Xuất Gia A Xà Lê, Thọ Giới A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê).” Giáo Thọ A Xà Lê còn gọi là Giáo Thọ Sư (敎授師), là vị A Xà Lê (s: ācārya, p: ācariya, 阿闍梨) dạy dỗ, truyền trao cho Giới Tử oai nghi tác pháp, v.v., trong Giới Đàn. Tiểu Thừa Giới thì lấy vị thầy hiện tiền làm Giáo Thọ A Xà Lê; cùng với vị Yết Ma A Xà Lê có giới lạp phải từ 5 tuổi trở lên. Đối với Đại Thừa Viên Đốn Giới (大乘圓頓戒) thì cung thỉnh đức Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) làm vị Giáo Thọ A Xà Lê. Trong Mật Giáo, tại đàn tràng Quán Đảnh, người hướng dẫn người thọ lễ Quán Đảnh vào trong đàn tràng, chỉ cho các nghi thức tấn thối, v.v., được gọi là Giáo Thọ A Xà Lê. Trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1085) có chỉ rõ cách cung thỉnh chư tôn như sau: “Phụng thỉnh Thích Ca Mâu Ni Phật tác Hòa Thượng, phụng thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật tác Yết Ma A Xà Lê, phụng thỉnh Đương Lai Di Lặc Tôn Phật tác Giáo Thọ A Xà Lê, phụng thỉnh Thập Phương Hiện Tại Chư Phật tác Chứng Giới Sư (奉請釋迦牟尼佛作和尚、奉請文殊師利種上尊王佛作羯磨阿闍梨、奉請當來彌勒尊佛作敎授阿闍梨、奉請十方現在諸佛作證戒師, cung thỉnh Thích Ca Mâu Ni Phật làm Hòa Thượng, cung thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật làm Yết Ma A Xà Lê, cung thỉnh Đương Lai Di Lặc Tôn Phật làm Giáo Thọ A Xà Lê, cung thỉnh Mười Phương Hiện Tại Chư Phật làm Chứng Giới Sư).” Trong phần Thỉnh Giáo Thọ Sư Pháp (請敎授師法) của Tăng Yết Ma (僧羯磨, Taishō Vol. 40, No. 1809) quyển Thượng có đoạn rằng: “Đại Đức nhất tâm niệm, ngã mỗ giáp, kim thỉnh Đại Đức vi Giáo Thọ A Xà Lê, nguyện Đại Đức vị ngã tác Giáo Thọ A Xà Lê, ngã y Đại Đức cố, đắc thọ Cụ Túc Giới (大德一心念、我某甲、今請大德爲敎授阿闍梨、願大德爲我作敎授阿闍梨、我依大德故、得受具足戒, Đại Đức một lòng ghi nhớ, con tên là …, nay cung thỉnh Đại Đức làm Giáo Thọ A Xà Lê, cúi mong Đại Đức vì con làm Giáo Thọ A Xà Lê, vì con nương vào Đại Đức, được thọ Cụ Túc Giới).”
  55. Thần Kinh (神京): (1) Đế đô, thủ đô. Như trong bài Phụng Hòa Biệt Việt Vương (奉和別越王) của Trương Đại An (張大安, ?-?) nhà Đường có câu: “Lệ nhật khai phương điện, giai khí tích thần kinh (麗日開芳甸、佳氣積神京, trời đẹp bày thơm cõi, khí tốt tụ kinh đô).” Hay trong bài Tiểu Trùng Sơn (小重山) của Hòa Ngưng (和凝, 898-955) thời Ngũ Đại có đoạn: “Xuân nhập thần kinh vạn mộc phương, cấm lâm oanh ngữ hoạt, điệp phi cuồng(春入神京萬木芳、禁林鶯語滑、蝶飛狂, xuân đến đế đô cây cỏ thơm, vườn cấm oanh líu lo, bướm bay rối rít).” Trong bài Võ Xương Khởi Nghĩa Chơn Sử (武昌起義眞史) của Tào Á Bá (曹亞伯, 1875-1937) cũng có câu: “Bỉnh nhĩ bạch mao, báo nhĩ tiên đức, trùng tân Cửu Đỉnh, tái điện thần kinh (秉爾白茅、報爾先德、重新九鼎、再奠神京, giữ vững ý chí người, báo đáp đức lớn người, trùng tu mới Cửu Đỉnh, tái thiết chốn thần kinh).” (2) Giống như tiên cảnh, kinh đô của tiên nữ. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) quyển 42 có đoạn: “Chiêu chơn hạ lưu, quán ngã ngọc sương, vũ quần phân phân, y ngã tiên thường, việt quá thủy hỏa, phi đăng thần kinh (招眞下流、灌我玉霜、羽裙紛紛、衣我仙裳、越過水火、飛登神京, mời Chơn Quân xuống dòng, rưới sương ngọc ta, quần long phấp phới, mặc áo tiên ta, vượt qua nước lửa, bay lên tiên cảnh).” Tuy nhiên, Việt Nam lại giải thích chữ thần kinh là do hai chữ kinh đô thần bí ghép lại mà thành. Huế là kinh đô thần bí do hai sự kiện lịch sử sau đây: (1) Sự kiện thứ nhất xảy ra vào năm 1558 (Mậu Ngọ). Sau khi Trịnh Kiểm (鄭檢, tại vị 1545-1570), anh rể của Nguyễn Hoàng (阮潢, 1525-1613), sát hại Nguyễn Uông, anh ruột của Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hoàng bèn đến gặp Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (阮秉謙, 1491-1585) để xin ý kiến hầu tìm cách đối phó. Nhìn về hướng Nam, Trạng Trình chỉ thốt một lời “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân (橫山一帶、萬代容身, Hoành Sơn một dãi, muôn đời dung thân).” Hiểu ý, Nguyễn Hoàng xin Trịnh Kiểm cho mình vào Nam làm Trấn Thủ đất Thuận Hoá để xa lánh hiểm họa không biết lúc nào sẽ xảy ra cho mình. Sự nghiệp của nhà Nguyễn ở phương Nam bắt đầu từ đấy, và kéo dài 400 năm, núp bóng giải Hoành Sơn rồi lan rộng khắp cả Nam Kỳ. (2) Sự kiện thứ hai, khá huyền hoặc. Trong một giấc mơ, chúa Nguyễn Hoàng thấy một bà lão mặc sắc phục đỏ, tự xưng là Thái Thượng Lão Quân, bảo Nguyễn Hoàng đi về hướng Đông khoảng ba dặm để lập kinh đô. Đêm hôm ấy, Chúa cùng đoàn tùy tùng nghỉ chân ở một địa điểm trên bờ Sông Hương, cách Huế khoảng 5 cây số về phía Tây. Sáng hôm sau, Chúa Nguyễn Hoàng di chuyển về hướng Đông như bà lão trong mộng đã bảo, và quả thật, sau mấy dặm đường, Chúa bị thu hút bởi cảnh trí tuyệt vời như thiên nhiên đã dành sẵn cho ông. Ngoài cái đẹp của sông núi hữu tình, chắc chắn ông và các cố vấn của ông còn “phát hiện” được những lý do địa lý mà thời ấy mọi người đều tin tưởng, và hy vọng rằng đây là một vùng đất tốt, một “địa linh nhơn kiệt” đáng được chọn làm nơi thiết lập bản doanh của chúa Nguyễn Hoàng lúc bấy giờ, và sau này là kinh đô của cả nước. Lời tiên tri của Trạng Trình, lời báo mộng của Thái Thượng Lão Quân quả đã báo trước sự nghiệp lâu dài 400 năm của nhà Nguyễn và cũng là 400 năm của cố đô Huế. Một ngôi chùa nổi tiếng được Nguyễn Hoàng cho xây cất ngay tại nơi báo mộng để tưỏng niệm Lão Quân mang tên là Thiên Mụ (天姥), hay Linh Mụ (靈姥). Ngôi già lam nầy được khởi công kiến lập vào năm 1601 (Tân Sửu, niên hiệu Hoằng Định [弘定] thứ 2 nhà Hậu Lê) và đến năm 1841 thì được chỉnh trang và mở rộng, đồng thời xây thêm cái tháp cao ở sân trước chùa. Nhờ được chăm sóc kỹ lưỡng qua các thời đại, đến nay ngôi chùa vẫn còn vững chắc, trở thành danh lam thắng cảnh, và di tích lịch sử của Việt Nam. Đó là lý do tại sao Huế còn được gọi là đất Thần Kinh. Vua Thiệu Trị (紹治, tại vị 1841-1847), cháu của Nguyễn Hoàng, đã từng sáng tác 20 bài thơ gọi là Nhị Thập Thần Kinh Thắng Cảnh (二十神京勝景) để tả những cảnh đẹp của Kinh Thành Huế. (Theo nguồn của www.forum.festivalhue.com)
  56. Chùa Báo Quốc (報國寺): chùa tọa lạc trên đồi Hàm Long trên đất xưa gọi là làng Thụy Lôi, gần với xóm Lịch Đợi, ở đường Báo Quốc, thuộc phường Phường Đúc, thành phố Huế. Chùa do Hòa Thượng Giác Phong (覺峰, ?-1714), người Quảng Đông, Trung Quốc, khai sơn vào cuối thế kỷ 17 dưới đời vua Lê Dụ Tông (黎裕宗, tại vị 1705-1729) và đặt tên là Hàm Long Tự (). Sau đó Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊, tại vị 1738-1765) ban sắc tứ Báo Quốc Tự vào năm 1747 (Đinh Mão, niên hiệu Cảnh Hưng [景興] thứ 8 nhà Hậu Lê). Hiện vẫn còn tấm biển vàng thếp vàng và những bức liễn từ thời ấy. Thời Tây Sơn chùa bị sử dụng làm công xưởng. Năm 1808 (Mậu Thìn, Gia Long [嘉隆] thứ 7), để báo hiếu mẹ là Hiếu Khương Hoàng Thái Hậu, vua Gia Long (嘉隆, tại vị 1802-1820) trùng tu chùa, xây Tam Quan và đúc một Đại Hồng Chung nặng 826 cân ta, cao 1,4m, đường kính 1,2m nay vẫn còn. Vua đặt tên là Thiên Thọ Tự (天壽寺), nhưng về sau vì lăng Gia Long cũng gọi là Thiên Thọ Lăng nên vua Minh Mạng (明命, tại vị 1820-1841) đổi lại tên như cũ. Vua Minh Mạng trùng tu chùa vào năm 1824 (Giáp Thân, Minh Mạng [明命] thứ 5) và vua Tự Đức (嗣德, tại vị 1847-1883) góp phần tôn tạo vào năm 1858 (Mậu Ngọ, Tự Đức [嗣德] thứ 11). Khu mộ tháp có tháp Tổ Giác Phong và và các vị kế thế như Phổ Tịnh, Viên Giác, Diệu Giác. Năm 1948, An Nam Phật Học Hội dời Sơn Môn Phật Học Đuờng từ Chùa Linh Quang đến đây do Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết (1890-1973), sau này trở thành Tăng Thống Giáo Hội, làm Giám Đốc và Báo Quốc đã trở thành một trung tâm đào tạo tăng tài. Người tiếp nối sự nghiệp giáo dục Tăng Ni và làm trụ trì Chùa Báo Quốc là Hòa Thượng Thích Trí Thủ (1909-1984). Hòa Thượng cũng là người lập ra trường Bồ Đề ở Thành Nội năm 1952 mà về sau phát triển thành một hệ thống trường Bồ Đề khắp các tỉnh ở miền Trung và miền Nam trước năm 1975. Ngày nay, Chùa Báo Quốc là nơi đặt trường Trung Cấp Phật Học Huế. Chùa còn lưu giữ được bộ Hàm Long Sơn Chí (山誌), một tác phẩm của Cư Sĩ Điềm Tịnh bằng chữ Hán ghi lại lịch sử phát triển của Phật Giáo Thuận Hóa. Ở dưới chân đồi có giếng nước nổi tiếng, gọi là giếng Hàm Long vì nước mạch phát ra từ một tảng đá có đầu rồng. Dân gian có câu ca dao lưu truyền: “Nước Hàm Long đã trong lại ngọt, em thương anh rày có Bụt chứng tri.” (Theo nguồn của Dư Địa Chí Thừa Thiên Huế. Võ Văn Tường: 500 Danh Lam Việt Nam. Nhà Xuất Bản Thông Tấn, 2008, tr. 134)
  57. Văn bia hiện tồn tại tháp của Hòa Thượng Vĩnh Gia lại ghi là: “Bính Thân Bình Định Thập Tháp Tự khai Giới Đàn, tôn vi Yết Ma (丙午平定十塔寺開戒壇、尊爲羯摩, vào năm Bính Thân [1896], Ngài mở Giới Đàn tại Chùa Thập Tháp, Bình Định, được tôn cử làm Yết Ma A Xà Lê).” Như vậy năm Bính Thân (1896, Thành Thái thứ 8) không trùng khớp với năm Bính Ngọ (1906, Thành Thái thứ 18) như được đề cập trong bản Công Văn Thủ Bút Của Tổ Giác Tiên cũng như tác phẩm Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh của Thích Như Tịnh (tr. 163).
  58. Chùa Thập Tháp (十塔寺): hay Chùa Thập Tháp Di Đà (十塔彌陀寺), tọa lạc ở thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Chùa được Tổ Sư Nguyên Thiều (元韶, 1648-1728) dựng vào năm 1683 (Quý Hợi, niên hiệu Chánh Hòa [正和] thứ 4 nhà Hậu Lê), trên gò đất có mười ngôi tháp Chàm. Đây là ngôi chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế, được trùng tu bốn lần vào các năm 1820 (Canh Thìn), 1849 (Kỷ Dậu), 1877 (Đinh Sửu) và 1924 (Giáp Tý). Đến nay chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm, cổ kính. Chùa nằm phía Bắc thành cổ Đồ Bàn, kinh đô của nước Chiêm Thành ngày xưa, gần Quốc lộ I và cách thành phố Quy Nhơn độ 28km. Thời xa xưa, trên gò đất cao ấy có đến mười ngôi tháp Chàm cổ kính nằm án ngữ mặt bắc Đồ Bàn cho nên người ta mới gọi là gò Thập Tháp. Kể từ khi vào trấn đất Thuận Hóa và mở mang bờ cõi xa dần về phía Nam, ngoài việc chăm lo về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa trong hơn hai trăm năm, các chúa Nguyễn đều coi trọng đạo Phật nên cho xây dựng khá nhiều chùa chiền, đúc chuông, tạc tượng Phật. Bấy giờ có Hòa Thượng Tế Viên (濟圓, ?-1689), Lão Tổ Giác Phong (覺峰, ?-1714) đều là người Trung Hoa, tham gia truyền bá đạo Phật ở Việt Nam. Năm 1665 (Ất Tỵ), đời chúa Nguyễn Phúc Tần (阮福瀕, tại vị 1648-1687), có Thiền Sư người Trung Hoa đến Việt Nam, ở lại đất Quy Ninh (Bình Định ngày nay) để tìm đất cất chùa. Ngài cho phá hủy mười ngôi tháp Chàm đã bị sụp đổ để lấy gạch xây dựng chùa thờ Phật gọi là Chùa Thập Tháp. Vị Thiền Sư đó chính là Hòa Thượng họ Tạ, húy Nguyên Thiều, quê quán ở Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Năm 1691 (Tân Mùi, niên hiệu Chánh Hòa thứ 12) nhà Hậu Lê, chùa được vua Lê Hiển Tông (黎顯宗, tại vị 1740-1786) ban cho biển ngạch đề “Thập Tháp Di Đà Tự”. Chùa Thập Tháp Di Đà xây bằng gạch Chàm, lợp ngói âm dương, bốn vày, ba gian, hai chái, kiến trúc theo hình chữ khẩu, có hai lớp tường bao bọc chung quanh. Những khu vực chính của chùa gồm có khu chính điện, khu phương trượng, khu tây đường và đông đường, có dãy hành lang rộng lớn nối liền, bao bọc một sân rộng, có lát gạch vuông, bày đủ các thứ cây cảnh. Ở khu chính diện, kết cấu chủ yếu là gỗ quý được chạm trổ rất tinh xảo, công phu, với những họa tiết hoa cuộn, hoa sen, rồng, phượng cách điệu. Đầu tám hàng trụ cột và đầu kèo được chạm, trang trí cổ tự. Ngoài những công trình chính, bên cạnh chùa còn có 24 bảo tháp lớn nhỏ mang hình thái kiến trúc nhiều thời khác nhau. Trước chùa còn có ao sen rộng, xây bằng đá ong xưa. Trong chùa có Ba Tạng Kinh, giấy khổ rộng, chữ to bằng ngón tay út. Bộ kinh hết sức cổ, có lẽ do Tổ Sư Nguyên Thiều đã thỉnh từ Trung Hoa sang vào lúc phụng mệnh chúa Nguyễn về nước vào cuối thế kỷ 17. Ngoài ra, chùa còn có hai tượng Hộ Pháp và 36 tượng La Hán bằng gỗ chạm khắc tinh vi. 36 tượng La Hán, mỗi vị cao nửa mét, thờ hai bên án cạnh bàn thờ Phật, mỗi bên 18 vị, mỗi vị có khuôn mặt và dáng điệu khác nhau. Còn hai tượng Hộ Pháp đặt ở hai bên cửa bước vào cao đến hai mét. Tại chùa còn có quả chuông đường kính 70cm, nặng 500kg, đúc từ năm 1893. Trong tất cả chùa chiền ở miền Trung được xây cất từ thời các chúa Nguyễn, Chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định là chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế và được xem như là Chùa Tổ. Nhưng về sau, ngài Nguyên Thiều ra trụ trì ở Thuận Hóa và tịch ở đó cho nên đệ tử mới lấy Chùa Quốc Ân làm chùa Tổ thay cho Chùa Thập Tháp Di Đà. Còn ngài Nguyên Thiều sau khi tịch (1729) được chúa Nguyễn Phước Chu ban thụy hiệu là Hạnh Đoan Thiền Sư và có bài minh khắc vào bia đá ca ngợi đạo đức của Hòa Thượng. Năm 1924, Hòa Thượng Phước Huệ là Tổ thứ 40 phái Lâm Tế và là Tổ thứ 13 của phái Nguyên Thiều đứng ra xây dựng, mở rộng chùa và dựng thêm cổng Tam Quan như ngày nay. (Theo nguồn dulichbinhdinh.com. Võ Văn Tường: 500 Danh Lam Việt Nam. Nhà Xuất Bản Thông Tấn, 2008, tr. 198)
  59. Yết Ma (): tức Yết Ma A Xà Lê (s: karmācārya, p: kammācarya, 磨阿闍梨), là tên gọi của một trong Tam Sư (三師), gồm Giới Sư (戒師, tức Đàn Đầu Hòa Thượng [壇頭和尚]), Yết Ma A Xà Lê (羯摩阿闍梨) và Giáo Thọ A Xà Lê. Hay là một trong 5 loại A Xà Lê, như trong Di Sa Tắc Bộ Hòa Ê Ngũ Phần Luật (彌沙塞部和醯五分律, Taishō Vol. 22, No. 1421) quyển 16 có nêu rõ là: “Hữu ngũ chủng A Xà Lê, hữu Xuất Gia A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê (有五種阿闍梨、有出家阿闍梨、敎授阿闍梨、羯磨阿闍梨、受經阿闍梨、依止阿闍梨, có năm loại A Xà Lê, có Xuất Gia A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê).” Yết Ma A Xà Lê còn gọi là Yết Ma Sư (羯磨師), Yết Ma Giới Sư (羯磨戒師); là vị A Xà Lê hướng dẫn cho Giới Tử trong giới đàn cách thức Yết Ma xin cầu giới pháp, v.v. Cho nên, trong Ngũ Phần Luật quyển 16 nêu trên có giải thích rõ vai trò của vị nầy như sau: “Thọ Cụ Túc giới thời vi tác Yết Ma, thị danh Yết Ma A Xà Lê (受具足戒時爲作羯磨、是名羯磨阿闍梨, tác pháp Yết Ma khi thọ Cụ Túc giới, đó gọi là Yết Ma A Xà Lê).” Tiểu Thừa Giới thì lấy vị thầy hiện tiền làm Yết Ma A Xà Lê; cùng với vị Giáo Thọ A Xà Lê có giới lạp phải từ 5 tuổi trở lên. Đối với Đại Thừa Viên Đốn Giới (大乘圓頓戒) thì cung thỉnh đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利) làm Yết Ma A Xà Lê, như trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1085) có ghi rằng: “Phụng thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật tác Yết Ma A Xà Lê (奉請文殊師利種上尊王佛作羯磨阿闍梨, cung thỉnh đức Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật làm Yết Ma A Xà Lê).” Trong phần Thỉnh Giới Sư Pháp (請戒師法) của Tăng Yết Ma (僧羯磨, Taishō Vol. 40, No. 1809) quyển Thượng có đoạn rằng: “Đại Đức nhất tâm niệm, ngã mỗ giáp, kim thỉnh Đại Đức vi Yết Ma A Xà Lê, nguyện Đại Đức vị ngã tác Yết Ma A Xà Lê, ngã y Đại Đức cố, đắc thọ Cụ Túc Giới (大德一心念、我某甲、今請大德爲羯磨阿闍梨、願大德爲我作羯磨阿闍梨、我依大德故、得受具足戒, Đại Đức một lòng ghi nhớ, con tên là …, nay cung thỉnh Đại Đức làm Yết Ma A Xà Lê, cúi mong Đại Đức vì con làm Yết Ma A Xà Lê, vì con nương vào Đại Đức, được thọ Cụ Túc Giới).” Trong Diệu Cát Tường Bình Đẳng Bí Mật Tối Thượng Quán Môn Đại Giáo Vương Kinh (妙吉祥平等祕密最上觀門大敎王經, Taishō Vol. 20, No. 1192) quyển 4 có đoạn rằng: “Yết Ma A Xà Lê linh đệ tử ư Bắc môn diện hướng đàn, hữu tất trước địa hồ quỳ hiệp chưởng (羯磨阿闍梨令弟子於北門面向壇、右膝著地胡跪合掌, Yết Ma A Xà Lê bảo đệ tử nơi cửa Bắc mặt hướng về đàn tràng, đầu gối phải chấm đất, quỳ xuống chấp tay).”
  60. Văn bia hiện tồn tại tháp của Hòa Thượng Vĩnh Gia lại ghi là: “Từ pháp đệ tử tam thập hữu nhị (嗣法弟子三十有二, đệ tử nối dòng pháp có 32 vị).”
  61. Sắc tứ (敕賜): Hoàng Đế hạ lệnh ban cho. Như trong Đại Đường Thanh Long Tự Tam Triều Cúng Phụng Đại Đức Hành Trạng (大唐青龍寺三朝供奉大德行狀, Taishō Vol. 50, No. 2057) có đoạn: “Sắc tứ đao nhất khẩu, ư Thanh Long Đại Phật Điện tiền, thọ sắc dữ Hòa Thượng nhị đồng tử thế đầu, tứ Ca Sa y bát các lưỡng phó (敕賜刀一口、於青龍大佛殿前、授敕與和上二童子剃頭、賜袈裟衣缽各兩副, nhà vua sắc ban cho đao một lưỡi, tại trước Chánh Điện của Chùa Thanh Long, sắc ban cho Hòa Thượng [Huệ Quả] hai đồng tử xuống tóc, ban y Ca Sa và bình bát, mỗi thứ hai bộ).” Hay trong Kim Sử (金史) quyển 38, phần Ngoại Quốc Sứ Nhập Kiến Nghi (外國使入見儀) có đoạn: “Thứ dẫn Cao Lệ, Hạ sứ tinh chí đan trì, tam sứ tinh cúc cung, hữu sắc tứ tửu thực, vũ đạo, ngũ bái (次引高麗、夏使幷至丹墀、三使幷鞠躬、有敕賜酒食、舞蹈、五拜, kế đến dẫn sứ thần Cao Lệ, nhà Hạ cùng đến thềm ngọc, cả ba sứ thần vòng tay cúi đầu, vua ban cho rượu thịt, nhảy múa, rồi lạy năm lạy).” Xưa kia, dưới thời quân chủ, phần lớn các tự viện đều được nhà vua ban biển ngạch sắc tứ. Như tại Chùa Trúc Lâm ở Xã Thủy Xuân, Thành Phố Huế có bức hoành đề: “Sắc Tứ Trúc Lâm Đại Thánh Tự (敕賜竹林大聖寺)”. Tại Chùa Quốc Ân, Huế có Long Vị của Tổ Nguyên Thiều (元韶, 1648-1728) đề: “Sắc Tứ Quốc Ân Đường Thượng Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Tam Thế Húy Nguyên Thiều Thượng Thọ Hạ Tôn Lão Hòa Thượng (敕賜國恩堂上臨濟正宗三十三世諱元韶上壽下尊老和尚).”
  62. Biển ngạch (匾額): là tấm bảng (thường bằng gỗ) có khắc chữ trên đó, được treo ngay phía trước hướng chính diện của ngôi điện, lầu gác, cung đình, v.v.; dùng để giải thích về danh xưng của kiến trúc ấy. Biển ngạch nầy xuất hiện ở Trung Quốc cũng như các quốc gia châu Á khác như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, v.v. Loại biển ngạch do đích thân nhà vua ghi bút được gọi là Long Biển (), phối hợp với hoa văn điêu khắc hình rồng. Về số lượng chữ, thông thường phổ cập nhất là 3 chữ, như Thái Hòa Điện (太和殿), Thích Ca Tháp (釋迦塔). Bên cạnh đó, cũng có loại 2 chữ như Tích Ung (辟雍); hoặc loại 6 chữ như tấm biển Hiển Linh Chiêu Tế Thánh Mẫu (顯靈昭濟聖母) trong ngôi Điện Thánh Mẫu thời nhà Tống. Đặc biệt, dưới thời nhà Thanh (, 1616-1911), hầu hết những tấm biển ngạch đều có kèm theo dòng chữ Mãn Thanh, viết dọc xuống; như Dưỡng Tâm Điện (養心殿), Khôn Ninh Cung (坤寧宮), v.v. Như trong Lục Đạo Tập (六道集, Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1645) quyển 5 có đoạn: “Trị mộ, lưỡng sứ Giai Cầu túc miếu trung, kim biển ngạch đề viết ‘Sắc Phong Long Mẫu Miếu’ (値暮、兩使偕球宿廟中、金匾額題曰、敕封龍母, đến tối, hai sứ Giai và Cầu nghỉ lại trong miếu, tấm biển ngạch vàng đề dòng chữ ‘Sắc Phong Long Mẫu Miếu’).” Hay trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 7 lại có đoạn rằng: “Hoặc khất thi văn, hoặc cầu biển ngạch, hoặc giả quyền thế, hoặc sách tiền tài, chung nhật bôn ba, bất tư tĩnh thủ, giai danh ngoại vụ (或乞詩文、或求匾額、或假權勢、或索錢財、終日奔波、不思靜守、皆名外騖, hoặc xin thơ văn, hoặc cầu biển ngạch, hoặc giả quyền thế, hoặc đòi tiền tài, suốt ngày bôn ba, chẳng nhìn lại mình, đều gọi là chạy quanh bên ngoài).”
  63. Đàn Việt (檀越): âm dịch của từ Đàn Na (s, p: dāna, 檀那), còn gọi là Đà Na (柁那), Đán Na (旦那), Đà Nẵng (馱曩), Đàn (); ý dịch là thí (, cho, ban phát), bố thí (布施), tức lấy tâm từ bi mà ban phát phước lợi cho tha nhân; cả Phạn Hán cùng gọi là Đàn Thí (檀施), Đàn Tín (檀信). Những tín đồ cúng dường y thực cho tăng chúng, hay xuất tiền tài để tiến hành pháp hội, tu hạnh bố thí được gọi là Thí Chủ (s: dānapati, 施主); âm dịch là Đàn Việt (檀越), Đà Na Bát Để (陀那鉢底), Đàn Na Ba Để (檀那波底), Đà Na Bà (陀那婆); cả Phạn Hán đều gọi chung là Đàn Việt Thí Chủ (檀越施主), Đàn Na Chủ (檀那主), Đàn Chủ (檀主). Trong Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập (翻譯名義集, Taishō Vol. 54, No. 2131) quyển 1 có giải thích rằng: “Đàn Na hựu xưng Đàn Việt; Đàn tức thí; thử nhân hành thí, việt bần cùng hải, cố xưng Đàn Việt; tâm sanh xả pháp, năng phá xan tham, thị vi Đàn Na (檀那又稱檀越、檀卽施、此人行施,越貧窮海、故稱檀越、心生捨法能破慳貪檀那, Đàn Na còn gọi là Đàn Việt; Đàn tức là bố thí; người nầy hành bố thí, vượt qua biển bần cùng; nên gọi là Đàn Việt; tâm sanh khởi pháp xả bỏ, có thể phá tan sự tham lam, keo kiệt, đó là Đàn Na).” Theo Thiện Sanh Kinh (善生經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 11 có đoạn rằng: “Đàn Việt đương dĩ ngũ sự cung phụng Sa Môn, Bà La Môn. Vân hà vi ngũ ? Nhất giả thân hành từ, nhị giả khẩu hành từ, tam giả ý hành từ, tứ giả dĩ thời thí, ngũ giả môn bất chế chỉ. Thiện Sanh, nhược Đàn Việt dĩ thử ngũ sự cung phụng Sa Môn, Bà La Môn; Sa Môn, Bà La Môn đương phục dĩ lục sự nhi giáo thọ chi. Vân hà vi lục ? Nhất giả phòng hộ bất linh vi ác, nhị giả chỉ thọ thiện xứ, tam giả giáo hoài thiện tâm, tứ giả sử vị văn giả văn, ngũ giả dĩ văn năng sử thiện giải, lục giải khai thị thiên lộ (檀越當以五事供奉沙門、婆羅門、云何五、一者身行慈、二者口行慈、三者意行慈、四者以時施、五者門不制止、善生、若檀越以此五事供奉沙門、婆羅門、沙門、婆羅門當復以六事而授之、云何六、一者防護不令惡、二者指授善處、三者懷善心、四者使未聞者聞、五者已聞能使善解、六者開示天路, Thí chủ nên lấy năm việc để cung phụng Sa Môn, Bà La Môn. Thế nào là năm ? Một là thân hành từ bi, hai là miệng hành từ bi, ba là ý hành từ bi, bốn là cúng dường đúng thời, năm là cổng không đóng dừng. Này Thiện Sanh ! Nếu Thí chủ lấy năm việc trên để cung phụng Sa Môn, Bà La Môn; Sa Môn, Bà La Môn phải lấy sáu việc để giáo hóa lại cho họ. Thế nào là sáu ? Một là phòng ngừa, bảo hộ không khiến cho làm điều ác; hai là chỉ bày, truyền trao nơi tốt lành; ba là dạy họ luôn nhớ tâm lành; bốn là khiến cho người chưa nghe được nghe; năm là người được nghe có thể khiến cho khéo hiểu rõ; sáu là khai thị rõ đường lên Trời).” Lại theo Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 24 cho biết rằng vị Thí Chủ Đàn Việt tùy thời mà bố thí, cúng dường thì sẽ có 5 công đức: (1) Tiếng tăm vang khắp bốn phương và mọi người đều hoan hỷ, vui mừng; (2) Nếu sanh làm thân chúng sanh, không mang tâm xấu hổ và cũng không có sự sợ hãi; (3) Được mọi người kính ngưỡng, người thấy cũng sanh tâm hoan hỷ; (4) Sau khi mạng hết, hoặc sanh lên cõi Trời, được chư Thiên cung kính; nếu sanh trong cõi người, cũng được người tôn quý; (5) Trí tuệ xuất chúng, thân hiện đời hết lậu hoặc, chẳng trải qua đời sau.
  64. Lại Bộ (吏部): Bộ Lại là tên gọi của một cơ quan hành chính thời phong kiến tại các nước Đông Á, tương đương với cấp bộ ngày nay. Năm Kiến Thỉ (建始) thứ 4 (29 ttl.) thời Hán Thành Đế (漢成帝, tại vị 33ttl.-7ttl.) lập ra Thường Thị Tào (常侍曹), đến thời Hán Quang Võ Đế (漢光武帝, tại vị 25-57) đổi thành Lại Tào (吏曹). Đến thời Hán Linh Đế (漢靈帝, tại vị 168-189) thì đổi thành Tuyển Bộ (選部). Từ thời Tào Ngụy (曹魏, 220-265) và nhà Tấn (, 265-420) trở đi gọi là Lại Bộ. Dưới thời Tùy (, 581-619), Đường (, 618-907) và Ngũ Đại (五代, 907-960), bộ này là một trong sáu bộ của Thượng Thư Tỉnh (尚書省). Sau này, trong Lại Bộ mới đặt ra các Ty khác như Lại Bộ Ty (吏部司), Tư Phong Ty (司封司), Tư Huân Ty (司勳司), Khảo Công Ty (考功司), chủ quản các công việc của Quan Văn như quan tước, phong tước, ân ban, thuyên chuyển, lựa chọn, xét công, bãi truất và thăng thưởng, bổ sung quan lại, cung cấp người cho các nha môn, v.v. Thời kỳ đầu nhà Đường, Bộ này còn cai quản cả việc khảo thí khoa cử, đến năm Khai Nguyên thứ 24 (734), thời Đường Huyền Tông (唐玄宗, tại vị 712-756), công việc này được giao lại cho Bộ Lễ. Đến thời kỳ giữa của nhà Đường, các quyền xem xét quan viên và bổ nhiệm, bãi miễn bị thu hồi dần về Thượng Thư Tỉnh. Quan đứng đầu Bộ Lại gọi là Lại Bộ Thượng Thư (吏部尚書, hay Thượng Thư Bộ Lại) với hàm Chánh Tam Phẩm (正三品), cấp dưới lần lượt là Lại Bộ Thị Lang (吏部侍郎) gồm 2 người với hàm Chánh Tứ Phẩm Thượng (正四品上). Dưới nữa là Lang Trung (郎中) có 2 người với hàm Chánh Ngũ Phẩm Thượng (正五品上) và Viên Ngoại Lang (員外郎) gồm 2 người với hàm Tùng Lục Phẩm Thượng (從六品上). Có thời đổi thành Tư Liệt (司列), Thiên Quan (天官), Văn Bộ (文部), sau lại đổi về như cũ. Tất cả những quy định nầy được thâu lục chi tiết trong Tấn Thư (晉書), phần Chức Quan Chí (職官志), hay Tân Đường Thư (新唐書), phần Bách Quan Chí (百官志). Quan Bộ Lại danh tiếng của Việt Nam là cụ Nguyễn Cư Trinh (阮居楨, 1716-1767). Ông là danh thần đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊, tại vị 1738-1765), quê ở Thừa Thiên, Huế; vốn người văn võ song toàn, đỗ Hương Cống (鄉貢), làm quan đến chức Thượng Thư Bộ Lại. Nhiều lần cầm binh đánh dẹp, khai hoang lập ấp, phát triển bờ cõi phía Nam, lập công lớn trong việc chiêu dụ, mở nước, an dân. Ông rất được trọng vọng nhờ am tường chính trị, doanh điền, ngoại giao, có bản tính liêm khiết và phong thái tao nhã. Thơ văn ông còn truyền tụng nhiều, cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, độc đáo nhất là Độc Am Thi Tập và bài vè 340 câu Sãi Vãi. (Theo nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/Bộ_Lại)
  65. Tức cụ Thượng Thư Hiệp Biện Đại Học Sĩ Nguyễn Hà Đình.
  66. Tịnh Độ (淨土, Jōdo): hai chữ lấy từ câu “Thanh Tịnh Quốc Độ (清淨國土)” của bản Hán dịch Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經). Theo Thỉ Hoàng Bổn Kỷ (始皇本紀) của Sử Ký (史記), Thanh Tịnh (清淨, trong sạch) nghĩa là “(quốc độ) trong ngoài thanh tịnh”. Bên cạnh đó, từ nầy còn gọi là Tịnh Sát (淨刹). Chữ sát () trong trường hợp nầy là âm tả của tiếng Sanskrit ketra, nghĩa là thế giới vĩnh viễn có phước đức trong sạch; đối xứng với thế giới nầy là thế giới hiện thực Uế Độ (穢土). Nếu cho rằng Uế Độ là thế giới của kẻ phàm phu thì Tịnh Độ là thế giới của chư Phật (thường được gọi là Phật Độ [佛土], Phật Quốc [佛國], Phật Giới [佛界], Phật Sát [佛刹]). Trong lịch sử tư tưởng Phật Giáo, Tịnh Độ được chia thành 3 loại: Lai Thế Tịnh Độ (來世淨土), Tịnh Phật Quốc Độ (淨佛國土) và Thường Tịch Quang Độ (常寂光土). Lai Thế Tịnh Độ là cõi Tịnh Độ sau khi chết, được lập ra cho đời sau, tưởng định ở bốn hướng đông tây nam bắc như thế giới Tây Phương Cực Lạc (西方極樂) của A Di Đà Phật (s: Amitābha Buddha, 阿彌陀佛), Đông Phương Diệu Hỷ Quốc (東方妙喜國) của A Súc Phật (s: Akobhya Buddha, 阿閦佛) là nổi tiếng nhất. Nguyên lai, cõi nầy được nghĩ ra theo hướng sùng bái đức Phật và vốn phát xuất từ tư tưởng chư Phật ở quốc độ khác đời sau. Nói tóm lại, đức Phật của cõi hiện tại không có, nhưng nếu sau khi mạng chung đời sau được sanh về thế giới khác thì sẽ được gặp chư Phật. Tín ngưỡng vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc của A Di Đà Phật rất thịnh hành ở Nhật Bản, từ đó phát sanh tín ngưỡng ngay lúc lâm chung có A Di Đà Phật đến tiếp rước (lai nghênh [來迎]). Những tín ngưỡng nầy được giáo lý hóa và tư tuởng Tịnh Độ Niệm Phật phát triển mạnh, từ đó tranh vẽ về các đồ hình Tịnh Độ Biến Tướng cũng như Lai Nghênh xuất hiện. Tịnh Phật Quốc Độ có nghĩa là “làm trong sạch quốc độ Phật”. Nguyên lai, Phật Quốc Độ (s: buddha-ketra, 佛國土) ám chỉ tất cả thế giới do chư Phật thống lãnh, nhưng ở đây muốn nói đến thế giới hiện thực; cho nên Tịnh Phật Quốc Độ còn có nghĩa là Tịnh Độ hóa thế giới hiện thực. Nói cách khác, đây là cõi Tịnh Độ của hiện thực. Trong kinh điển Đại Thừa có thuyết rằng chư vị Bồ Tát thường nỗ lực giáo hóa trong Tịnh Phật Quốc Độ, vì vậy thế giới được lập nên với sự nỗ lực của vị Bồ Tát luôn tinh tấn thực hành Phật đạo trong cõi hiện thực chính là Tịnh Phật Quốc Độ. Từ đó, thông qua sự hoạt động của hàng Phật Giáo đồ Đại Thừa trong xã hội hiện thực, đây là cõi Tịnh Độ được nghĩ ra đầu tiên. Thường Tịch Quang Độ là cõi Tịnh Độ tuyệt đối vượt qua tất cả hạn định, nếu nói một cách tích cực thông qua tín ngưỡng, đây là cõi Tịnh Độ ngay chính trong hiện tại, bây giờ, ở đây. Với ý nghĩa đó, đây là cõi Tịnh Độ tồn tại ngay trong hiện thực nầy. Chính Thiên Thai Trí Khải (天台智顗, 538-597) có thuyết về thế giới nầy, như trong Duy Ma Kinh Văn Sớ (維摩文疏) có lập ra 4 quốc độ, đặt Thường Tịch Quang Độ là cõi Tịnh Độ tuyệt đối, cứu cánh cuối cùng, cõi có Phật thân là Pháp Thân Độ (法身土), hay còn gọi là Pháp Tánh Độ (法性土). Cách gọi tên Thường Tịch Quang Độ được lấy từ Quán Phổ Hiền Kinh (觀普賢經), phần kết kinh của Pháp Hoa Kinh (法華經). Thế giới hiện thực còn được gọi là thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆), cõi Thường Tịch Quang Độ vốn có trong thế giới Ta Bà, cho nên xuất hiện câu “Ta Bà tức Tịch Quang (娑婆卽寂光)”. Ba loại thuyết về Tịnh Độ vừa nêu trên đôi khi có mâu thuẫn, đối lập nhau. Tỷ dụ như, Lai Thế Tịnh Độ là cõi hạn định và tương đối nhất, là thuyết phương tiện cho hạng có căn cơ thấp kém; nhưng thuyết chân thật thì cho cõi nầy là Thường Tịch Quang Độ—Tịnh Độ tuyệt đối vượt qua khỏi mọi giới hạn của nơi nầy và nơi kia, sống và chết; cho nên pháp môn Tịnh Độ Niệm Phật dựa trên cơ sở của Lai Thế Tịnh Độ bị phê phán không ít và sự tuyệt đối hóa chính cõi Lai Thế Tịnh Độ cũng được thử nghiệm xem sao. Từ lập trường khẳng định hiện thực của tư tưởng Bản Giác, v.v., Thường Tịch Quang Độ rất được hoan nghênh. Tuy nhiên, khi lâm chung, con người vẫn có nguyện vọng được vãng sanh. Với một sự thật không thể nào chối từ được như vậy, ngay như Trí Khải—người từng cho rằng Lai Thế Tịnh Độ là cõi thấp đi chăng nữa, vẫn có niệm nguyện được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Phật Di Đà lúc ông lâm chung. Tại Nhật Bản, cho đến nay tín ngưỡng Lai Thế Tịnh Độ vẫn tiếp tục cắm sâu gốc rễ và bối cảnh của tín ngưỡng nầy có liên quan đến tâm tình giống như trường hợp Trí Khải. Trong Tịnh Độ Cảnh Ngữ (淨土警語, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1174) có câu rằng: “Nhất tâm niệm Phật, quả năng như thị, nhược bất sanh Tịnh Độ giả, chư Phật giai thành cuống ngữ hỉ(一心念佛果能如是若不生淨土者諸佛皆成誑語矣, nhất tâm niệm Phật, quả có thể như vậy; nếu không sanh về Tịnh Độ, chư Phật đều trở thành nói dối vậy).” Hay như trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1215) có đoạn: “Kim sanh tạo hạ vô biên tội, tha thế tuần hoàn hữu báo thường, nhược khẳng hồi tâm tu Tịnh Độ, liễu minh pháp tánh nhập từ hàng, hung trung nghiệp thức tiêu trừ tận, thân kiến Di Đà Đại Nguyện Vương (今生造下無邊罪、他世循環有報償、若肯回心修淨土、了明法性入慈航、胸中業識消除盡、親見彌陀大願王, đời nay tạo tác vô biên tội, kiếp khác xoay vần quả báo đền, nếu thật hồi tâm tu Tịnh Độ, rõ bày pháp tánh lên từ thuyền, trong tâm nghiệp thức tiêu trừ hết, diện kiến Di Đà Đại Nguyện Vương).”
  67. Như Lai (s, p: tathāgata, 如來): âm dịch là Đa Đà A Già Đà (多陀阿伽陀), Đa Tha A Già Độ (多他阿伽度), Đa Đà A Già Độ (多陀阿伽度), Đát Tát A Kiệt (怛薩阿竭), Đát Tha Nga Đa (怛他誐多), Đa A Kiệt (多阿竭); còn gọi là Như Khứ (如去), là một trong 10 danh hiệu của đức Phật, tôn xưng của vị Phật. Nếu phân tích Phạn ngữ tathāgata, có 2 loại: tathā-gata (如去, Như Khứ), tathā-āgata (如來, Như Lai). Như Khứ có nghĩa là cỡi đạo chơn như mà đạt đến quả Phật Niết Bàn. Theo cách giải thích sau có nghĩa là do chơn lý mà đến để thành chánh giác. Đức Phật cỡi chân lý mà đến, do chơn như mà hiện thân, nên được gọi là Như Lai. Một số kinh điển giải thích về thuật ngữ nầy như sau. Trong Thanh Tịnh Kinh (清淨經) của Kinh Trường A Hàm (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 12 có đoạn: “Phật ư sơ dạ thành tối chánh giác, cập mạt hậu dạ, ư kỳ trung gian hữu sở ngôn thuyết, tận giai như thật, cố danh Như Lai; phục thứ, Như Lai sở thuyết như sự, sự như sở thuyết, cố danh Như Lai (佛於初夜成最正覺、及末後夜、於其中間有所言說、盡皆如實、故名如來、復次、如來所說如事、事如所說、故名如來, đức Phật vào đầu đêm thành chánh giác tối thượng, cho đến cuối đêm, trong khoảng thời gian giữa ấy, những lời nói của ngài, hết thảy đều như thật, nên được gọi là Như Lai; lại nữa, các việc do Như Lai nói ra, việc đúng như lời nói, nên được gọi là Như Lai).” Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 24 thì định nghĩa là: “Như thật đạo lai, cố danh vi Như Lai (如實道來故名爲如來, đến với đạo như thật, nên có tên là Như Lai)”; hoặc quyển 55 của bộ luận nầy thì cho là: “Hành Lục Ba La Mật, chứng thành Phật đạo, … cố danh Như Lai (行六波羅蜜、證成佛道、故名如來, thực hành Sáu Ba La Mật, chứng thành Phật đạo, … nên có tên là Như Lai).” Hay như theo Thành Thật Luận (成實論, Taishō Vol. 32, No. 1646) quyển 1 là: “Như Lai giả, thừa như thật đạo lai thành chánh giác, cố viết Như Lai (如來者乘如實道來成正覺故曰如來, Như Lai là mang đạo như thật đến đây và thành chánh giác, nên được gọi là Như Lai).” Chuyển Pháp Luân Luận (轉法輪論) giải thích rằng: “Như thật nhi lai, cố danh Như Lai; … Niết Bàn danh Như, tri giải danh Lai, Chánh Giác Niết Bàn cố danh Như Lai (如實而來故名如來涅槃名如知解名來正覺涅槃故名如來, như thật mà đến, nên có tên là Như Lai; Niết Bàn gọi là Như, hiểu biết gọi là Lai; vì vậy Chánh Giác Niết Bàn được gọi là Như Lai).” Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) cũng có giải thích tương tợ như vậy: “Như chư Phật thừa như thật đạo lai thành chánh giác, kim Phật diệc như thị lai, cố danh Như Lai (如諸佛乘如實道來成正覺今佛亦如是來故名如來, như các đức Phật mang đạo như thật đến đây và thành chánh giác, nay Phật cũng đến như vậy, nên có tên là Như Lai).” Bí Tạng Ký Bổn (秘藏記本) của Mật Giáo thì cho rằng: “Thừa như nhi lai cố viết Như Lai (乘如而來故曰如來, cỡi đạo như thật mà đến nên có tên là Như Lai).” Trong tác phẩm Giáo Hành Tín Chứng (行信證) quyển 4 của Thân Loan (親鸞, Shinran, 1173-1262) Nhật Bản có định nghĩa về Như Lai rằng: “Chơn như tức thị nhất như, nhiên giả Di Đà Như Lai tùng Như Lai sanh thị hiện Báo Ứng Hóa chủng chủng thân dã (如卽是一如然者彌陀如來從如來生示現報應化種種身也, chơn như tức là nhất như, tuy nhiên, Di Đà Như Lai từ Như Lai sanh ra, thị hiện các loại thân như Báo Thân, Ứng Thân, Hóa Thân).” Ngoài ra, bản chú giải Trường Bộ Kinh bằng tiếng Pāli là Sumaṅgala-vilāsinī có nêu 9 nghĩa của Như Lai, hay Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆沙論) thì giải thích 11 nghĩa, v.v. Tại Chánh Điện của Dũng Tuyền Tự (湧泉寺), thuộc Phúc Châu (福州), tỉnh Phúc Kiến (福建), Trung Quốc có câu đối rằng: “Bảo tướng hiện Như Lai nhân chứng Bồ Đề không Ngũ Uẩn, kim thân Quán Tự Tại quả tu La Hán ngộ Tam Thừa (寶相現如來因證菩提空五蘊、金身觀自在果修羅漢悟三乘, tướng báu hiện Như Lai nhân chứng Bồ Đề không Năm Uẩn, thân vàng Quán Tự Tại quả tu La Hán ngộ Ba Thừa).” Hay như tại Huệ Tế Tự (慧濟寺) thuộc Phổ Đà Sơn (普陀山), tỉnh Triết Giang (浙江省) cũng có câu đối: “Tự Tại tự quán Quán Tự Tại, Như Lai như kiến kiến Như Lai (自在自觀觀自在、如來如見見如來, Tự Tại tự quán Quán Tự Tại, Như Lai như thấy thấy Như Lai).”
  68. Tham tỉnh (參省): Tham () ở đây nghĩa là xem xét, quan sát; tỉnh () là phản tỉnh, nhìn lại chính mình. Từ nầy vốn xuất xứ từ trong Thiên Khuyến Học (勸學篇) của Tuân Tử (荀子): “Quân tử bác học nhi nhật tham tỉnh hồ kỉ, tắc tri minh nhi hành vô quá hỉ (君子博學而日參省乎己、則知明而行無過矣, người quân tử học rộng mà mỗi ngày kiểm điểm lại mình thì trí tuệ mới sáng suốt và hành vi sẽ không có lỗi lầm).” Đối với Thiền Tông, tham tỉnh có nghĩa là đến tham học Thiền pháp với bậc cao đức nào đó và được vị ấy làm cho tỉnh ngộ; tương đương với nghĩa của tham học (參學), tham vấn (參問). Như trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1553) quyển 17, phần Tương Châu Cốc Ẩn Sơn Uẩn Thông Từ Chiếu Thiền Sư (襄州谷隱山蘊聰慈照禪師) có câu: “Sư ly Bách Trượng, chí Nhữ Châu tham tỉnh Niệm Thiền Sư (師離百丈、至汝州參省念禪師, sư rời Bách Trượng, đến Nhữ Châu tham học với Thiền Sư Niệm).” Hay như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 30, phần Nhữ Châu Nam Viện Huệ Ngung Thiền Sư (汝州南院慧顒禪師) có đoạn: “Hậu ư Vân Môn hội hạ, văn biệt tăng cử thử thoại, phương ngộ chỉ, khước hồi tham tỉnh, sư dĩ viên tịch, toại lễ Phong Huyệt Hòa Thượng (後於雲門會下、聞別僧舉此話、方悟旨、卻回參省、師已圓寂、遂禮風穴和尚, sau nhân trong hội chúng của Vân Môn, ông nghe có vị tăng nọ nêu ra câu chuyện nầy, mới ngộ được yếu chỉ; liền quay về tham học, nhưng thầy đã qua đời, ông bèn lạy Hòa Thượng Phong Huyệt làm thầy).”
  69. Gia phong (家風, kafū): Gia () nghĩa là sư gia, Thiền gia, gia đình, v.v.; phong () là phong nghi, phong tục, phong cách. Như vậy, gia phong ở đây có nghĩa là phong nghi của một nhà nào đó. Trong Thiền Tông, đây là phong nghi sinh ra từ Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗); còn gọi là tông phong (宗風), Thiền phong (禪風). Như trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 7, phần Hàng Châu Phủ Linh Ẩn Lãn Am Đạo Xu Thiền Sư (杭州府靈隱懶菴道樞禪師) có câu: “Tuyết lí mai hoa xuân tín tức, trì trung nguyệt sắc dạ tinh thần, niên lai bất thị vô giai thú, mạc bả gia phong cử tợ nhân (雪裡梅華春信息、池中月色夜精神、年來不是無佳趣、莫把家風舉似人, trong tuyết hoa mai xuân báo tin, bên hồ trăng tỏ đêm tinh thần, xuân về chẳng phải không thú đẹp, chớ lấy gia phong nói cùng người).” Hay trong Viên Ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục (圓悟佛果禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1997) quyển 6 có đoạn: “Xích nhục đoàn thượng, nhân nhân cổ Phật gia phong; Tỳ Lô đảnh môn, xứ xứ Tổ sư ba tỷ; niêm nhất cơ thiên cơ vạn cơ thông thấu; dụng nhất cú thiên cú vạn cú lưu thông (赤肉團上、人人古佛家風、毘盧頂門、處處祖師巴鼻、拈一機千機萬機通透、用一句千句萬句流通, trên đống thịt đỏ, người người gia phong cổ Phật; cửa đỉnh Tỳ Lô, chốn chốn xuất xứ Tổ sư; đưa ra một cơ duyên thì ngàn cơ duyên, vạn cơ duyên đều thông thấu; dùng một câu thôi mà ngàn câu, vạn câu thảy lưu thông).” Hoặc như trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 11 có câu: “Độc lâu thường can thế giới, tỷ khổng ma xúc gia phong, vạn lí thần quang đảnh hậu tướng, trực hạ hội đắc, chuyển phàm thành Thánh chỉ tại phiến thời (髑髏常干世界、鼻孔摩觸家風、萬里神光頂後相、下會得、轉凡成聖只在片時, đầu lâu thường chạm thế giới, lỗ mũi xát đụng gia phong, vạn dặm hào quang sau đỉnh đầu, ngay đó ngộ được, chuyển phàm thành Thánh chỉ trong phút chốc).”
  70. Văn bia hiện tồn tại tháp của Hòa Thượng Vĩnh Gia ghi rõ chi tiết là: “Hòa Thượng sanh vu Minh Mạng nhị thập nhất niên nhị nguyệt thập cửu nhật Dần thần (和尚生于明命二十一年二月十九日寅辰, Hòa Thượng sanh vào giờ Dần [3-5 giờ sáng], ngày 19 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 21 [1840]).”
  71. Bản bia hiện tồn tại tháp của Hòa Thượng Vĩnh Gia ghi rõ giờ khắc Ngài viên tịch là “Tuất khắc (戌刻, giờ Tuất [19-21 giờ tối]).”
  72. Hạ Lạp (夏臘, 夏臈): còn gọi là Tăng Lạp (僧臘), Pháp Lạp (法臘), Pháp Tuế (法歲), Pháp Hạ (法夏), Giới Lạp (), Tọa Lạp (), Tọa Hạ Pháp Lạp (夏法臘); chỉ cho số năm An Cư Kiết Hạ của vị Tỳ Kheo (s: bhiku, p: bhikkhu, 比丘) sau khi thọ giới Cụ Túc. Mỗi năm từ ngày 16 tháng 4 cho đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, trong vòng 3 tháng, các tòng lâm có tổ chức An Cư Kiết Hạ, lấy ngày cuối cùng của thời gian ấy làm ngày kết thúc của một năm; tức là ngày thọ thêm 1 tuổi. Cho nên, các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni (s: bhikuī, p: bhikkhunī, 比丘尼), sau khi thọ giới xong, vào dịp kết thúc kỳ An Cư Kiết Hạ, sẽ được tăng thêm 1 tuổi nữa. Tùy theo tuổi Hạ ít nhiều mà phân làm Thượng Lạp (), Trung Lạp () và Hạ Lạp (), để phân định cao thấp, tôn ty thượng hạ. Người có tuổi Hạ cao nhất được gọi là Nhất Lạp (), Cực Lạp (), Lạp Mãn (滿). Trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 21 có đoạn: “Sở trú giả Pháp Lạp, cố cổ chi cao tăng, viết Thế Thọ, hựu viết Pháp Lạp; cái bất câu tuế niên, nhi dĩ sơ nhập thọ trì giới phẩm, tam nguyệt An Cư, giới thể vô khuy vi nhất lạp, do dĩ lạp bất dĩ niên, cố hữu niên cao nhi lạp thiểu giả, hữu đồng niên nhi kì thọ giả (所住者法臘、故古之高僧、曰世壽、又曰法臘、蓋不拘歲年、而以初入受持戒品、三月安居、戒體無虧爲一臘、由以臘不以年、故有年高而臘少者、有童年而耆壽者, Pháp Lạp của người cư trú, chư vị cao tăng xưa gọi là Thế Thọ, hay còn gọi là Pháp Lạp; vì không kể tuổi đời, mà lấy việc mới vào thọ trì giới phẩm, ba tháng An Cư, giới thể không bị thiếu là một Lạp, do vì lấy Hạ Lạp mà không lấy tuổi đời; cho nên có người tuổi đời cao mà Hạ Lạp ít, có người tuổi đời ít mà tuổi thọ cao).” Trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ lại giải thích rõ rằng: “Hạ Lạp, tức Thích thị Pháp Tuế dã; phàm tự trưởng ấu, tất vấn, Hạ Lạp đa giả vi trưởng (夏臘、卽釋氏法歲也、凡序長幻、必問、夏臘多者爲長, Hạ Lạp là Pháp Tuế nhà Phật; phàm muốn biết thứ tự lớn nhỏ, cần phải hỏi, Hạ Lạp nhiều là lớn).” Hay trong Báo Ân Luận (報恩論, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1205) quyển Thượng có đề cập rằng: “Phàm xuất gia nhị chúng, Đông Hạ nhập Lan Nhã giảng học, Xuân Thu quy gia dưỡng phụ mẫu, cố tăng gia tự xỉ xưng Hạ Lạp, bất xưng niên (凡出家二眾、冬夏入蘭若講學、春秋歸家養父母、故僧家序齒稱夏臘、不稱年, phàm hai chúng xuất gia, mùa Đông và Hạ thì vào chùa tu học, đến mùa Xuân và Thu thì về nhà phụng dưỡng cha mẹ; nên tuổi tác của tăng sĩ được gọi là Hạ Lạp, không gọi là năm [tuổi đời]).” Trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2061) quyển 16, phần Đường Giang Châu Hưng Quả Tự Thần Thấu Truyện (唐江州興果寺神湊傳) cũng có đoạn: “Nguyên Hòa thập nhị niên cửu nguyệt cấu tật, nhị thập lục nhật nghiễm nhiên tọa chung vu tự, thập nguyệt thập cửu nhật môn nhân phụng toàn thân biếm vu tự Tây đạo Bắc phụ Nhạn Môn phần tả, nhược tăng Thuyên táng cận Quách Văn chi mộ dã, xuân thu thất thập tứ, Hạ Lạp ngũ thập nhất (元和十二年九月遘疾、二十六日儼然坐終于寺、十月十九日門人奉全身窆于寺西道北祔雁門墳左、若僧詮葬近郭文之墓也、春秋七十四、夏臘五十一, vào tháng 9 năm thứ 12 [817] niên hiệu Nguyên Hòa, ngài nhuốm bệnh, đến ngày 26 thì nghiễm nhiên ngồi thị tịch tại chùa; vào ngày 19 tháng 10, môn nhân đem toàn thân của ngài an táng ở phía Tây chùa, sau hợp táng ở bên trái đồi Nhạn Môn, giống như vị tăng Đạo Thuyên an táng gần mộ của Quách Văn vậy; ngài hưởng thọ 74 tuổi đời và 51 Hạ Lạp).”
  73. Hành Trạng (行狀): là một thể loại văn chương ghi lại sơ lược tất cả những việc làm, sinh hoạt, quê quán, ngày tháng năm sinh và năm mất của một người nào đó; còn gọi là Hành Trạng Ký (行狀記), Hành Thuật (行述), Hành Thật (行實), Hành Nghiệp (行業), Hành Nghiệp Ký (行業記). Dưới thời nhà Hán thì gọi là Trạng, và từ thời nhà Nguyên trở về sau thì gọi là Hành Trạng. Nguồn gốc của Hành Trạng khởi đầu vào thời Đông Hán (東漢, 25-220), đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều (魏晉南北朝, 220-589) thì bắt đầu thịnh hành; được tìm thấy trong phần trích dẫn về hành trạng của chư vị hiền nhân đi trước của Truyện Viên Thiệu (袁紹), Ngụy Chí (魏志) 6 thuộc Tam Quốc Chí (三國); hay trong Truyện Vương Ẩn (王隱) của Tấn Thư (晉書) quyển 82, cho biết rằng Vương Ẩn lúc nhỏ rất thích học, có chí viết ký thuật, thường ghi chép lại những sự việc nhà Tấn cũng như hành trạng của chư vị công thần. Có một số ký thuật hành trạng nổi tiếng qua các triều đại của Trung Quốc. Tỷ dụ như dưới thời nhà Đường (, 618-907) có Đại Đường Cố Tam Tạng Huyền Trang Pháp Sư Hành Trạng (大唐故三藏玄奘法師行狀), 1 quyển, không rõ tác giả; Đổng Tấn Hành Trạng (董晉行狀) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824); Hàn Lại Bộ Hành Trạng (韓吏部行狀) của Lý Cao (李翱, 774-836), v.v. Thời nhà Tống (, 960-1279) có Tư Mã Ôn Công Hành Trạng (司馬溫公行狀) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101); Phó Anh Châu Khất Đan Hành Trạng (赴英州乞舟行狀) cũng của Tô Thức; Minh Đạo Tiên Sinh Hành Trạng (明道先生行狀) của Trình Di (程頤, 1033-1107); Hoàng Khảo Lại Bộ Chu Công Hành Trạng (皇考吏部朱公行狀) của Chu Hy (朱熹, 1130-1200); Trương Ngụy Công Hành Trạng (張魏公行狀) của Chu Hy; Triều Phụng Đại Phu Văn Hoa Các Đãi Chế Tặng Bảo Mô Các Trực Học Sĩ Thông Nghị Đại Phu Thụy Văn Chu Tiên Sinh Hành Trạng (朝奉大夫文華閣待制贈寶謨閣直學士通議大夫諡文朱先生行狀) của Hoàng Càn (黃乾, 1152-1221), v.v. Thời nhà Nguyên (, 1206-1368) có Cao Phong Thiền Sư Hành Trạng (高峰禪師行狀) của Triệu Mạnh Phủ (趙孟頫, 1254-1322). Dưới thời nhà Minh (, 1368-1662) thì có Thành Ý Bá Lưu Công Cơ Hành Trạng (誠意伯劉公基行狀) của Hoàng Bá Sanh (黃伯生, ?-?); Tự Tự Tiên Thế Hành Trạng (自敘先世行狀) của Hoàng Tá (黃佐, 1490-1566); Viên Trung Lang Hành Trạng (袁中郎行狀) của Viên Trung Đạo (袁中道, 1570-1623), v.v. Thời nhà Thanh (, 1616-1911) có Ngô Đồng Sơ Hành Trạng (吳同初行狀) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682). Về hành trạng của Phật Giáo, trong Nghệ Văn Chí (藝文志) của Tân Đường Thư (新唐書) quyển 59 có Tăng Già Hành Trạng (僧伽行狀) do Tân Sùng (辛崇) soạn, 1 quyển; trong Thiên Tăng Hành (僧行篇) của Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集) quyển 23 có phần Chư Tăng Luy Hành Trạng (諸僧行狀). Trong Đại Tạng Kinh của Phật Giáo có Đại Đường Cố Tam Tạng Huyền Trang Pháp Sư Hành Trạng (大唐故三藏玄奘法師行狀, Taishō Vol. 50, No. 2052), 1 quyển; Huyền Tông Triều Phiên Kinh Tam Tạng Thiện Vô Úy Tặng Hồng Lô Khanh Hành Trạng (玄宗朝翻經三藏善無畏贈鴻臚卿行狀, Taishō Vol. 50, No. 2055), do Lý Hoa (李華) soạn, 1 quyển; Đại Đường Cố Đại Đức Tặng Tư Không Đại Biện Chánh Quảng Trí Bất Không Tam Tạng Hành Trạng (大唐故大德贈司空大辨正廣智不空三藏行狀, Taishō Vol. 50, No. 2056) do Triệu Thiên (趙遷) soạn, 1 quyển; Đại Đường Thanh Long Tự Tam Triều Cúng Phụng Đại Đức Hành Trạng (大唐青寺三朝供奉大德行, Taishō Vol. 50, No. 2057, không rõ tác giả), 1 quyển, v.v. Trong Kim Thạch Tụy Biên (金石) quyển 134 có Truyền Ứng Pháp Sư Hành Trạng (傳應法師行狀); Tục Kim Thạch Tụy Biên (金石) quyển 17 có Chiêu Hóa Tự Chính Thiền Sư Hành Trạng (昭化寺政禪師行), v.v.
  74. Thế Tôn (世尊): đấng được thế gian tôn kính, hay chỉ cho đấng tối tôn trên thế gian nầy; là một trong 10 danh hiệu của đức Phật. Có nhiều Phạn ngữ dịch chữ Thế Tôn nầy; như loka-nātha (đấng chủ tể của thế gian), loka-jyeṣṭha (đấng tối tôn trên thế gian), lokādhipati (đấng nổi bậc nhất trên thế gian), v.v. Tuy nhiên, các kinh luận sử dụng từ bhagavat nhiều hơn. Từ nầy âm dịch là Bà Già Bà (婆迦婆), Bà Nga Phạ Đế (誐嚩帝), Bà Già Phạm (婆伽梵), Bạc Già Phạm (伽梵); ngoài ý dịch là Thế Tôn, còn có nghĩa là hữu đức (có đủ đức hạnh), hữu danh thanh (có tiếng tăm); trong đó nghĩa Thế Tôn là dễ hiểu nhất, nên từ xưa nay dịch giả vẫn thường lấy ý nầy để chuyển dịch. Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 2 có câu: “Thế Tôn vị ly Đâu Suất dĩ giáng vương cung, vị xuất mẫu thai độ nhân dĩ tất (世尊未離兜率已降王宮、未出母胎度人已畢, Thế Tôn chưa rời Đâu Suất đã xuống vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ mà độ người đã xong).” Hay trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 23 lại có đoạn: “Thế Tôn tại Pháp Hoa Hội thượng, chỉ độ đắc nhất cá nữ tử thành Phật, Niết Bàn Hội thượng diệc chỉ độ đắc nhất cá Quảng Ngạch đồ nhi thành Phật (世尊在法華會上、只度得一箇女子成佛、涅槃會上亦只度得一箇廣額屠兒成佛, Thế Tôn ở trên Hội Pháp Hoa chỉ độ được một người nữ thành Phật, trên Hội Niết Bàn cũng chỉ độ được một người đồ tể Quảng Ngạch thành Phật).”
  75. Niêm hoa (拈花、拈華): đưa cành hoa lên. Từ nầy thường đi theo cụm từ niêm hoa vi tiếu (拈花微笑, đưa cành hoa và mĩm miệng cười); như trong Liên Đăng Hội Yếu (聯燈會要, Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1557) quyển 1 có ghi rõ điển tích rằng: “Thế Tôn tại Linh Sơn Hội thượng, niêm hoa thị chúng, chúng giai mặc nhiên, duy Ca Diếp phá nhan vi tiếu. Thế Tôn vân: ‘Ngô hữu Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, phú chúc Ma Ha Ca Diếp’ (世尊在靈山會上、拈華示眾、眾皆默然、唯迦葉破顏微笑、世尊云、吾有正法眼藏、涅槃妙心、實相無相、微妙法門、不立文字、敎外別傳、付囑摩訶迦葉, đức Thế Tôn trên Hội Linh Sơn, đưa hoa ra dạy chúng, đại chúng đều im lặng, chỉ có Ca Diếp chuyển mặt mỉm cười. Thế Tôn bảo rằng: ‘Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng, tâm vi diệu Niết Bàn, thật tướng không tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập cước trên chữ nghĩa, truyền riêng ngoài giáo lệ, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp’).” Gọi cho đủ là niêm hoa thuấn mục phá nhan vi tiếu (拈華瞬目破顏微笑, đưa hoa ra, trong chớp mắt thì chuyển mặt mỉm cười). Từ thời nhà Tống trở đi, trong Thiền Tông rất thịnh hành câu chuyện nầy, vốn căn cứ vào Phẩm Phạm Vương Quyết Nghi (梵王決疑品) thứ 2 của Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經, Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 26), cũng như nương vào thuyết cho rằng Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) là Sơ Tổ của Thiền Tông Tây Trúc. Tuy nhiên, thuyết niêm hoa vi tiếu nầy vẫn còn nhiều vấn đề khả nghi, chưa giải quyết rõ. Còn sự kiện Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp thọ nhận phó chúc chánh pháp thì được nêu rõ trong Bắc Bản Niết Bàn Kinh (北本涅槃經) quyển 2. Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 6 có câu rằng: “Niêm hoa ngã Phật tại Linh Sơn, Ca Diếp Đầu Đà hốt phá nhan, kim khẩu mật ngôn thân phú chúc, bất duy thiên thượng dữ nhân gian (拈花我佛在靈山、迦葉頭陀忽破顏、金口密言親付囑、不唯天上與人間, đưa hoa đức Phật tại Linh Sơn, Đầu Đà Ca Diếp chợt hiểu rạng, lời vàng mật ngôn nay phú chúc, đâu chỉ trên Trời với nhân gian).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 2 lại có câu: “Thế Tôn phi thử nhãn, bất năng biện Ca Diếp chi nhất tiếu; Ca Diếp phi thử nhãn, bất năng khế Thế Tôn chi niêm hoa (世尊非此眼、不能辨迦葉之一笑、迦葉非此眼、不能契世尊之拈花, Thế Tôn không có con mắt nầy, chẳng thể nào hiểu được nụ cười của Ca Diếp; Ca Diếp không có con mắt nầy, chẳng thể nào lãnh hội được Thế Tôn đưa hoa ra).” Trong Thiền Môn có bài Tán Tổ Sư rằng: “Niêm hoa ngộ chỉ, Tổ đạo sơ hưng, miên diên tứ thất diễn chơn thừa, lục đại viễn truyền đăng, dịch diệp tương thừa, chánh pháp vĩnh xương minh (拈花悟旨、祖道初興、緜延四七演眞乘、六代遠傳燈、奕葉相承、正法永昌明, đưa hoa ngộ ý, Tổ đạo hưng long, dài lâu hai tám diễn chơn thừa, sáu đời xa truyền đăng, nối dõi kế thừa, chánh pháp mãi rạng ngời).”
  76. Cam Lộ (s: amta, p: amata, 甘露): hay Cam Lộ; âm dịch là A Mật Rị Đa (阿密哩多), A Mật Lật Đa (阿蜜), ý dịch là Bất Tử (不死, không chết), Bất Tử Dịch (不死液, chất dịch bất tử), Thiên Tửu (天酒, rượu trời), là loại thuốc thần diệu bất tử, rượu linh trên trời. Trong kinh Phệ Đà (Veda) có nói rằng Rượu Tô Ma (Soma) là loại do các vị thần thường hay uống, khi uống nó vào có thể không già, không chết, vị của nó ngọt như mật, cho nên gọi là Cam Lộ. Người ta còn lấy Cam Lộ để ví cho pháp vị nhiệm mầu của Phật pháp, có thể trưởng dưỡng thân tâm của chúng sanh. Trong Mật Giáo gọi nước quán đảnh của hai bộ Bất Nhị Chơn Ngôn là Bất Tử Cam Lộ (不死甘露). Trong Chú Duy Ma Kinh (注維摩經, Taishō 38, 395) quyển 7 có đoạn rằng: “Chư Thiên dĩ chủng chủng danh dược trữ hải trung, dĩ bảo sơn ma chi, linh thành Cam Lộ, thực chi đắc tiên, danh bất tử dược (諸天以種種名藥著海中、以寶山摩之、令成甘露、食之得仙、名不死藥, các vị Trời dùng nhiều loại thuốc hay đỗ vào trong biển, lấy núi báu mài với thuốc ấy, khiến thành Cam Lộ, ăn nó vào thành tiên, gọi là thuốc bất tử)”, hay “Thiên thực vi Cam Lộ vị dã, thực chi trường thọ, toại hiệu vi bất tử thực dã (天食爲甘露味也、食之長壽、遂號爲不死食也, thức ăn của trời có vị Cam Lộ, ăn vào thì sống lâu, ấy mới gọi là thức ăn bất tử)”. Ngoài ra, trong Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經, Taishō 12, 271) quyển thượng cũng có cho biết rằng: “Bát công đức thủy, trạm nhiên doanh mãn, thanh tịnh hương khiết, vị như Cam Lộ (八功德水、湛然盈滿、清淨香潔、味如甘露, nước có tám thứ công đức vốn vắng lặng, đầy đủ, trong sạch, thơm tinh khiết, mùi vị của nó như Cam Lộ).” Tại Giang Thiên Thiền Tự (江天禪寺) ở Trấn Giang (鎭江), Giang Tô (江蘇), Trung Quốc có 2 câu đối tương truyền do Hoàng Đế Càn Long (乾隆, tại vị 1735-1795) ban tặng là: “Cam Lộ thường lưu công đức hải, hương vân diêu ánh Phổ Đà Sơn (甘露常流功德海、香雲遙映普陀山, Cam Lộ thường chảy công đức biển, mây hương xa sáng Phổ Đà Sơn).” Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毘尼日用切要, Taishō No. 1115) quyển 1 có bài kệ Tẩy Bát (洗鉢, Rửa Chén) có liên quan đến Cam Lộ như: “Dĩ thử tẩy bát thủy, như thiên Cam Lộ vị, thí dữ chư quỷ thần, tất giai hoạch bão mãn. Án, ma hưu ra tất tá ha (以此洗鉢水、如天甘露味、施與諸鬼神、悉皆獲飽滿、唵、摩休囉悉莎訶, lấy nước rửa bát nầy, như vị Cam Lộ trời, ban cho các quỷ thần, tất đều được no đủ. Án, ma hưu ra tất tá ha).”
  77. Phạm vũ (梵宇): hay Phạm cung (梵宮), Phạm sát (梵刹), nghĩa là chùa, tự viện Phật Giáo. Phạm hay Phạn (s: brahman, ) nghĩa là tịch tĩnh, thanh tịnh, ly dục; cho nên nơi tịch tĩnh dành cho các vị xuất gia tu hành thanh tịnh, ly dục, được gọi là Phạm vũ, Phạm cung hay Phạm sát. Như trong Tục Thanh Lương Truyện (續清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2100) quyển Hạ có đoạn: “Quyến thuộc vạn nhân chi thường tại, kim sắc thế giới, Thiên Long Bát Bộ chi đồng cư, khấu Phạm vũ dĩ tán minh, kí đạo sư chi chứng sát (眷屬萬人之常在、金色世界、天龍八部之同居、叩梵宇以贊明、冀導師之證察, quyến thuộc vạn người vẫn còn đó, thế giới sắc vàng, Trời Rồng Tám Bộ cùng sống chung, gõ cửa Thiền để tán dương, mong đạo sư thầm chứng giám).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 14, phần Khởi Kiến Hoa Nghiêm Các Sớ (起建華嚴閣疏), có câu: “Thánh Hưng Đường thành dĩ tráng thử phương chi phong thái, Hoa Nghiêm Các tựu trùng tăng Phạm vũ chi quang huy, bất duy tái chỉnh ư cao môn, nhưng sử nhất tân ư đại giáo (聖興堂成已壯此方之風彩、華嚴閣就重增梵宇之光輝、不惟再整於高門、仍使一新於大敎, Nhà Thánh Hưng thành hoành tráng phương nầy bao phong thái, Gác Hoa Nghiêm lại tăng thêm tự viện rực hào quang, không chỉ chỉnh đốn lại môn phong, còn giúp cách tân cho giáo pháp).” Trong bài Vịnh Hà Trung Tự Thi (詠河中寺詩) của cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事) do Tổ Thạch Liêm (石濂, 1633-1702, tức Thích Đại Sán [釋大汕]) sáng tác có đoạn: “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong (綠柳垂垂隱梵宮、鐘聲迢遞滿河風, nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông)”; hay tả cảnh Chùa Linh Mụ (靈姥寺) ở cố đô Huế như “Phạm vương cung khuyết Nguyễn vương khai, ngọc điện châu môn sanh lục đài (梵王宮闕阮王開、玉殿朱門生綠苔, chùa xưa cung gác chúa Nguyễn khai, điện ngọc lầu son phủ rêu dài).”
  78. Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身): tên gọi một trong 3 thân của Phật, gồm Pháp Thân, Báo Thân (報身) và Ứng Thân (應身). Với ý nghĩa là thân thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình, đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như, còn được gọi là Pháp Thân Phật, Pháp Tánh Thân, Tự Tánh Thân, Như Như Phật, Như Như Thân, Đệ Nhất Thân, v.v. Đây là nhân cách hóa Phật tánh, tượng trưng cho Phật pháp tuyệt đối, chân lý không nơi đâu mà không hiện hữu, bao hàm khắp tất cả mọi nơi. Đức Phật là đấng giác ngộ, nên Pháp Thân là Giác Tánh (覺性, tánh giác ngộ), Báo Thân là Giác Tướng (覺相, tướng giác ngộ) và Ứng Thân là Giác Dụng (覺用, sự diệu dụng của giác ngộ). Lại nữa, Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) có lập ra Tam Pháp Thân (三法身, ba loại Pháp Thân), gồm Pháp Hóa Sanh Thân (法化生身), Ngũ Phần Pháp Thân (五分法身) và Thật Tướng Pháp Thân (實相法身). Pháp Hóa Sanh Thân là hóa thân Phật do pháp tánh hóa hiện; Ngũ Phần Pháp Thân là thân thể có 5 phần công đức như Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến. Thật Tướng Pháp Thân là thật tướng của các pháp vốn có tánh Không. Ngoài ra, cũng có Tam Pháp Thân do Thiên Thai Tông lập ra, gồm Không Pháp Thân (空法身, Pháp Thân của Tiểu Thừa), Tức Giả Pháp Thân (卽假法身, Pháp Thân của Đại Thừa Biệt Giáo) và Tức Trung Pháp Thân (卽中法身, Pháp Thân của Đại Thừa Viên Giáo). Như trong Niệm Phật Khởi Duyên Di Đà Quán Kệ Trực Giải (念佛起緣彌陀觀偈, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1195) có giải thích về Pháp Thân rằng: “Pháp Thân giả, tức Như Lai Tạng Đại Niết Bàn thể, sanh diệt tâm diệt, chơn như tâm hiện, tức danh Pháp Thân; thử thân vô độ khả lai, vô độ khả khứ, bổn Pháp Giới Thân, châu biến nhất thiết (法身者、卽如來藏大涅槃體生滅心滅、眞如心現、卽名法身此身無土可來無土可去本法界身周遍一切, Pháp Thân tức là thể của Như Lai Tạng Đại Niết Bàn, tâm sanh diệt mà diệt, thì tâm chơn như hiển hiện, tức gọi là Pháp Thân; thân nầy không quốc độ nào có thể đến, không quốc độ nào có thể đi, vốn là thân của Pháp Giới, biến khắp tất cả).”
  79. Văn bia hiện tồn tại tháp của Hòa Thượng Vĩnh Gia lại ghi là: “Hoàng Triều Khải Định Mậu Ngọ niên mạnh Hạ Như Lai Thành Đạo nhật (皇朝啟定戊午年孟夏如來成道日, ngày đức Như Lai Thành Đạo [mồng 8 tháng Chạp], đầu Hạ, năm Mậu Ngọ [1918] triều vua Khải Định).” Như vậy, nếu so với thông tin ghi trong bản Công Văn Thủ Bút Của Tổ Giác Tiên thì có mấy điểm sai khác: (1) Năm soạn bản văn bia là Mậu Ngọ (1918, Khải Định thứ 3), chứ không phải là Kỷ Mùi (1919, Khải Định thứ 4). (2) Mạnh Hạ (đầu Hạ, tháng 4 âm lịch), ngày Như Lai Thành Đạo là mồng 8 tháng Chạp. Nếu xét về thời gian tính thì có mâu thuẫn lẫn nhau, không thống nhất. Và trong bản Công Văn Thủ Bút Của Tổ Giác Tiên có trùng khớp nội dung “ngày Thành Đạo của đức Phật (hay Như Lai).” Thế thì, bản văn bia nầy có thể được soạn vào dịp ngày Thành Đạo của đức Phật (mồng 8 tháng Chạp); nhưng chưa rõ là năm nào, hoặc năm Mậu Ngọ (1918) hay Kỷ Mùi (1919). Cũng có thể là mồng 8 tháng Chạp năm 1919, vì Ngài Vĩnh Gia viên tịch vào ngày 20 tháng 3 cùng năm nầy. Tuy nhiên, niên đại Kỷ Mùi (1919) được ghi trong bản Công Văn Thủ Bút Của Tổ Giác Tiên cũng có ý nghĩa; vì bản nầy là do chính thủ bút của Hòa Thượng Giác Tiên (覺先, 1880-1936), người sáng lập ra An Nam Phật Học Hội tại Trung Phần, đã từng thọ giới tại Đại Giới Đàn tổ chức ở Chùa Phước Lâm do Ngài Vĩnh Gia làm Đàn Đầu Hòa Thượng. Bản văn bia của Ngài Vĩnh Gia vốn do Hòa Thượng Huệ [Tuệ] Pháp (慧法, 1871-1927), Chùa Thiên Hưng Huế, biên soạn. Hòa Thượng là giáo thọ của Hòa Thượng Giác Tiên cũng như đệ tử của Ngài; nên không có lý do gì Hòa Thượng Giác Tiên lại ghi sai niên đại được.
  80. Xuân Kinh (春京): tên gọi tắt của kinh đô Phú Xuân (富春). Năm 1626 (Bính Dần, niên hiệu Vĩnh Tộ [永祚] thứ 8 nhà Hậu Lê), để chuẩn bị cho việc chống lại quân Trịnh, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (阮福源, tại vị 1614-1635) dời dinh đến làng Phước Yên (Phúc An) thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên và đổi Dinh làm Phủ. Năm 1636 (Bính Tý, niên hiệu Dương Hòa [陽和] thứ 2 nhà Hậu Lê), Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (阮福瀾, tại vị 1635 - 1648) chọn làng Kim Long, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, làm nơi đặt Phủ. Năm 1687 (Đinh Mão, niên hiệu Chánh Hòa [正和] thứ 8 nhà Hậu Lê), Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Trăn (阮福溱, tại vị 1687-1691), dời Phủ chúa về làng Phú Xuân, thuộc huyện Hương Trà và năm 1712 (Nhâm Thìn, niên hiệu Vĩnh Thạnh thứ 8 nhà Hậu Lê), Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (阮福淍, tại vị 1691-1725) dời phủ về làng Bác Vọng, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên làm nơi đặt Phủ mới. Đến khi Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊, tại vị 1738-1765) lên cầm quyền năm 1738 (Mậu Ngọ) thì phủ chúa mới trở về lại vị trí Phú Xuân và yên vị từ đó cho đến ngày thất thủ về tay quân họ Trịnh. Trong thời kỳ Tây Sơn, Phú Xuân-Huế luôn là một địa bàn chiến lược được Nguyễn Huệ (阮惠, 1788-1792) vô cùng coi trọng và chọn là nơi đóng đại bản doanh. Năm 1802 (Nhâm Tuất, Gia Long thứ 1), Nguyễn Ánh tiêu diệt Tây Sơn lên ngôi Hoàng Đế lập ra triều Nguyễn và một lần nữa chọn Huế làm kinh đô cho triều đại mới vì nhiều lý do: về mặt lịch sử khi trước đó 9 đời chúa Nguyễn đã chọn đất Phú Xuân làm kinh đô, về địa thế Huế nằm ở trung tâm lãnh thổ Việt Nam thống nhất khi ấy, cũng như về chính trị khi ông lo ngại dân chúng phía Bắc còn thương tiếc triều Lê. Khi chọn Huế làm kinh đô, vua Gia Long (嘉隆, tại vị 1802-1820) đã cho xây dựng dạng kinh đô có tính phòng thủ: xây dựng một loạt tường thành, cung điện, công sở, đồn lũy ở bờ bắc sông Hương như Kinh Thành cùng với các phòng, bộ nha viện trong kinh thành, các công trình phòng thủ quân sự dọc bờ nước sông Hương, sông Hộ Thành và cửa biển Thuận An. Các công trình trên được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống của Huế, kết hợp với kiểu mẫu bố trí từ Trung Quốc và kỹ thuật quân sự, xây tường thành theo lối Vauban từ các nước phương Tây đồng thời tuân thủ theo nguyên tắc địa lý phong thủy phương Đông. Việc xây dựng này kéo dài suốt từ triều Gia Long tới triều vua Minh Mạng (明命, tại vị 1820-1841). Việc xây dựng này kéo dài suốt từ 1802 tới tận 1917 (Đinh Tỵ, Khải Định thứ 2) với một loạt các công trình phục vụ cho công việc triều đình, sinh hoạt, tín ngưỡng giải trí của vua quan như: Lục Bộ Đường, Nội Các, Thái Y Viện, Đô Sát Viện, Khâm Thiên Giám, Thái Miếu, Hưng Miếu, Điện Phụng Tiên, v.v. Ngoài Kinh Thành còn có các công trình phục vụ giáo dục như Văn Miếu, Võ Miếu, Quốc Tử Giám, Trường Thi; ngoại giao như Thương Bạc Viện và giải trí như Hổ Quyền. Cũng trong khoảng thời gian này, Huế đã tự hình thành cho mình một phong cách xây dựng lăng tẩm riêng theo phong cách triết học có sự chi phối của phong thủy địa lý, kết hợp phong cách nhà vườn Huế với phong cách cung đình Huế như ở các khu lăng tẩm tiêu biểu của vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị (紹治, tại vị 1841-1847), Tự Đức (嗣德, tại vị 1847-1883), Dục Đức (育德, tại vị 1883) và Đồng Khánh (同慶, tại vị 1885-1889). Ngoài các công trình trên, giai đoạn này cũng là giai đoạn nhiều chùa quán, đền miếu được xây dựng trùng tu với bốn ngôi Quốc Tự Thiên Mụ (天姥), Giác Hoàng (覺皇), Diệu Đế (妙諦), Thánh Duyên (聖緣) và Quốc Quán Linh Hựu cùng với nhiều chùa chiền đền miếu nhỏ khác. Việc này đã hình thành Thiền Kinh của Phật Giáo Việt Nam thế kỷ thứ 19. Cũng với sự có mặt của hoàng gia, giai đoạn này hàng loạt các công trình phủ đệ được xây dựng mà lúc đỉnh cao có đến 85 phủ. (Theo nguồn wikipedia.org/wiki/Cố_đô_Huế)
  81. Chùa Thiên Hưng (天興寺): chùa nằm ở chân đồi Quảng Tế, thuộc ấp Dương Hòa, xã Thủy Xuân, Huế. Chùa do Hòa Thượng Liễu Đạo Chí Tân (了道志辛), đệ tử của ngài Tế Chánh Bổn Giác (濟正本覺) khai sơn vào năm 1825 (Ất Dậu, Minh Mạng [明命] thứ 6). Vị kế thế trụ trì sau này lại giao cho sư cô Thanh Tâm (清心), đệ tử của ngài Hải Thuận Lương Duyên (海順良緣) Chùa Từ Hiếu. Sư cô cùng với các Phật tử của Linh Sơn Phổ (靈山譜) trùng tu năm 1893 (Quý Tỵ, Thành Thái [成泰] thứ 5) và năm 1896 (Bính Thân, Thành Thái thứ 8) thỉnh ngài Huệ Pháp (Tuệ Pháp [慧法]), đệ tử đắc pháp của ngài Hải Thiệu Cương Kỷ (海紹綱紀) ở Chùa Từ Hiếu về làm Tọa Chủ. Từ đó môn đồ tứ chúng đến qui y đông đảo. Chùa Thiên Hưng trở thành một đạo tràng nổi tiếng. Ngay cả Hòa Thượng Giác Tiên (覺先) cũng dẫn tăng chúng đến nghe pháp. Năm 1919 (Kỷ Mùi, Khải Định [啟定] thứ 4), ngài Huệ Pháp được triều đình thỉnh làm Trú Trì Chùa Diệu Đế và năm 1926 (Bính Dần, Bảo Đại [保大] thứ 1) làm Tăng Cang. Ngài viên tịch vào năm 1927 (Đinh Mão, Bảo Đại thứ 2). Cũng năm này Hòa Thượng Quảng Tu (廣修) trùng tu chùa nhờ vào tiền cúng dường của Hoàng Thái Hậu Xương Minh (昌明). Năm 1935 (Ất Hợi, Bảo Đại thứ 10), chùa được ban biển sắc tứ và ngài Quảng Tu được ban giới đao độ điệp. Năm 1962 (Nhâm Dần), Hòa Thượng Chánh Nguyên, Trú Trì chùa, tổ chức trùng kiến, sắp xếp các công trình theo chữ “đinh ()”. Chùa còn nhiều tượng Phật bằng gỗ xưa rất đẹp. Năm 2003 (Quý Mùi), chùa được trùng tu nhưng vẫn giữ kiến trúc bằng gỗ như trước. (Theo Dư Địa Chí Thừa Thiên Huế. Võ Văn Tường: 500 Danh Lam Việt Nam. Nhà Xuất Bản Thông Tấn, 2008, tr. 155)
  82. Hòa Thượng Thích Tuệ [Huệ] Pháp (釋慧法, 1871-1927), Chùa Thiên Hưng: Ngài người họ Đinh, thế danh Lực, chữ lót là Văn; sinh năm 1871 (Tân Mùi, Tự Đức thứ 24) tại làng Trung Kiên, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, là bậc đồng chơn nhập đạo. Ngài xuất gia tại Chùa Từ Hiếu, thờ Đại Lão Hòa Thượng Cương Kỷ (綱紀) làm thầy. Năm 21 tuổi, Ngài thọ Sa Di giới, được Bổn Sư ban cho Pháp danh Thanh Tú (清秀), Pháp tự là Phong Nhiêu (豐饒). Vào năm Giáp Ngọ (1894, Thành Thái thứ 6), Ngài được thọ Cụ Túc giới với Đại Sư Hải Thuận (海順) tại Giới Đàn Báo Quốc. Năm sau, Ất Mùi (1895, Thành Thái thứ 7), Ngài đắc Pháp với Hòa Thượng Hải Thiệu Cương Kỷ, được Pháp hiệu là Huệ Pháp Đại Sư. Năm sau nữa, Bính Thân (1896), toàn bộ Phật Giáo đồ trong Linh Sơn Phổ (靈山譜) ở Chùa Thiên Hưng đến Chùa Từ Hiếu, lễ Đại Lão Hòa Thượng Cương Kỷ, xin thỉnh Đại Sư về làm Tọa Chủ Chùa Thiên Hưng khi ấy vừa mới đại trùng kiến xong. Từ khi Ngài Huệ Pháp trở về chùa, môn đồ tứ chúng quy y đông đảo. Đại Sư lại tụ họp học Tăng tịnh chúng trong Sơn Môn để giảng các Luật Tứ Phần, Phạm Võng; giảng các kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, v.v., làm cho Chùa Thiên Hưng trở thành một Đạo Tràng có uy tín. Ngài Giác Tiên đem đồ chúng ra dự nghe lớp giảng này. Vào năm Canh Tuất (1910, Duy Tân thứ 4), Chùa Phước Lâm tại tỉnh Quảng Nam thỉnh Ngài làm Đệ Tam Tôn Chứng ở Đại Giới Đàn tại chùa này. Năm Tân Hợi (1911, Duy Tân thứ 5), Ngài cùng tứ chúng trong Linh Sơn Phổ đại trùng tu Chùa Thiên Hưng. Đến năm Kỷ Mùi (1919, Khải Định thứ 4), Đại Sư được triều đình ban Giới Đao Độ Điệp và sắc chuẩn làm Trú Trì Chùa Diệu Đế. Năm Giáp Tý (1924, Khải Định thứ 9), Chùa Từ Hiếu mở giới đàn, Ngài làm Yết Ma Giáo Thọ. Hai năm sau (1926), Ngài được cử sung chức Tăng Cang Chùa Diệu Đế. Nét chuyên biệt của Đạo Tràng Thiên Hưng là Hòa Thượng Huệ Pháp dạy chư Tăng Ni sinh về Luận Chỉ Quán của phái Thiên Thai; nhưng đối với tín đồ, Ngài lại khuyên nên tu hành theo lối Tịnh Độ niệm Phật A Di Đà. Ngài viên tịch vào sáng mồng 1 Tết Nguyên Đán năm Đinh Mão (1927, Bảo Đại thứ 2); hưởng thọ được 56 tuổi đời, xuất gia được 34 năm, có 33 Hạ lạp. Câu nói Ngài dặn lại đệ tử là Ngài Quảng Tu: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”; có thể cũng là câu nói áp dụng được cho toàn thể tín đồ Phật giáo Huế vậy. Trong văn bia Thiên Hưng Tự Giáo Thọ Đại Sư Bi Minh, Viên Thành Thượng Nhân còn ghi câu của Huệ Pháp Đại Sư dặn lại tín đồ: “Nhữ đẳng tại thế thủ chí phụng đạo, thượng hành hạ hóa, sử tuệ mạng bất tuyệt (汝等在世取志奉道、上行下化、使慧命不絶).” Nghĩa là: “Các ngươi ở lại với đời hãy giữ cái chí bảo vệ chánh pháp, bằng cách nhìn lên thì phải lo tu tâm, nhìn xuống phải hóa độ mọi loài chúng sanh, làm sao cho tuệ mạng của Phật pháp trường tồn mãi mãi.” (Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế, tr. 413~416). Trong bộ Hàm Long Sơn Chí (山志, ghi năm Kỷ Hợi [1899, Thành Thái 11]) quyển 1, phần Từ Hiếu Tự Yết Ma Hòa Thượng Pháp Từ (慈孝寺羯磨和尚法嗣, pháp từ của Hòa Thượng Yết Ma [tức Ngài Hải Thiệu Cương Kỷ] Chùa Từ Hiếu), có đoạn ghi rõ bài kệ phú pháp như sau: Phú Thanh Tú tự Phong Nhiêu Huệ Pháp Đại Sư kệ viết: ‘Phong Nhiêu thọ pháp truyền, nội ngoại bổn như nhiên, phò trì chư Phật tổ, kế thế vĩnh miên miên’ (清秀字豐饒慧法大師偈曰、豐饒授法傳、內外本如然、扶持諸佛祖、繼世永綿綿, trao cho Đại Sư Huệ Pháp, hiệu Thanh Tú, tự Phong Nhiêu bài kệ rằng: ‘Phong Nhiêu nhận pháp truyền, nội ngoại vốn như nhiên, hộ trì chư Phật tổ, nối tiếp mãi liên miên’).” Về bài kệ nầy, tác phẩm Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam Thế Kỷ XX, tập II (2002, tr. 55), của Thích Đồng Bổn, lại ghi là “kế thế vĩnh niên niên.Tiếp theo, ở trang 58 của tác phẩm nầy lại có thông tin khác không chính xác là: “Năm Canh Tuất, Duy Tân thứ 4 (1910), Ngài được cung thỉnh vào Quảng Nam khai Đại Giới Đàn ở Chùa Phúc Lâm với ngôi vị Đệ Tam Tôn Chứng.” Căn cứ vào bản Hộ Giới Điệp (護戒牒) của Hòa Thượng Giác Tiên, bảy vị Tôn Chứng tại Đại Giới Đàn nầy là: (1) Đại Sư Tâm Tĩnh (心靜), (2) Đại Sư Huệ Giác (慧覺), (3) Đại Sư Huệ Minh (慧明), (4) Đại Sư Phước Điền (福田), (5) Đại Sư Hoằng Tĩnh (弘靜), (6) Đại Sư Huệ Pháp (慧法), và (7) Đại Sư Hoằng Chương (弘章). Như vậy, đương thời Ngài được cung thỉnh làm Đệ Lục Tôn Chứng, chứ không phải là Đệ Tam Tôn Chứng. Nếu xét về thứ tự, Ngài là đệ tử thứ 19 của Ngài Hải Thiệu Cương Kỷ. Trước Ngài có các vị (1) Thanh Phước Chánh Lương (清福正良); (2) Thanh Quang Huệ Đăng (清光慧燈); (3) Thanh Mỹ Dụ Côn (清美裕昆); (4) Thanh Đức Huệ Nghiêm (清德慧嚴); (5) Thanh Lợi Hiền Lương (清利賢良); (6) Thanh Xán Huệ Khánh (清燦慧慶); (7) Thanh Hy Nguyên Cát (清熙元吉); (8) Thanh Chơn Viên Giác (清眞圓覺); (9) Thanh Hợp Từ Vân (清合慈雲); (10) Thanh Trường Minh Chí (清長銘鋕); (11) Thanh Minh Đức Nhuận (清明德潤); (12) Thanh Bạch Châu Lâm (清白珠林); (13) Thanh Tường Huệ Chiếu (清祥慧炤); (14) Thanh Thái (清泰), tự Chánh Sắc (正色), Huệ Minh (慧明); (15) Thanh Trừng (清澄), tự Tự Toản (緒纂), Huệ Đạt (慧達); (16) Thanh Giáo (清敎), tự Từ Hàng (慈航), Huệ Quang (慧光); (17) Thanh Kỳ (清淇) tự Duy Trì (維持), Huệ Khai (慧開); và (18) Thanh Tâm (清心), tự Duy Thận (惟愼), Huệ Lãng (慧朗). Sau Ngài có các vị khác như Thanh Thiệm (清贍), tự Trực Chất (), Huệ Nhật (慧日); Thanh Tánh (清性), tự Lý Thiệm (), Huệ Điểm (慧點); Thanh Bổn (清本), tự Long Thi (隆詩), Huệ Tuấn (慧峻); Thanh Lý (), tự Chánh Tâm (正心), Huệ Nguyên (慧源); Thanh Nghiệm (清騐), tự Duy Cần (維勤), Huệ Lực (慧力); Thanh Phước (清福), tự Vĩnh Gia (永嘉), Huệ Khai (慧開); Thanh Phước (清福), tự Hưng Long (興隆), Huệ Thành (慧誠); Thanh Kiệm (清儉), tự Huy Tuần (輝珣), Huệ Thông (慧通); Thanh Trí (清智), tự Hải Luận (海論), Huệ Giác (慧覺); Thanh Bình (清平), tự Chánh Chất (正質), Huệ Linh (慧靈); Thanh Nguyên (清源), tự Phổ Hiệp (溥洽), Huệ Sanh (慧生), v.v.

Văn bia hiện tồn tại tháp của Hòa Thượng Vĩnh Gia ghi những dòng chữ cuối cùng là: “Kinh Binh Tả Tam Vệ Chưởng Vệ, đệ tử Lê Viết Nghiêm Pháp danh Chơn Chỉnh tự Đạo Túc bái chí. Xuân Kinh Thiên Hưng Tự Thích Huệ Pháp bái chính. Từ pháp Phổ Minh Phổ Truyền đồng môn nhân bái lập (京兵左三衛掌衛、弟子黎曰嚴法名眞整字道肅拜識、春京天興寺釋慧法拜正、嗣法普明普傳仝門人拜立, Kinh đô Binh Tả Tam Vệ Chưởng Vệ, đệ tử Lê Viết Nghiêm Pháp danh Chơn Chỉnh tự Đạo Túc kính ghi. Thích Huệ Pháp Chùa Thiên Hưng Kinh Đô Huế kính chỉnh sửa. [Đệ tử] nối dòng pháp Phổ Minh, Phổ Truyền cùng môn đồ cúi lạy dựng bia).” Như vậy, người soạn văn bia nầy là ông Lê Viết Nghiêm, làm chức Binh Tả Tam Vệ Chưởng Vệ ở kinh đô. Hòa Thượng Thích Huệ Pháp Chùa Thiên Hưng là người có trách nhiệm chỉnh sửa lại nội dung văn bia; chứ không phải như trong bản Công Văn Thủ Bút Của Tổ Giác Tiên cho biết rằng Ngài là người soạn ra văn bia nầy.