33. Các Lá Phan Đàn Tràng

 

Nguyên văn:

 

大長旛   黃色

南無道塲敎主本師釋迦牟尼如來應供正徧知明行足善逝世間解無上士調御丈夫天人師佛世尊、南無十方盡虛空徧法界微塵刹土中過現未來佛法僧三寶光降道塲證明功德。

 

左鑒門旛   青色

天蒼蒼恭迎十方三界諸天金剛密跡衛法神王天八部婆羅門仙一切聖衆光降道塲證明功德。

 

右鑒門旛   

黃黃恭迎三乘聖哲四府王官十殿冥王酆都哲衆三界善神十方聖衆光降道塲證明功德。

 

孤魂旛  赤色

一心召請法界三十六部河沙男女孤魂等衆遠及他方、近於當境、寃魂枉死、男女傷亡、將帥遊魂、陣亡兵卒、客商丐者、刑戮囚人、市井江湖、路途喪命、軍民士卒、府縣屯營、或被刀兵、或遭饑歲、或蛇傷而失命、或虎咬以喪身、傷亡橫死之流、饑渇孤魂之衆、來受無遮甘露法味。

 

Phiên âm:

 

Đại Trường Phan (do hoàng sắc)

Nam Mô Đạo Tràng Giáo Chủ Bổn Sư1 Thích Ca Mâu Ni2 Như Lai, Ứng Cúng,3 Chánh Biến Tri,4Minh Hạnh Túc,5 Thiện Thệ,6 Thế Gian Giải,7 Vô Thượng Sĩ,8 Điều Ngự Trượng Phu,9 Thiên Nhân Sư,10 Phật,11 Thế Tôn. Nam Mô12 Thập Phương Tận Hư Không Biến Pháp Giới13 Vi Trần14 Sát Độ15 Trung Quá Hiện Vị Lai Phật Pháp Tăng Tam Bảo quang giáng đạo tràng chứng minh công đức.

 

Tả Giám Môn Phan (thanh sắc)

Án. Thiên thương thương cung nghênh Thập Phương Tam Giới Chư Thiên Kim Cang Mật Tích16Vệ Pháp Thần Vương Thiên Long Bát Bộ17 Bà La Môn Tiên18 nhất thiết Thánh chúng19 quang giáng đạo tràng chứng minh công đức.20

 

Hữu Giám Môn Phan (hoàng sắc)

Án. Địa hoàng hoàng cung nghênh Tam Thừa Thánh Triết21 Tứ Phủ Vương Quan22 Thập Điện Minh Vương23 Phong Đô24 Triết Chúng Tam Giới Thiện Thần Thập Phương Thánh Chúng quang giáng đạo tràng chứng minh công đức.

 

Cô Hồn Phan (xích sắc)

Án. Nhất tâm triệu thỉnh pháp giới Tam Thập Lục Bộ hà sa nam nữ cô hồn đẳng chúng, viễn cập tha phương, cận ư đương cảnh, oan hồn uổng tử, nam nữ thương vong, tướng soái du hồn, trận vong binh tốt, khách thương cái giả, hình lục tù nhân, thị tỉnh giang hồ, lộ đồ táng mạng, quân dân sĩ tốt, phủ huyện đồn dinh, hoặc bị đao binh, hoặc tao cơ tuế, hoặc xà thương nhi thất mạng, hoặc hổ giảo dĩ táng thân, thương vong hoành tử25 chi lưu, cơ khát cô hồn chi chúng, lai thọ Vô Già26 Cam Lộ pháp vị.

 

Dịch nghĩa:

 

Lá Phan Dài (màu vàng)

Kính lễ Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Giáo Chủ Đạo Tràng, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thầy Trời Người, Phật, Thế Tôn. Kính lễ Mười Phương Khắp Hư Không Cùng Pháp Giới Vi Trần, Trong Các Quốc Độ Quá Khứ Hiện Tại Tương Lai Phật Pháp Tăng Tam Bảo, giáng đến đạo tràng chứng minh công đức.

 

Lá Phan Cửa Giám Môn Bên Trái (màu xanh)

Án. Trời xanh xanh, cung nghinh Mười Phương Ba Cõi chư thiên Kim Cang Mật Tích, Hộ Pháp Thần Vương, Tám Bộ Trời Rồng, Bà La Môn Tiên, hết thảy Thánh chúng giáng đến đạo tràng chứng minh công đức.

 

Lá Phan Cửa Giám Môn Bên Phải (màu vàng)

Án. Đất vàng vàng, cung nghinh Ba Thừa Thánh Triết, Bốn Phủ Vương Quan, Mười Điện Minh Vương, Phong Đô Chúng Triết, Ba Cõi Thiện Thần, Mười Phương Thánh Chúng, giáng đến đạo tràng chứng minh công đức.

 

Lá Phan Cô Hồn (màu đỏ)

Án. Một lòng triệu thỉnh pháp giới Ba Mươi Sáu Bộ, vô lượng nam nữ, cô hồn các chúng, xa khắp các phương, gần ở chốn nầy, oan hồn uổng tử, nam nữ bị thương tử vong, tướng soái linh hồn lang thang, chết ngoài trận mạc binh sĩ, khách buôn ăn xin, hình phạt bị giết tù nhân, chợ búa sông hồ, giữa đường mất mạng, quân dân binh sĩ, phủ huyện đồn dinh, hoặc bị đao binh, hoặc gặp đói khát, hoặc rắn độc mà mất mạng, hoặc cọp cắn mà tan thân, thương vong chết ngang hạng người, đói khát cô hồn các chúng, đến thọ vị pháp Cam Lộ Vô Già.

 

Chú thích:

  1. Bổn sư, bản sư (本師): Phật Giáo lấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm vị thầy dạy căn bản, nên gọi là Bổn Sư. Như trong bài Họa Tây Phương Tránh Ký (畫西方幀記) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có đoạn: “Ngã bổn sư Thích Ca Như Lai ngôn, tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới hiệu Cực Lạc(我本師釋迦如來言從是西方遇十萬億佛土有世界號極樂, Đức Thích Ca Như Lai Bổn Sư của chúng ta dạy rằng, từ phương Tây nầy qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới hiệu là Cực Lạc).” Ngoài ra, từ nầy còn có nghĩa là vị thầy dạy dỗ, truyền trao học vấn. Như trong Sử Ký (史記) quyển 80, Lạc Nghị Liệt Truyện (樂毅列傳) thứ 20, có đoạn: “Lạc Thần Công học Hoàng Đế, Lão Tử, kỳ bổn sư hiệu viết Hà Thượng Trượng Nhân (樂臣公學黃帝老子其本師號曰河上丈人, Lạc Thần Công học Hoàng Đế, Lão Tử, thầy dạy của ông là Hà Thượng Trượng Nhân).” Hay trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 37, Hoàn Vinh Đinh Hồng Liệt Truyện (桓榮丁鴻列傳) cũng có đoạn rằng: “Hà Thang vi Hổ Bôn Trung Lang Tướng, dĩ Thượng Thư thọ Thái Tử; Thế Tổ Tùng Dung vấn Thang bổn sư vi thùy (何湯爲虎賁中郎將以尚書授太子世祖從容問湯本師爲誰, Hà Thang làm Hổ Bôn Trung Lang Tướng, lấy Thượng Thư dạy cho Thái Tử; vua Thế Tổ Tùng Dung hỏi Hà Thang thầy dạy là ai).” Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 2, phần Phật Giáng Đản (佛降誕), lại có đoạn: “Cung ngộ bổn sư Thích Ca Như Lai Đại Hòa Thượng giáng đản lệnh thần, suất Tỳ Kheo chúng, nghiêm bị hương hoa đăng chúc trà quả trân tu, dĩ thân cúng dường (恭遇本師釋迦如來大和尚降誕令辰率比丘眾嚴備香花燈燭茶果珍羞以伸供養, kính gặp lúc tốt bổn sư Đại Hòa Thượng Thích Ca Như Lai đản sanh, chỉ huy chúng Tỳ Kheo, chuẩn bị tinh nghiêm hương hoa, đèn nến, trà, trái cây, món ăn trân quý, để dâng cúng dường).”
  2. Thích Ca Mâu Ni (s: Śākya-muni, p: Sakya-muni, 釋迦牟尼): ý là bậc Thánh nhân xuất thân từ dòng họ Thích Ca; còn gọi là Thích Ca Văn Ni (釋迦文尼), Xa Ca Dạ Mâu Ni (迦夜牟尼), Thích Ca Mâu Nẵng (釋迦牟曩), Thích Ca Văn (釋迦文); gọi tắt là Thích Ca (釋迦), Mâu Ni (牟尼), Văn Ni (文尼); ý dịch là Năng Nhân (能仁), Năng Nhẫn (能忍), Năng Tịch (能寂), Tịch Mặc (寂默), Năng Mãn (能滿), Độ Ốc Tiêu (度沃焦), hay Thích Ca Tịch Tĩnh (釋迦寂靜), Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn (釋迦牟尼世尊), Thích Tôn (釋尊); là đấng Giáo Tổ của Phật Giáo. Nguyên do xưng hiệu của Ngài có thể tìm thấy trong Quán Chư Dị Đạo Phẩm (觀諸異道品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 20, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (根本說一切有部毘奈耶雜事, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 20, A Tỳ Đàm Bát Kiền Độ Luận (阿毘曇八犍度論, Taishō Vol. 26, No. 1543) quyển 30, v.v. Đức Thích Tôn vốn là Thái Tử của vua Tịnh Phạn (s: Śuddhodana, p: Suddhodana, 淨飯) thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛) thuộc miền Bắc Ấn Độ. Thành nầy hiện tại ở vùng phụ cận Tilori-Kot (提羅里克, Đề La Lí Khắc) thuộc phía Nam Nepal (尼泊爾, Ni Bạc Nhĩ), phía Đông Bắc sông Rapti (布提, Lạp Bố Đề). Diện tích tiểu quốc nầy khoảng 320 m2, thuộc vào vương quốc Kiều Tát La (s: Kauśala, Kośalā, p: Kosala, 憍薩羅). Đương thời Bắc Ấn thực hành chế độ Cộng Hòa quý tộc, phân thành 10 bang thành nhỏ, trong đó chọn ra vị lãnh đạo có thế lực nhất, và lúc bấy giờ vua Tịnh Phạn là vị lãnh tụ tối cao. Hoàng hậu Ma Da (s: Māyā, 摩耶), mẫu thân của Đức Phật, là con gái của chủ Thành Thiên Tý (s: Devadaha, 天臂) thuộc bộ tộc Cư Lợi (居利) lân quốc. Trước khi hạ sinh Thái Tử, theo tập tục đương thời, phu nhân phải quay trở về Thành Thiên Tý để chờ ngày lâm bồn, dọc đường khi đang dừng chân nghỉ tại vườn Lâm Tỳ Ni (s, p: Lumbinī, 藍毘尼), ngay dưới gốc cây Vô Ưu (s: aśoka, 無憂), bà hạ sinh Thái Tử. Theo Tu Hành Bản Khởi Kinh (修行本起經, Taishō Vol. 3, No. 184) quyển Thượng, phẩm Giáng Thân (降身品), khi đản sanh, đức Thích Tôn đi bảy bước, đưa tay lên nói rằng: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, Tam Giới giai khổ, ngô đương an chi (天上天下唯我爲尊三界皆苦吾當安之, trên trời dưới đất, chỉ ta trên hết, Ba Cõi là khổ, ta sẽ làm yên).” Ngoài ra, các điển tịch như Vị Tằng Hữu Pháp Kinh (未曾有法經) của Trung A Hàm Kinh (中阿含經, Taishō Vol. 1, No. 26) quyển 8, Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi Kinh (異出菩薩本起經, Taishō Vol. 3, No. 188), phẩm Dục Sanh Thời Tam Thập Nhị Thụy (欲生時三十二瑞品) của Phổ Diệu Kinh (普曜經, Taishō Vol. 3, No. 186) quyển 2, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō Vol. 3, No. 189) quyển 1, Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經, Taishō Vol. 3, No. 191) quyển 3, phẩm Thọ Hạ Đản Sanh (樹下誕生品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 8, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (根本說一切有部毘奈耶雜事, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 20, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 70, v.v., đều có ghi lại nhiều tướng lạ khác nhau khi đức Thích Tôn hạ sanh. Sau khi trở về cung, Thái Tử được đặt cho tên là Tất Đạt Đa (s: Siddhārtha, p: Siddhattha, 悉達多), hay Tát Bà Tất Đạt (s: Sarva-siddhārtha, p: Sabba-siddhattha, 薩婆悉達), Tát Bà Ngạch Tha Tất Đà (s: Sarvārtha-siddha, 薩婆額他悉陀), Tát Bà Hạt Thích Tha Tất Đà (薩婆曷刺他悉陀), Tất Đạt La Tha (悉達羅他), Tất Đạt (悉達); ý dịch là Nhất Thiết Nghĩa Thành (一切義成), Nhất Thiết Sự Thành (一切事成), Tài Cát (財吉), Cát Tài (吉財), Thành Lợi (成利), Nghiệm Sự (驗事), Nghiệm Nghĩa (驗義). Sau khi sanh con được 7 ngày, Hoàng hậu Ma-Da qua đời, Thái Tử được dì Ma Ha Ba Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, 摩訶波闍波提) nuôi dưỡng cho đến khi khôn lớn. Theo Phẩm Tập Học Kỷ Nghệ (習學技藝品) của Phật Bản Hạnh Tập Kinh quyển 11, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự (根本說一切有部毘奈耶破僧事, Taishō Vol. 24, No. 1450) quyển 3, v.v., cho biết rằng thưở thiếu thời Thái Tử từng theo học tập văn chương với Bà La Môn Tỳ Xa Mật Đa (s: Viśvamitra, 毘奢蜜多), học võ nghệ với Sàn Đề Đề Bà (s: Kāntideva, 羼提提婆), hết thảy đều thông hiểu. Khi trưởng thành, Thái Tử kết hôn với Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅), con gái của Thiện Giác Vương (s: Suprabuddha, 善覺王)—thành chủ của Thiên Tý Thành, hạ sanh La Hầu La (s, p: Rāhula, 羅睺羅). Theo phẩm Du Quán (遊觀品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ cho biết rằng Thái Tử từng ra bốn cửa thành dạo chơi, thấy các hình tượng già, bệnh, chết, vị Sa Môn (s: śramaa, p: samaa, 沙門) đạo Ấn, v.v., thâm cảm được nỗi thống khổ cũng như vô thường của kiếp người, bèn dấy khởi ý chí xuất gia tu đạo. Năm lên 29 tuổi (có thuyết cho là 19), nửa đêm Ngài rời khỏi vương cung, tự cởi bỏ áo mão để trở thành Sa Môn. Ban đầu, Thái Tử cầu đạo với tiên nhân Bạt Già Bà (s: Bhārgava, 跋伽婆) của nước Tỳ Xá Ly (s: Vaiśālī, p: Vesālī, 毘舍離), rồi đến thọ giáo với các hiền giả A La La Ca Lam (s: Ārāa-kālāma, 阿羅邏迦藍), Uất Đà Ca La Ma Tử (s: Udraka-rāmaputra, 鬱陀迦羅摩子) ở Thành Vương Xá (s: Rājagha; p: Rājagaha, 王舍城). Cuối cùng, Ngài đến Khổ Hạnh Lâm ở thôn Ưu Lâu Tần La (s: Uruvilvā, 優樓頻羅) thuộc phương Nam thành Già Da (s, p: Gayā, 伽耶) của vương quốc Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), bắt đầu cuộc sống khổ hạnh trong vòng 6 năm, và có 5 người thị giả do vua Tịnh Phạn phái đến cùng tu. Trong thời gian nầy, mỗi ngày Người chỉ ăn một hạt mè, một hột lúa mạch, đến nỗi thân hình khô gầy, tâm thể suy kiệt, nhưng cuối cùng vẫn không thành đạo; nên Người mới ngộ được rằng khổ hạnh không phải là nhân đạt đến đạo quả, bèn rời khỏi khu rừng nầy. Lúc bấy giờ, 5 người cùng tu ngộ nhận rằng Thái Tử thối thất đạo tâm, nên bỏ đi. Thái Tử đến tắm rửa bên dòng sông Ni Liên Thuyền (s: Nairañjanā, 尼連禪), thọ nhận bát sữa cúng dường của cô mục nữ. Sau khi phục hồi thể lực, Người đến dưới cây Tất Bát La (s: pippala, 畢鉢羅) ở thôn Già Da, lấy cỏ Cát Tường trãi thành tòa Kim Cang, ngồi Kiết Già xoay mặt về hướng Đông, thân ngay thẳng chánh niệm, tâm tĩnh lặng mặc chiếu, tư duy về đạo giải thoát. Sau 49 ngày, vào lúc trời hừng sáng ngày mồng 8 tháng 12, Người hoát nhiên đại ngộ, lúc đó là 35 tuổi (có thuyết cho là 32). Do nhân duyên nầy, cây Tất Bát La được gọi là Bồ Đề Thọ (s: bodhivka, 菩提樹). Sự kiện đức Thích Tôn hàng phục ma quân, cho đến thành đạo được ghi lại trong các điển tịch như La Ma Kinh (羅摩經) của Trung A Hàm Kinh quyển 56, Lục Niên Cần Khổ Phẩm (六年勤苦品) và Hàng Ma Phẩm (降魔品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 3, Phật Bản Hạnh Tập Kinh quyển 26~30, Ngũ Phần Luật (五分律, Taishō Vol. 22, No. 1421) quyển 15, v.v. Sau khi thành đạo, đức Phật đến vườn Lộc Dã (s: Mgadāva, p: Migadāya, 鹿野, tức Lộc Uyển), Thành Ba La Nại (s: Vārāasī, p: Bārāasī, 波羅奈), độ cho 5 vị thị giả đã từng cùng tu với Ngài trước đây. Các vị nầy sau trở thành những Tỳ Kheo nổi tiếng là A Nhã Kiều Trần Như (p: Ājñāta-Kauṇḍinya, p: Aññā-Koṇḍañña, 若憍陳如), A Thấp Bà Thị (s: Aśvajit, Aśvaka; p: Assaji, 阿濕婆恃), Bạt Đề (s: Bhadrika, p:Bhaddiya, ), Ma Ha Nam (s, p: Mahānāma, 摩訶男), Bà Sa Ba (s: pa, p: Vappa, 婆沙波, tức Thập Lực Ca Diếp [s: Daśabala-kāśyapa, p: Dasabala-kassapa, 十力迦葉]). Liên quan đến sự tích Đức Phật lần đầu tiên chuyển Pháp Luân, diễn thuyết Tứ Thánh Đế (s: catvāri-āryasatyāni, p: cattāri-ariyasaccāni, 四聖諦), Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāga-mārga, p: ariyāṭṭhagika-magga, 八正道), v.v., Chuyển Pháp Luân Kinh (轉法輪經) của Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, Taishō Vol. 2, No. 99) quyển 15, Ngũ Phần Luật quyển 15, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự quyển 39, v.v., có ký lục đầy đủ. Như trong Pháp Hoa Kinh Thông Nghĩa (法華經通義, Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 611) quyển 4 có đoạn rằng: “Thích Tôn sơ ư Lộc Uyển, tam chuyển Tứ Đế pháp luân, độ tham thị ngũ nhân, nhi Kiều Trần tiên ngộ, dĩ tối sơ đắc độ (釋尊初於鹿苑三轉四諦法輪度參侍五人而憍陳先悟以最初得度, đức Thích Tôn ban đầu tại Lộc Uyển, ba lần chuyển bánh xe pháp thuyết Tứ Đế, độ năm người hầu cận tham học, mà Kiều Trần Như ngộ trước, là người đắc độ đầu tiên).” Sau nầy, Đức Phật tự xưng là Như Lai (s, p: tathāgata, 如來). Có rất nhiều ngữ nghĩa của từ nầy, nhưng nghĩa chung nhất của nó là “thừa như thật chi đạo, nhi thiện lai thử Ta Bà thế giới (乘如實之道而善來此娑婆世界, mang đạo như thật mà khéo đến thế giới Ta Bà nầy).” Sau khi chuyển Pháp Luân lần đâu tiên, Đức Thích Tôn đến nước Ma Kiệt Đà, hóa độ 3 anh em Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (s: Uruvilvā-kāśyapa, 優樓頻羅迦葉), Na Đề Ca Diếp (s: Nadi-kāśyapa, 那提迦葉), Già Da Ca Diếp (s: Gayā-kāśyapa, 伽耶迦葉) của phái Bái Hỏa Giáo (拜火敎) và cả ngàn đệ tử của họ. Tiếp theo, Ngài hóa độ Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連) thuộc phái Ngụy Biện của Lục Sư Ngoại Đạo; về sau chính hai vị nầy trở thành đệ tử thượng túc của Đức Phật. Sau đó, tại Thành Vương Xá, vua Tần Bà Ta La (s, p: Bimbisāra, 頻婆娑羅) quy y theo đức Phật; nhà vua cho xây dựng Tinh Xá trong vườn trúc do Trưởng giả Ca Lan Đà (s: Kalanda, 迦蘭陀) dâng cúng, lấy tên là Ca Lan Đà Trúc Lâm Tinh Xá (迦蘭陀竹林精舍). Đến đây, giáo đoàn Phật Giáo phát triển với thế lực mạnh. Về sau, Đức Phật có trở về cố hương Ca Tỳ La Vệ một lần, số người quy y theo rất đông, trong đó có người em cùng cha khác mẹ Nan Đà (s, p: Nanda, 難陀), con trai La Hầu La, người em họ Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多), người thợ hớt tóc Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離), v.v., mọi người đều xuống tóc xuất gia. Ngài thuyết pháp cho trưởng giả Tu Đạt Đa (s, p: Sudatta, 須達多) ở Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), nhân đó trưởng giả kiến lập ngôi Đại Tinh Xá trong khu rừng do Thái Tử Kỳ Đà (s, p: Jeta, 祇陀) tặng, để dâng cúng Đức Phật. Đây gọi là Kỳ Hoàn Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍) hay Kỳ Viên Tinh Xá (祇園精舍). Vào lúc nầy, vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) cũng phát tâm quy y với đức Phật. Sau khi vua Tịnh Phạn băng hà, Đức Phật lại trở về cố hương lần nữa. Về sau, bà di mẫu Ma Ha Bà Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, p: Mahāpajāpatī, 摩訶波闍波提), công chúa Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅) cũng xuống tóc xuất gia, và đây được xem như là khởi đầu cho giáo đoàn Tỳ Kheo Ni (s: bhikuī, p: bhikkhunī, 比丘尼); trong đó Ma Ha Bà Xà Ba Đề là Tỳ Kheo Ni đầu tiên. Từ đó về sau, Đức Thích Tôn đi khắp Ấn Độ thuyết pháp giáo hóa, bất luận giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, thảy đều được hưởng ân huệ giáo pháp của Ngài. Giáo pháp ấy ảnh hưởng rất lớn đối với văn hóa cũng như tôn giáo Ấn Độ. Sau khi Ngài thành đạo, những nơi Ngài đã từng trải qua Kết Hạ An Cư, đều được ghi rõ trong Tăng Già La Sát Sở Tập Kinh (僧伽羅所集經, Taishō Vol. 4, No. 194) quyển Hạ. Theo đó, Đức Phật đã từng trú qua các nơi như nước Ba La Nại, núi Linh Thứu (s: Gdhrakūa, p: Gijjhakūa, 靈鷲山), núi Ma Câu La (s: Makula, 摩拘羅), cõi Trời Ba Mươi Ba, cõi quỷ thần, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc (祇樹給孤獨園) ở Thành Xá Vệ, Chá Lê Sơn (柘梨山), v.v. Theo Phật Thuyết Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh (佛說八大靈塔名號經, Taishō Vol. 32, No. 1685), Đức Phật từng tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn, sau từng sống tại rừng Tỳ Sa (毘沙), đỉnh núi Nhã Lí (惹里), các tụ lạc Đại Dã (s: Aāvī, 大野), Mao Nỗ (尾努), v.v. Ngoài ra, học giả Anh quốc T.W. Rhys Davids (1843-1922) căn cứ vào tích truyện Phật Giáo của Tích Lan, Miến Điện, bản Pháp Cú Kinh Chú (p: Dhammapada atthakathā, 法句經註) tiếng Pāli, v.v., cho rằng sau khi kiến lập vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, Đức Phật đã từng trú tại Đại Lâm (p: Mahā-vana, 大林) của Thành Tỳ Xá Ly (s: Vaiśāli, 毘舍離), núi Ma Câu La, Tăng Ca Xá (p: Sakissa, 僧迦舍), Ba Lợi Lôi Nhã Tạp (s: Parileyyaka, 巴利雷雅卡), Mạn Đặc Lạt (p: Mantala, 曼特剌), v.v. Lại nữa, Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 3, Phân Biệt Công Đức Luận (分別功德論, Taishō Vol. 25, No. 1507) quyển 2, Cao Tăng Pháp Hiển Truyện (高僧法顯傳, Taishō Vol. 51, No. 2085), v.v., cũng có ký lục như vậy. Tổng hợp các tư liệu trên, chúng ta có thể suy ra rằng địa phương hoằng pháp của Đức Phật phần lớn tập trung tại hai thành Xá Vệ và Vương Xá. Về những sinh hoạt cuối đời của Ngài, Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 26, Phật Thuyết Nghĩa Túc Kinh (佛說義足經, Taishō Vol. 4, No. 198) quyển Hạ, Xuất Diệu Kinh (出曜經, Taishō Vol. 4, No. 212) quyển 16, Tỳ Ni Mẫu Kinh (毘尼母經, Taishō Vol. 24, No. 1463) quyển 4, Ngũ Phần Luật quyển 3, 21, 25, Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 46, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự quyển 13, 14, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 2, v.v., có ký lục rõ ràng. Lúc bấy giờ, Đề Bà Đạt Đa muốn bức bách Đức Phật phải nhường lại giáo đoàn tăng chúng cho ông, nhưng ý đồ không thành, bèn phá tăng hoại Phật. Thêm vào đó, vua Lưu Ly (琉璃), con của vua Ba Tư Nặc, sau khi tức vị, tấn công thành Ca Tỳ La Vệ, cố hương của Đức Phật, diệt vong dòng họ Thích Ca. Vào năm cuối cùng khi Đức Phật còn tại thế, Ngài rời nước Ma Kiệt Đà, đi về phía Bắc sông Hằng, kinh qua Tỳ Xá Ly, đến Thành Ba Bà (s: Pāvā, 波婆), thọ nhận bữa cơm cúng dường của người thợ vàng Thuần Đà (s, p: Cunda, 純陀), và nhân vì ăn loại nấm Tô Ca Lạp Ma Đạt Phạt (s: sūkaramaddava, 蘇迦拉摩達伐, tức nấm cây Chiên Đàn) mà mắc bệnh. Trước khi lâm chung, Ngài đến tắm lần cuối cùng tại dòng sông Câu Tôn (p: Kakuṭṭha, 拘孫河), rồi đến rừng Sa La Song Thọ (沙羅雙樹) ở Thành Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), đầu xoay về hướng Bắc, mặt hướng phía Tây, nằm thế Cát Tường. Vào nửa đêm, Ngài để lại lời giáo huấn cuối cùng cho chúng đệ tử, rồi sau đó thì an nhiên nhập diệt. Ban đầu, di cốt của Đức Thích Tôn được an trí tại Thiên Quan Tự (s: Makuabandhana-cetiya, 天冠寺) của bộ tộc Mạt La (s, p: Malla, 末羅), sau đó hỏa táng. Khi tham gia lễ Trà Tỳ có sứ đoàn của 8 nước, gồm Câu Thi Na Yết La (拘尸那揭羅), Ba Bà (波婆), Giá La (遮羅), La Ma Già (羅摩伽), Tỳ Lưu Đề (毘留提), Ca Tỳ La (迦毘羅), Tỳ Xá Ly (毘舍離), Ma Kiệt Đà (摩揭陀), v.v., do vấn đề phân phối Xá Lợi (s: śarīra, p: sarīra, 舍利) mà nảy sinh đấu tranh lẫn nhau. Sau đó, nhờ sự điều đình của Bà La Môn Hương Tính (s: Doa, 香姓) mà được yên ổn, cho nên người nầy có được bình Xá Lợi. Từ đây, mỗi nước dựng tháp cúng dường, và đây là phát xuất của truyền thống thập tháp (10 ngôi tháp) ngày nay. Năm Đức Phật nhập diệt, tại Hang Thất Diệp (s: Sapta-para-guhā, 七葉窟) của Thành Vương Xá, cuộc kết tập kinh điển lần đầu tiên được tiến hành. Đương thời, Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) là người triệu tập chủ yếu; A Nan (s, p: Ānanda, 阿難) và Ưu Ba Ly(s, p: Upāli, 優波離) thì tụng đọc các Kinh và Luật của Phật thuyết trên cơ sở từng được nghe qua, rồi được đại chúng thảo luận, hiệu đính để trở thành tiêu chuẩn cho Kinh Luật đời sau. Về sau, trải qua biết bao biến thiên, giáo pháp của Đức Thích Tôn được phân thành hai hệ thống chính, truyền bá khắp nơi: Nam Truyền chủ yếu là tiếng Pāli và Bắc Truyền chủ yếu là kinh điển Hán dịch. Liên quan đến năm tháng xác thật ngày Đức Phật đảnsanh, xuất gia, thành đạo, lần đầu chuyển Pháp Luân, tuổi thọ, nhập diệt, v.v., trong kinh điển có nhiều thuyết khác nhau. Về tuổi thọ, có 4 thuyết chính: (1) Tam Thế Đẳng Phẩm (三世等品) của Bồ Tát Tùng Đâu Thuật Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Phổ Kinh (菩薩從兜術天降神母胎說廣普經, Taishō Vol. 12, No. 384, tức Bồ Tát Xử Thai Kinh [菩薩處胎經]) quyển 23 cho là thọ 84 tuổi. (2) Bát Nê Hoàn Kinh (般泥洹經, Taishō Vol. 1, No. 6) quyển Hạ cho là 79 tuổi. (3) Thọ Lượng Phẩm (壽量品) của Kim Quang Minh Kinh (金光明經, Taishō Vol. 16, No. 663) quyển 1, Phật Thuyết Bát Đại Linh Tháp Danh Hiệu Kinh (佛說八大靈塔名號經, Taishō Vol. 32, No. 1685), Đại Bát Niết Bàn Kinh (p: Mahāparinibbāna-sutta, 大般涅槃經) bản tiếng Pāli, truyền thống của Miến Điện, v.v., cho là 80. (4) A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 126 cho là hơn 80. Về niên đại đản sanh của Ngài, học giả hiện đại cũng có nhiều suy định khác nhau. Học giả Nhật Bản Vũ Tỉnh Bá Thọ (宇井伯壽, Ui Hakuju, 1882-1963) cho rằng năm Phật đản sanh là 466 trước tây lịch. Trung Thôn Nguyên (中村元, Nakamura Hajime, 1912-1999) cũng y cứ vào thuyết nầy, rồi dùng sử liệu mới phát hiện của Hy Lạp, sau khi khảo chứng thì cho là năm 463 trước tây lịch. Về ngày tháng đản sanh của Đức Phật, có 5 thuyết khác nhau: (1) Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 4, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh (過去現在因果經, Taishō Vol. 3, No. 189) quyển 1, Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 7, Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa (薩婆多毘尼毘婆沙, Taishō Vol. 23, No. 1440) quyển 2, v.v., cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Bồ Tát Giáng Than Phẩm (菩薩降身品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh (修行本起經, Taishō Vol. 3, No. 184) quyển Thượng cho là ngày mồng 7 hay 8 tháng 4. (3) Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh (太子瑞應本起經, Taishō Vol. 3, No. 185) quyển Thượng, Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi Kinh (異出菩薩本起經, Taishō Vol. 3, No. 188), Sanh Phẩm (生品) của Phật Sở Hành Tán (佛所行讚, Taishō Vol. 4, No. 192) quyển 1, Phật Thuyết Thập Nhị Du Kinh (佛說十二遊經, Taishō Vol. 4, No. 195), Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh (佛說灌洗佛形像經, Taishō Vol. 16, No. 695), v.v., thì cho là ngày mồng 8 tháng 4. (4) Điều Kiếp Tỷ La Phạt Tốt Đổ Quốc (劫比羅伐窣堵國條) của Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 6 thì cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Vesākhā. (5) Thượng Tọa Bộ (上座部) cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. Về ngày tháng xuất gia của đức Phật, có 5 thuyết: (1) Trường A Hàm Kinh cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 2 cho là ngày mồng 7 tháng 2. (3) Xuất Gia Phẩm (出家品) của Tu Hành Bản Khởi Kinh quyển Hạ cho là ngày mồng 7 tháng 4. (4) Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi Kinh quyển Thượng, Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh, v.v., cho là mồng 8 tháng 4. (5) Bản Sanh Kinh Phật Truyện (本生經佛傳) bản tiếng Pāli cho là ngày thứ 15 của tháng A Sa Trà (s: Āsā, 阿沙荼). Về ngày tháng thành đạo của Ngài, có 4 thuyết: (1) Trường A Hàm Kinh quyển 4, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh quyển 3, Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 2, v.v., cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Bản Đại Sử (p: Mahāvasa, 大史) tiếng Pāli cho là ngày trăng tròn tháng Vesākhā. (3) Đại Đường Tây Vức Ký quyển 8 cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Vesākhā. (4) Thượng Tọa Bộ cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. Về ngày tháng lần đầu tiên chuyển Pháp Luân, có 2 thuyết: (1) Bồ Tát Xử Thai Kinh quyển 7 cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 182 cho là ngày mồng 8 của tháng Ca Lật Để Ca (s: Kārttika, 底迦, hay Ca Hi Na [迦絺那]). Về ngày tháng nhập diệt của Ngài, có 6 thuyết khác nhau. (1) Trường A Hàm Kinh quyển 4 cho là ngày mồng 8 tháng 2. (2) Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 1, Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa quyển 1, v.v., cho là ngày 15 tháng 2. (3) Bài tựa của Nhất Thiết Thiện Kiến Luật (p: Samantapāsādikā, 一切善見律) bản tiếng Pāli, Luật Tạng (p: Vinaya-piaka, 律藏) tiếng Pāli, chương thứ 3 của Đại Sử, Điều Câu Thi Na Yết La Quốc (拘尸那揭羅國條) của Đại Đường Tây Vức Ký quyển 6, v.v., cho là ngày 15 hậu bán tháng Vesākhā. (4) Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa quyển 2 cho là ngày mồng 8 tháng 8. (5) Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 191, Đại Đường Tây Vức Ký quyển 6 viện dẫn truyện của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, p: Sabbatthivādin, 說一切有部), cho là ngày mồng 8 hậu bán tháng Ca Lật Để Ca. (6) Phật Thuyết Quán Tẩy Phật Hình Tượng Kinh cho là ngày mồng 8 tháng 4. Bên cạnh đó, liên quan đến niên đại nhập diệt của đức Thích Tôn, cũng có nhiều thuyết bất đồng. Như học giả Vũ Tỉnh Bá Thọ của Nhật thì chủ trương là năm 386 trước tây lịch. Tiến Sĩ Trung Thôn Nguyên cho là năm 383 trước tây lịch. Pháp sư Ấn Thuận (印順, 1906-2005) của Trung Hoa thì chủ trương năm 390 trước tây lịch. Tổng hợp tất cả những thông tin vừa nêu trên, ngày tháng đản sanh, xuất gia, thành đạo của đức Phật có thể phân thành 3 thuyết chính: (1) ngày 8 tháng 2, (2) ngày 8 tháng 4, (3) ngày 15 tháng 2. Ngày tháng nhập diệt cũng được chia thành 3 thuyết: (1) ngày 8 tháng 2, (2) ngày 15 tháng 2, (3) ngày 8 tháng 8. Ngoài ra, Nhị Giáo Luận (二敎論) của Đạo An (道安, 312[314]-385) nhà Bắc Chu, Câu Xá Luận Bảo Sớ (俱舍論寶疏) quyển 1, v.v., so sánh tháng của lịch Ấn Độ và lịch Trung Quốc, cho rằng tháng 2 của Ấn Độ tương đương với tháng 4 của Tàu. Lại nữa, vào ngày mồng một mỗi tháng của lịch Ấn Độ thì tương đương với ngày 16 âm lịch của Trung Quốc; ngày cuối tháng thì tương đương với ngày 15 của tháng kế tiếp theo lịch của Trung Quốc.
  3. Ứng Cúng (s: arhat, arhant, p: arahat, arahant, 應供): một trong 10 hiệu của Như Lai, âm dịch là A La Hán (阿羅漢), A La Ha (阿羅訶); còn gọi là Ứng Chơn (應眞), Ứng (); chỉ cho người đã đoạn tận hết thảy các điều ác, phiền não, bậc đáng tôn kính với trí và đức viên mãn, xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của Trời và người. Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 24 có đoạn rằng: “Ứng thọ nhất thiết thế gian cúng dường cố, danh vi Ứng Cúng nhân (應受一切世間供養故名爲應供人, vì xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của thế gian, nên có tên gọi là người Ứng Cúng).” Hay trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 8 cũng có đoạn: “Tăng vi Phật tử, ứng cúng vô thù, thiên thượng nhân gian, hàm sở cung kính (僧爲佛子應供無殊天上人間咸所恭敬, tăng là Phật tử, cúng dường không khác, trên trời cõi người, thảy đều cung kính).” Trong Nghệ Văn Loại Tụ (藝文類聚) quyển 77 dẫn bài văn Trường Can Tự Chúng Thực Bi (長干寺眾食碑) của Từ Lăng (徐陵, 507-583) nhà Trần thời Nam Triều, có đoạn: “Ư thị tư doanh chúng nghiệp, nguyện tạo phường trù, thứ sử Ứng Cúng chi tăng, giai đồng tự nhiên chi thực (於是思營眾業願造坊廚庶使應供之僧,皆同自然之食, vì vậy gây nên các nghiệp, nguyện xây nhà trù, khiến cho Ứng Cúng chư tăng, đều cùng tự nhiên thọ thực).”
  4. Chánh Biến Tri (s: samyak-sabuddha, 正遍知正徧知): còn gọi là Chánh Biến Trí (正遍智), Chánh Biến Giác (正遍覺), Chánh Chân Đạo (正眞道), Chánh Đẳng Giác (正等覺), Chánh Đẳng Chánh Giác (正等正覺), Chánh Giác Đẳng (正覺等), Chánh Đẳng Giác Giả (正等覺者); âm dịch là Tam Miệu Tam Phật Đà (三藐三佛陀), Tam Da Tam Phật Đàn (三耶三佛檀); là một trong 10 hiệu của Như Lai. Chánh Biến Tri ở đây có nghĩa là biết một cách chân chánh, đúng đắn, cùng khắp hết thảy các pháp. Ngoài ra, cũng có Phạn ngữ samyaksabodhi, âm dịch là Tam Miệu Tam Bồ Đề (三藐三菩提); cựu dịch là Chánh Biến Tri, Chánh Biến Tri Đạo (正遍知道); tân dịch là Chánh Giác Đẳng, Chánh Đẳng Chánh Giác. Bồ Đề là nương vào pháp mà nói, Phật Đà thì nương vào người mà xưng danh. Cho nên, Tam Miệu Tam Bồ Đề chỉ cho Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác; còn Tam Miệu Tam Phật Đà chỉ cho người có Chánh Biến Tri, có Chánh Đẳng Giác. Trong Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá Nguyện Sanh Kệ Chú (無量壽經優婆提舍願生偈註, Taishō Vol. 40, No. 1819) quyển Hạ có giải thích rằng: “Chánh Biến Tri giả, tri nhất thiết chư pháp thật bất hoại tướng, bất tăng bất giảm (正遍知者知一切諸法實不壞相不增不減, Chánh Biến Tri là biết hết thảy các pháp thật không có tướng hư hoại, không tăng không giảm).”
  5. Minh Hạnh [Hành] Túc (s: vidyā-caraa-sapanna, p: vijjā-caraa-sampanna, 明行足): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na (鞞侈遮羅那三般那); còn gọi là Minh Thiện Hành (明善行), Minh Hành Thành (明行成), Minh Hành Viên Mãn (明行圓滿), Minh Hành (明行). Theo Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (北本大般涅槃經) quyển 18 cho biết rằng Minh tức là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (阿耨多羅三藐三菩提, Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật trí); Hành Túc (行足, chân bước đi) là Giới, Định và Tuệ. Đức Phật nương vào bước chân đi của Tam Vô Lậu Học nầy để chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề; nên gọi là Minh Hành Túc. Ngoài ra, Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 còn giải thích rằng:Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na, Tần ngôn Minh Hành Cụ Túc; vân hà danh Minh Hành Cụ Túc; Túc Mạng, Thiên Nhãn, Lậu Tận, danh vi Tam Minh (鞞侈遮羅那三般那秦言明行具足云何名明行具足宿命天眼漏盡名爲三明, Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na, Tàu gọi là Minh Hành Cụ Túc; thế nào là Minh Hành Cụ Túc [Minh và Hành đầy đủ]; Túc Mạng, Thiên Nhãn, Lậu Tận, gọi là Ba Minh)”; và “Hành danh thân khẩu nghiệp; duy Phật thân, khẩu nghiệp cụ túc, dư giai hữu thất; thị danh Minh Hành Cụ Túc (行名身口業唯佛身口業具足餘皆有失是名明行具足, Hành gọi là nghiệp của thân và miệng; chỉ có nghiệp thân và miệng của Phật mới đầy đủ [không sai lầm], còn lại đều sai lầm, cho nên gọi là Minh Hành Cụ Túc).”
  6. Thiện Thệ (s, p: sugata, 善逝): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Tu Già Đà (修伽陀), Tô Yết Đa (蘇揭多), Tu Già Đa (修伽多); còn gọi là Thiện Khứ (善去), Thiện Giải (善解), Thiện Thuyết Vô Hoạn (善說無患), Hảo Thuyết (好說), Hảo Khứ (好去). Như Lai (s, p: tathāgata, 如來) nghĩa là cỡi đạo như thật mà khéo đến thế giới Ta Bà (s, p: sahā, j: saba, 娑婆) nầy; Thiện Thệ là như thật đi qua bờ bên kia, không còn trở lại biển sanh tử chìm đắm nữa. Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 giải thích rằng: “Phật nhất thiết trí vi đại xa, Bát Chánh Đạo hành nhập Niết Bàn, thị danh Hảo Khứ (佛一切智爲大車八正道行入涅槃是名好去, tất cả trí của Đức Phật là xe lớn, Bát Chánh Đạo đi vào Niết Bàn, đó là Hảo Khứ [khéo đi vào]).” Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 50 có đoạn rằng: “Thập phương sở hữu chư thế giới, tất năng chấn động vô hữu dư, vị tằng khủng bố nhất chúng sanh, Thiện Thệ uy thần lực như thị (十方所有諸世界悉能震動無有餘未曾恐怖一眾生善逝威神力如是, mười phương vốn có các thế giới, có thể chấn động không có dư, chưa từng khủng bố một chúng sanh, Thiện Thệ oai thần lực như vậy).”
  7. Thế Gian Giải (s: lokavid, p: lokavidū, 世間解): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Lộ Ca Bại (路迦憊); hoặc dịch là Tri Thế Gian (知世間); nghĩa là đức Phật có thể hiểu biết hai loại chúng sanh và không phải chúng sanh; biết được nhân của thế gian, sự hoại diệt của thế gian, và con đường của xuất thế gian. Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 giải thích rằng: Lộ Ca Bại, Lộ Ca, Tần ngôn thế, Bại danh tri, thị danh tri thế gian, …, tri nhị chủng thế gian, nhất chúng sanh, nhị phi chúng sanh (路迦憊路迦秦言世憊名知是名知世間知二種世間一眾生二非眾生, Lộ Ca Bại, Lộ Ca, Tàu gọi là thế [thế gian, cuộc đời]; Bại là tri [biết], nghĩa là biết thế gian, …, biết hai loại thế gian, một là thế gian, hai là không phải thế gian).” Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 18, Phạm Hạnh Phẩm (梵行品) thứ 8, còn giải thích thêm rằng: “Thế Gian giả danh vi Ngũ Ấm, Giải giả danh tri, chư Phật Thế Tôn thiện tri Ngũ Ấm cố danh Thế Gian Giải; hựu Thế Gian giả danh vi Ngũ Dục, Giải danh bất trước, bất trước Ngũ Dục cố danh Thế Gian Giải (世間者名爲五陰解者名知諸佛世尊善知五陰故名世間解又世間者名爲五欲解名不著不著五欲故名世間解, Thế Gian nghĩa là Năm Ấm, Giải là biết, vì chư Phật Thế Tôn khéo biết Năm Ấm nên gọi là Thế Gian Giải; lại nữa Thế Gian nghĩa là Năm Dục, Giải là không mắc kẹt, vì không mắc kẹt vào Năm Dục nên gọi là Thế Gian Giải).”
  8. Vô Thượng Sĩ (s, p: anuttara, 無上士): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là A Nậu Đa La (阿耨多羅); còn gọi là Vô Thượng (無上), Vô Thượng Trượng Phu (無上丈夫); là trí đức của Như Lai, bậc tối thắng trong loài người, không có sai lầm; nên được gọi như vậy. Ngoài ra, Đẳng Giác Vị (等覺位) trong 52 giai vị của Bồ Tát có tên là Hữu Thượng Sĩ (有上士), và Diệu Giác Vị (妙覺位) của Phật gọi là Vô Thượng Sĩ. Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 8, Phẩm Như Lai Tánh (如來性品) thứ 4, có giải thích rằng: “Như Lai giả danh Vô Thượng Sĩ, thí như nhân thân đầu tối vi thượng, phi dư chi tiết thủ túc đẳng dã; Phật diệc như thị tối vi tôn thượng, phi Pháp Tăng dã (如來者名無上士譬如人身頭最爲上非餘支節手足等也佛亦如是最爲尊上非法僧也, Như Lai gọi là Vô Thượng Sĩ, giống như thân người thì đầu là trên hết, không phải là các chi tiết tay chân, vân vân; đức Phật cũng như vậy, là tôn kính trên hết, không phải là Pháp và Tăng).” Trong Phật Thuyết Vô Thường Kinh (佛說無常經, Taishō Vol. 17, No. 801) có đoạn rằng: Khể thủ quy y Vô Thượng Sĩ, thường khởi hoằng thệ đại bi tâm, vị tế hữu tình sanh tử lưu, linh đắc Niết Bàn an ổn xứ (稽首歸依無上士常起弘誓大悲心爲濟有情生死流令得涅槃安隱處, cúi đầu quy y Vô Thượng Sĩ, thường khởi thệ lớn tâm đại bi, vì cứu hữu tình sanh tử trôi, khiến đạt Niết Bàn an ổn chốn).”
  9. Điều Ngự Trượng Phu (s: puruadamyasārathi, p: purisadamma-sārathi, 調御丈夫調禦丈夫): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Phú Lâu Sa Đàm Miệu Bà La Đề (富樓沙曇藐婆羅提); còn gọi là Đạo Pháp Ngự (道法御), Điều Ngự Sĩ (調禦士); nghĩa là bậc thầy điều ngự có thể hóa độ, dẫn dắt hết thảy trượng phu. Như Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 giải thích rằng: “Phú Lâu Sa Đàm Miệu Bà La Đề, Phú Lâu Sa, Tần ngôn trượng phu; Đàm Miệu, Tần ngôn khả hóa; Bà La Đề, Tần ngôn điều ngự sư; thị danh khả hóa trượng phu điều ngự sư; Phật dĩ đại từ đại bi đại trí cố, hữu thời nhuyễn mỹ ngữ, hữu thời khổ thiết ngữ, hữu thời tạp ngữ, dĩ thử điều ngự linh bất thất đạo (富樓沙曇藐婆羅提富樓沙秦言丈夫曇藐秦言可化婆羅提秦言調御師是名可化丈夫調御師佛以大慈大悲大智故有時軟美語有時苦切語有時雜語以此調御令不失道, Phú Lâu Sa Đàm Miệu Bà La Đề, Phú Lâu Sa, Tàu gọi là bậc trượng phu; Đàm Miệu, Tàu gọi là có thể hóa độ; Bà La Đề, Tàu gọi là vị thầy điều phục và chế ngự; nên gọi là vị điều phục và chế ngự có thể hóa độ bậc trượng phu; vì Đức Phật dùng đại từ, đại bi, đại trí, cho nên có khi nói lời mềm dẻo ngon ngọt, có khi nói lời cay đắng cứng rắn, có khi dùng tạp ngữ, để điều phục và chế ngự không cho mất đạo).” Trong Dược Sư Kinh Sớ (藥師經疏, Taishō Vol. 85, No. 2766) còn giải thích thêm về nghĩa của điều ngự rằng: “Điều ngự hữu ngũ chủng, nhất giả quan pháp điều ngự dân, nhị giả phụ điều ngự kỳ tử, tam giả sư điều ngự môn đồ, tứ giả Diêm La vương điều ngự tránh tội nhân chi nghiệp, ngũ chủng điều ngự trung, tiền tam chủng thị hiện tại điều ngự, đệ tứ thị vị lai thế điều ngự, đệ ngũ dĩ điều ngự giả tam thế câu điều ngự cố (調御有五種一者官法調御民二者父調御其子三者師調御門徒四者閻羅王調御諍罪人之業五種調御中前三種是現在調御第四是未來世調御第五以調御者三世俱調御故, điều ngự có năm loại, một là quan pháp điều ngự dân, hai là cha điều ngự con, ba là thầy điều ngự học trò, bốn là vua Diêm La điều ngự nghiệp của tội nhân kiện tụng; trong năm loại điều ngự nầy, ba loại đầu là điều ngự hiện tại, loại thứ tư là điều ngự đời tương lai, điều ngự thứ năm là điều ngự cả ba đời).” Trong bản văn Đông Dương Song Lâm Tự Phó Đại Sĩ Bi (東陽雙林寺傅大士碑) của Từ Lăng (徐陵, 507-583) nhà Trần thời Nam Triều có đoạn: “Khuyến thỉnh Điều Ngự, thường trụ thế gian, cứu hiện tại chi binh hỏa, trừ đương lai chi khổ tập (勸請調御常住世間救現在之兵災除當來之苦集, cung thỉnh đấng Điều Ngự, trụ mãi nơi cõi đời, cứu hiện tại ấy binh hỏa, trừ tương lai ấy khổ tập).”
  10. Thiên Nhân Sư (s: śāstā deva-manuā, p: satthā deva-manussāna, 天人師): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Xá Đa Đề Bà Ma Nậu Xá Nam (舍多提婆魔㝹舍喃); còn gọi là Thiên Nhân Giáo Sư (天人敎師); nghĩa Đức Phật là thầy dạy của chư thiên và loài người, dẫn dắt và chỉ cho biết hết thảy những điều gì nên làm và không nên làm, đâu là thiện và bất thiện; nếu có thể vâng theo lời dạy mà thực hành, không bỏ đạo pháp, có thể được báo ứng giải thoát phiền não; nên gọi là Thiên Nhân Sư. Như trong Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經, Taishō Vol. 3, No. 191) quyển 3 có đoạn rằng: “Kim thử phu nhân tất sanh Thái Tử, cụ chư tướng hảo, nhược tại vương cung tác Chuyển Luân Vương, nhược thị xuất gia tu chư Phạm hạnh, thành Chánh Đẳng Giác hiệu Thiên Nhân Sư (今此夫人必生太子具諸相好若在王宮作轉輪王若是出家修諸梵行成正等覺號天人師, nay phu nhân nầy sẽ sanh Thái Tử, đủ các tướng tốt, nếu ở vương cung thì làm Chuyển Luân Vương, nếu là xuất gia tu Phạm hạnh, thì thành Chánh Đẳng Giác hiệu là Thiên Nhân Sư [thầy trời người]).” Hay trong Phật Thuyết Vô Thường Kinh (佛說無常經, Taishō Vol. 17, No. 801) cũng có đoạn rằng: “Đại xả phòng phi nhẫn vô quyện, nhất tâm phương tiện chánh tuệ lực, tự lợi lợi tha tất viên mãn, cố hiệu Điều Ngự Thiên Nhân Sư (大捨防非忍無倦一心方便正慧力自利利他悉圓滿故號調御天人師, xả bỏ ngừa sai nhẫn không mệt, nhất tâm phương tiện sức trí tuệ, tự lợi lợi tha đều viên mãn, nên hiệu Điều Ngự Thiên Nhân Sư).”
  11. Phật (s, p: buddha, ): gọi đủ là Phật Đà (佛陀佛馱), Hưu Đồ (休屠), Phù Đà (浮陀), Phù Đồ (浮屠浮圖), Phù Đầu (浮頭), Một Đà (沒馱), Bột Đà (勃陀馞陀), Bộ Tha (步他); ý dịch là Giác Giả (覺者), Tri Giả (知者), Giác (); nghĩa là đấng giác ngộ chân lý; cũng có nghĩa là đầy đủ tự giác (自覺, tự giác ngộ mình), giác tha(覺他, làm cho người khác giác ngộ), giác hành viên mãn (覺行圓滿, giác ngộ và thực hành đều viên mãn), thấy biết như thật hết thảy tánh tướng của các pháp, là bậc Đại Thánh thành tựu Đẳng Chánh Giác. Đây là quả vị tối cao trong tu hành của Phật Giáo. Ba yếu tố tự giác, giác tha và giác hành viên mãn, đối với hạng phàm phu thì không yếu tố nào đầy đủ cả; đối với hàng Nhị Thừa Thanh Văn (s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺) thì chỉ có tự giác; Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) thì có đủ tự giác và giác tha; chỉ có Phật mới có đủ ba yếu tố nầy; cho nên đây là tôn xưng cao quý nhất. Về nội dung chứng ngộ của Đức Phật, các kinh luận có nhiều thuyết khác nhau. Về thân Phật, cõi nước Phật, v.v., các tông phái cũng có nhiều dị thuyết. Cũng có biết bao danh xưng để tán thán Đức Phật như 10 danh hiệu của đức Như Lai, Nhất Thiết Tri Giả (一切知者, người biết tất cả), Nhất Thiết Kiến Giả (一切見者, người thấy tất cả), Tri Đạo Giả (知道者, người biết đạo), Khai Đạo Giả (開道者, người khai mở đạo [con đường]), Thuyết Đạo Giả (說道者, người thuyết về đạo), Thế Tôn (世尊, đấng được cuộc đời tôn kính), Thế Hùng (世雄, bậc hùng mạnh có thể đoạn trừ mọi phiền não của thế gian), Thế Nhãn (世眼, người có con mắt dẫn dắt thế gian), Thế Anh (世英, bậc ưu tú nhất thế gian), Thiên Tôn (天尊, Đệ Nhất Nghĩa Thiên tối thắng trong 5 vị trời), Đại Giác Thế Tôn (大覺世尊, hay Đại Giác Tôn), Giác Vương (覺王, vua giác ngộ), Giác Hoàng (覺皇, vua giác ngộ), Pháp Vương (法王, vua của các pháp), Đại Đạo Sư (大導師, vị thầy hướng dẫn vĩ đại), Đại Thánh Nhân (大聖人), Đại Sa Môn (大沙門), Đại Tiên (大仙, đấng tôn kính nhất trong chư tiên), Đại Y Vương (大醫王, như danh y tùy theo bệnh mà cho thuốc hay, Đức Phật là người tùy theo tâm bệnh mà thuyết pháp), Phật Thiên (佛天), Phật Nhật (佛日, đức Phật như mặt trời chiếu sang khắp nơi), Lưỡng Túc Tôn (兩足尊, đấng tôn kính nhất trong loài có hai chân, lưỡng túc ở đây còn có nghĩa là đầy đủ hai yếu tố nguyện và hạnh), Nhị Túc Tôn (二足尊), Lưỡng Túc Tiên (兩足仙), Nhị Túc Tiên (二足仙), Thiên Trung Thiên (天中天, bậc tối thắng trong chư thiên), Nhân Trung Ngưu Vương (人中牛王, tỷ dụ đức Phật là vua của loài trâu), Nhân Hùng Sư Tử (人雄師子, tỷ dụ đức Phật là con sư tử hùng mạnh trong loài người), v.v. Đức Phật là người có thể hóa độ, dẫn dắt mình và người khác, nên có tên là Năng Nhân (能人); cho nên Phật A Di Đà cũng được gọi là An Lạc Năng Nhân (安樂能人). Đức Phật có những đức tính đặc thù, như thân Ngài có 32 tướng tốt, 48 vẻ đẹp; ngoài ra còn có 10 Lực, 18 pháp bất cọng, v.v. Định, Trí và Bi của Phật đều tối thắng, nên gọi là Đại Định (大定), Đại Trí (大智), Đại Bi (大悲); phối với Ba Đức là Đoạn Đức (斷德), Trí Đức (智德) và Ân Đức (恩德), gọi chung là Đại Định Trí Bi (大定智悲). Chư Phật xuất hiện trong thời quá khứ được gọi là Quá Khứ Phật (過去佛) hay Cổ Phật (古佛), như 7 vị Phật quá khứ, Phật Nhiên Đăng (s: Dīpakara, 燃燈), v.v. Chư Phật sẽ xuất hiện nơi cõi Ta Bà trong tương lai thì gọi là Hậu Phật (後佛) hay Đương Lai Phật (當來佛), như Phật Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Ban đầu, Phật là chỉ cho Đức Phật của lịch sử, tức là Phật Thích Ca; về sau sản sinh tư tưởng 7 vị Phật quá khứ, rồi lại có Phật tương lai và đức Phật Di Lặc; nay khoảng cách giữa Đức Phật Thích Ca và Phật Di Lặc lại có thời gian không có Phật. Phật Giáo Nguyên Thủy thì cho rằng trong đời hiện tại không thể tồn tại cả hai vị Phật như vậy; đến thời kỳ Phật Giáo Đại Thừa, tùy thế giới quan mở rộng, cho rằng trong nhất thời có nhiều đức Phật tồn tại. Tỷ dụ như, phương Đông có Phật A Súc (s: Akhobhya, 阿閦), phương Tây có Phật A Di Đà (s: Amitāyus, Amitābha, 阿彌陀); đồng thời ngay hiện tại, ở thế giới phương khác lại có vô số chư Phật hiện hữu, gọi là thập phương hằng sa chư Phật (十方沙諸佛, chư Phật nhiều như số cát sông Hằng ở mười phương). Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāghika,大眾部) của Phật Giáo Nguyên Thủy công nhận rằng tam thiên đại thiên thế giới đồng thời có các đức Phật khác tồn tại, nên chủ trương thuyết gọi là “nhất Phật nhất giới, đa Phật đa giới (一界一佛多界多佛, một đức Phật một thế giới, nhiều đức Phật nhiều thế giới).” Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 有部) thì chủ trương thuyết “đa giới nhất Phật (多界一佛, nhiều thế giới một đức Phật).” Chữ “giới ()” ở đây nghĩa là tam thiên đại thiên thế giới. Ngoài ra, ba đời chư Phật tức chỉ cho ngàn vị Phật của Trang Nghiêm Kiếp (莊嚴劫) trong thời quá khứ, ngàn vị Phật của Hiền Kiếp (賢劫) trong thời hiện tại, và ngàn vị Phật của Tinh Tú Kiếp (星宿劫) trong thời tương lai; hợp lại thành ba ngàn vị Phật. Danh xưng của chư vị Phật nầy có trong Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh Kinh (三劫三千佛名經).
  12. Nam mô (s: namas, p: namo, 南無): còn gọi là Nam Mâu (南牟), Na Mô (那謨), Nam Mô (南謨), Na Ma (那摩), Nẵng Mạc (曩莫), Nạp Mạc (納莫), v.v.; ý dịch là kính lễ (敬禮), quy kính (歸敬), quy y (歸依), quy mạng (歸命), tín tùng (信從). Nguyên lai từ nầy có nghĩa là lễ bái (禮拜), được sử dụng nhiều với đối tượng kính lễ, thể hiện sự quy y (quay trở về và nương tựa), tín thuận (信順, tin tưởng và vâng theo), bao hàm ý nghĩa cứu con, độ con. Như xưng tán Nam Mô Tam Bảo (s: namo ratna-trayāya, 南無三寶), âm dịch là nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da (南無喝囉怛那哆囉夜耶), tức thể hiện ý quy y ba ngôi báu Phật Pháp Tăng. Hay tụng Nam Mô A Di Đà Phật (南無阿彌陀佛), Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (南無妙法蓮華經), v.v., hai từ “nam mô” nầy có nghĩa là quy y. Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Sớ (大般涅槃經疏, Taishō Vol. 38, No. 1767) quyển 4 có giải thích rõ rằng: “Nam mô, hoặc ngôn cứu ngã, hoặc ngôn quy mạng, hoặc ngôn khuất tất (南無或言救我或言歸命或言屈膝, nam mô, hoặc có nghĩa là cứu con, hoặc nghĩa là quy mạng, hoặc nghĩa là gập đầu gối [quỳ xuống, kính phục]).” Trong Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ (觀無量壽佛經疏, Taishō Vol. 37, No. 1753) quyển 1, Sa môn Thiện Đạo (善導, 613-681) giải thích thêm rằng: “Ngôn nam mô giả tức thị quy mạng, diệc thị phát nguyện hồi hướng chi nghĩa (言南無者卽是歸命亦是發願迴向之義, nói nam mô tức là quy mạng, cũng có nghĩa là phát nguyện hồi hướng).” Trong Lạc Dương Già Lam Ký (洛陽伽藍記, Taishō Vol. 51, No. 2092), phần Vĩnh Ninh Tự (永寧寺), của Dương Huyễn Chi (楊衒之, ?-?) nhà Bắc Ngụy, có câu: “Khẩu xướng nam mô, hiệp chưởng liên nhật (口唱南無合掌連日, [Bồ Đề Đạt Ma] miệng tụng nam mô, chấp tay mấy ngày).” Hay trong bài thơ Ký Du Thi (記游詩) của Tiết Quý Tuyên (季宣, 1134-1173) nhà Tống cũng có câu: “Hà quán mộng trung mộng, nam mô Phật nhân duyên (觀夢中夢南膜佛因緣, xa quán mộng trong mộng, kính lạy Phật nhân duyên).” Hoặc trong kịch bản Đào Hoa Phiến (桃花扇), phần Nhập Đạo (入道), của Khổng Thượng Nhiệm (孔尚任, 1648-1718) nhà Thanh, lại có câu: “Nam mô Thiên Tôn ! Quả nhiên thiện hữu thiện báo, thiên lý chiêu chương (南無天尊果然善有善報天理昭彰, Kính lạy Thiên Tôn ! Quả nhiên thiện có thiện báo, đạo lý trời sáng tỏ).”
  13. Pháp giới (s: dharma-dhātu, p: dhamma-dhātu, 法界): chỉ cho sự vật vốn có của đối tượng duyên vào ý thức, là một trong 18 giới. A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 1 cho rằng Ba Uẩn Thọ (s, p: vedanā, ), Tưởng (s: sañjā, p: saññā, ), Hành (s: sakhāra, p: sakhāra, ) cùng với Vô Biểu Sắc (s: avijñapti-rūpa, 無表色), Vô Vi Pháp (無爲法) được gọi là Pháp Giới; trong 12 Xứ thì gọi là Pháp Xứ (法處). Tuy nhiên trong 18 Giới, ngoài Pháp Giới ra, 17 giới kia được gọi là pháp; nên về nghĩa rộng thì Pháp Giới chỉ cho hết thảy các pháp Hữu Vi và Vô Vi. Về ngữ nghĩa mà nói, giới () có nghĩa là “chủng tộc sanh gốc”; tỷ dụ như trong núi tàng chứa các loại khoáng sản như vàng, bạc, v.v.; trong thân con người có đầy đủ các pháp mắt, tai, mũi, v.v., mỗi thứ đều tự tương tục mà sanh khởi. Hay giới còn có nghĩa là “chủng loại khác nhau”; tức là tự tánh của các pháp đều khác nhau. Trong Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký (華嚴經探玄記, Taishō Vol. 35, No. 1733) quyển 18 có nêu ra 3 nghĩa của Pháp Giới: (1) Là nhân sanh ra Thánh pháp, (2) Là thể tánh chân thật của các pháp, (3) Các pháp đều giữ sự phân chia đồng nhau, có thể phân biệt tướng trạng. Đồng thời, nương theo hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền mà nhập vào Pháp Giới, có 5 loại là Hữu Vi Pháp Giới (有爲法界), Vô Vi Pháp Giới (無爲法界), Pháp Giới vừa là Hữu Vi vừa là Vô Vi, Pháp Giới chẳng phải là Hữu Vi và cũng chẳng phải Vô Vi, và Vô Chướng Ngại Pháp Giới (無障礙法界, Pháp Giới không chướng ngại); và lập ra 5 loại sai biệt là Pháp Pháp Giới (法法界), Nhân Pháp Giới (人法界), Nhân Pháp Câu Dung Pháp Giới (人法俱融法界, Pháp Giới dung nhiếp của người và pháp), Nhân Pháp Câu Mẫn Pháp Giới (人法俱泯法界, Pháp Giới không có người và pháp), Vô Chướng Ngại Pháp Giới. Nếu quán từ hiện tượng và bản thể, có thể chia ra làm 4 nghĩa: gọi là Tứ Pháp Giới (四法界): (1) Pháp chỉ cho vạn pháp, giới là phân giới; các pháp đều vốn có tự thể mà phân giới bất đồng, bèn cấu thành trăm ngàn sai khác hiện tượng giới; đó gọi là Sự Pháp Giới (事法界). (2) Hiện tượng của các pháp tuy rất nhiều, nhưng thể tánh chân thật của nó thì thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như, vượt qua cả ngôn ngữ, văn tự, là cảnh giới của Thánh trí vắng lặng; đó gọi là Lý Pháp Giới (理法界). (3) Hiện tượng giới và bản thế giới có mối quan hệ nhất thể không hai; mỗi một pháp của chúng, tương tức tương nhập, một với nhiều không ngăn ngại, tự nhiên viên dung; đó gọi là Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới (理事無礙法界). (4) Hết thảy hiện tượng giới có tác dụng hỗ tương lẫn nhau, một là tất cả, tất cả là một, trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại; đó gọi là Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới (事事無礙法界). Ngoài ra, do vì duyên khởi trùng trùng vô tận, nên gọi là Pháp Giới Duyên Khởi (法界緣起). Mật Giáo lấy 6 Đại (đất, nước, lửa, gió, không, thức) làm thể tánh của Pháp Giới; cho đó là Tam Ma Da Thân (三摩耶身) của Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來). Cung điện của Ngài gọi là Pháp Giới Cung (法界宮), định của Ngài là Pháp Giới Định (法界定), ấn quyết là Pháp Giới Định Ấn (法界定印), năng lực gia trì là Pháp Giới Gia Trì (法界加持). Mật Giáo còn thuyết về Ngũ Trí Ngũ Phật (五智五佛), lấy đức Đại Nhật Như Lai biểu thị cho Pháp Giới Thể Tánh Trí (法界體性智). Thiên Thai Tông thì lấy 10 Giới (Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, A Tu La, Người, Trời, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật) gọi chung là Thập Pháp Giới (十法界). Trong Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp Kinh (菩薩瓔珞本業經, Taishō Vol. 24, No. 1485) quyển Thượng có đoạn rằng: “Ư nhất Pháp Giới trung, hữu Tam Giới báo, nhất thiết hữu vi pháp, nhược phàm nhược thánh, nhược kiến trước, nhược nhân quả pháp, bất xuất Pháp Giới; duy Phật nhất nhân, tại Pháp Giới ngoại (於一法界中有三界報一切有爲法若凡若聖若見著若因果法不出法界唯佛一人在法界外, trong một Pháp Giới, có Ba Cõi báo, hết thảy pháp hữu vi, là phàm là thánh, là thấy chấp, là pháp nhân quả, không ra khỏi Pháp Giới; chỉ có một mình Phật, ở ngoài Pháp Giới).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 6, Như Lai Hiện Tướng Phẩm (如來現相品) thứ 2, lại có đoạn: “Phật thân sung mãn ư Pháp Giới, phổ hiện nhất thiết chúng sanh tiền, tùy duyên phó cảm mị bất châu, nhi hằng xử thử Bồ Đề tọa (佛身充滿於法界普現一切眾生前隨緣赴感靡不周而恆處此菩提座, thân Phật tròn đầy nơi Pháp Giới, hiện khắp trước mặt các chúng sanh, tùy duyên cảm ứng cùng nơi chốn, vẫn luôn an trụ Bồ Đề tòa).”
  14. Vi trần (s, p: au-raja, au-rajas, 微塵): nhỏ như bụi trần, âm dịch là A Noa (阿拏), A Nậu (阿耨); gọi riêng là vi (), trần (); tức là sắc lượng nhỏ nhất do Nhãn Căn nhận lấy được. Cực nhỏ là đơn vị nhỏ nhất tồn tại của sắc pháp được thuyết trong A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 10, 12. Lấy một cái cực nhỏ làm trung tâm, bốn phương trên dưới tụ tập đồng nhất cực nhỏ mà thành một khối, tức gọi là vi trần. Hợp 7 cực vi thì thành một vi trần; 7 vi trần thành một kim trần (金塵); 7 kim trần thành một thủy trần (水塵). Ngoài ra, các kinh luận cũng lấy vi trần tỷ dụ cho số lượng cực nhỏ, lấy số vi trần để dụ cho số cực lớn. Trong Bắc Tề Thư (北齊書), truyện Phàn Tốn (樊遜傳), có đoạn: “Pháp vương tự tại, biến hóa vô cùng, trí thế giới ư vi trần, nạp Tu Di ư thử mễ (法王自在變化無窮世界於微塵納須彌於黍米, Pháp vương tự tại, biến hóa vô cùng, bỏ thế giới trong hạt bụi, gom Tu Di nơi hạt lúa).” Hay trong Phật Thuyết Thập Địa Kinh (佛說十地經, Taishō Tripitaka Vol. 10, No. 287) quyển 6 cũng có đoạn: “Ư nhất mao đoan bách thiên ức, na dữu đa quốc vi trần số, như thị vô lượng chư như lai, ư trung an tọa thuyết diệu pháp (於一毛端百千億那庾多國微塵數如是無量諸如來於中安坐說妙法, trên đầu mảy lông trăm ngàn ức, muôn vạn nước bụi trần số, như vậy vô lượng các Như Lai, trong đó an tọa thuyết pháp mầu).” Hoặc trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) có bài niệm hương rằng: “Thử nhất biện hương, bất tùng thiên giáng, khởi thuộc địa sanh, Lưỡng Nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung tắc, Tam Giới nhất khí, tài phân chi hậu, chi diệp biến mãn thập phương, siêu nhật nguyệt chi quang hoa, đoạt sơn xuyên chi tú lệ, tức Giới tức Định tức Tuệ, phi mộc phi hỏa phi yên, thâu lai tại nhất vi trần, tán xứ phổ huân pháp giới, nhiệt hướng lô trung, chuyên thân cúng dường, thường trú Tam Bảo, sát hải vạn linh, lịch đại Tổ sư, nhất thiết Thánh chúng, hà sa phẩm loại, u hiển Thánh phàm, tất trượng chơn hương, phổ đồng cúng dường (此一瓣香不從天降豈屬地生兩儀未判之先根源充塞三界一氣纔分之後枝葉遍滿十方超日月之光華山川之秀麗卽戒卽定卽慧非木非火非煙收來在一微塵散處普薰法界爇向爐中專伸供養常住三寶剎海萬靈歷代祖師一切聖眾河沙品類幽顯聖凡悉仗眞香普同供養, một nén hương nầy, không từ trời xuống, sao thuộc đất sanh, Lưỡng Nghi [âm dương] chưa phân đầu tiên, nguồn căn đầy ắp, Ba Cõi một khí, mới chia sau đó, cành lá biến khắp mười phương, siêu trời trăng ấy rực sáng, vượt núi sông bao tú lệ, là Giới là Định là Tuệ, chẳng gỗ chẳng lửa chẳng khói, thâu vào trong một bụi trần, tan biến khắp xông pháp giới, rực hướng lò hương, thành tâm cúng dường, thường trú Tam Bảo, tất cả sinh linh, bao đời Tổ sư, hết thảy Thánh chúng, hà sa các loài, ẩn hiện Thánh phàm, đều nhờ chơn hương, cúng dường khắp cùng).”
  15. Sát độ (): chỉ quốc độ, cõi nước. Sát (s: ketra, ), âm dịch là Sai Đa La (多羅), Hột Sai Đát La (紇差呾羅); ý dịch là ruộng đất. Như trong Phật Thuyết Thập Địa Kinh (佛說十地經, Taishō Vol. 10, No. 287) quyển 8, có câu: “Như Lai an tọa nhất sát độ, nhất thiết thế giới tất hiện thân (如來安坐一剎土一切世界悉現身, Như Lai ngồi một quốc độ, hết thảy thế giới đều hiện thân).” Hay trong Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (仁王護國般若波羅蜜多經, Taishō Vol. 8, No. 246) lại có đoạn: “Phục thứ, Thuận Nhẫn Bồ Tát ! Vị Diệm Huệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, năng đoạn Tam Chướng, tâm phiền não phược, năng ư nhất thân biến vãng thập phương ức Phật sát độ, hiện bất khả thuyết thần thông biến hóa, lợi lạc chúng sanh (復次順忍菩薩謂焰慧地難勝地現前地能斷三障心煩惱縛能於一身遍往十方億佛剎土現不可說神通變化利樂眾生, Lại nữa, nầy Thuận Nhẫn Bồ Tát ! Rằng Diệm Huệ Địa, Nan Thắng Địa, Hiện Tiền Địa, có thể đoạn Ba Chướng, tâm phiền não trói buộc, có thể nơi một thân mà biến qua mười phương ức cõi nước Phật, hiện thần thông biến hóa không thể bàn, làm lợi lạc chúng sanh).”
  16. Kim Cang Mật Tích (s: Guhyapāda-vajra, 金剛密跡): còn gọi là Mật Tích Kim Cang (密跡金剛), Mật Tích Lực Sĩ (密跡力士), Kim Cang Thủ Dược Xoa (金剛手藥叉), Kim Cang Lực Sĩ (金剛力士), Kim Cang Mật Tích Đại Quỷ Thần Vương (金剛密跡大鬼神王); là loại quỷ thần có thần lực, thuộc thần thủ hộ của Phật Giáo, là một trong 20 vị trời, do Tỳ Sa Môn Thiên (s: Vaiśravaa, p: Vessavaa, 毘沙門天) thống quản. Nguyên lai vị nầy là thị giả của Tỳ Nữu Thiên (s: Viṣṇu, 毘紐天). Vị trí của Mật Tích Kim Cang thấp hơn Đế Thích Thiên và Tỳ Sa Môn Thiên, hiện hình tướng giận dữ, tay cầm Chày Kim Cang (s: vajra, 金剛杵, Kim Cang Chử); thống lãnh 500 Kim Cang Lực Sĩ (s: Vajradhāra, 金剛力士, thần Dạ Xoa), chủ yếu phòng thủ cửa ra vào cõi trời. Vị nầy cư trú tại Khoáng Dã Thành (曠野城, tức A La Tỳ Quốc [s: Alāvī, p: Ālavī, 阿羅毗國]); sau khi đức Thích Tôn thành đạo, thường theo hầu bên Ngài, chịu trách nhiệm bảo vệ Phật, hàng phục ngoại đạo cũng như quỷ thần. Phật Giáo Đại Thừa tôn thờ Mật Tích Kim Cang như là Bồ Tát hóa thân. Tương truyền, trong thời quá khứ, vị nầy có tên là Thái Tử Pháp Ý (法意), từng thệ nguyện bảo vệ cho ngàn vị huynh trưởng, cho đến khi nào những người nầy thành Phật mới thôi. Một trong những huynh trưởng đó là Thái Tử Pháp Niệm (法念), tức là Phạm Thiên. Nhân vì bảo hộ cho đức Phật lâu dài, Phật Giáo thời kỳ đầu cũng tín phụng, Mật Tích Kim Cang đã lãnh thọ nhiều giáo pháp từ Ngài. Mật Tông kính ngưỡng Mật Tích Kim Cang là hóa thân của Bồ Tát Kim Cang Thủ (s: Vajra-pāi, Vajra-dhara, 金剛手). Hình tượng vị nầy thường đứng thủ hộ hai bên phải trái ngay cổng tự viện Phật Giáo, vị mở miệng (dạng A []) và vị ngậm miệng (dạng Hồng []), mình trần với gân cốt rắn chắc nỗi cộm, hung dữ. Trong Thiên Thủ Quan Âm Tạo Thứ Đệ Pháp Nghi Quỹ (千手觀音造次第法儀軌, Taishō Vol. 20, No. 1068) có đoạn rằng: “Mật Tích Kim Cang Sĩ, xích hồng sắc cụ tam nhãn, hữu trì Kim Cang Chử, tả thủ quyền an yêu (密跡金剛士赤紅色具三眼右持金剛杵左手拳安腰, Mật Tích Kim Cang Sĩ, màu đỏ hồng đủ ba mắt, tay phải cầm Chày Kim Cang, tay trái nắm chặt để ngang lưng).” Hay trong Phật Nhập Niết Bàn Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Ai Luyến Kinh (佛入涅槃密跡金剛力士哀戀經, Taishō Vol. 12, No. 394) lại có đoạn rằng: “Mâu Ni Thế Tôn tại Câu Thi Na Thành Ta La lâm gian, Bắc thủ nhi ngọa, sơ nhập Niết Bàn thời, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ, kiến Phật diệt độ bi ai áo não (牟尼世尊在拘尸那城娑羅林間北首而臥初入涅槃時密跡金剛力士見佛滅度悲哀懊惱, đức Mâu Ni Thế Tôn tại Thành Câu Thi Na, trong rừng Ta La, nằm xoay mặt về hướng Bắc, khi mới nhập Niết Bàn, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ, thấy Phật diệt độ thì buồn rầu áo não).”
  17. Bát Bộ (八部): tức Tám Bộ Chúng trời rồng bảo vệ Phật pháp, còn gọi là Thiên Long Bát Bộ (龍八部), gồm Trời (s: deva, ), Rồng (s: nāga, ), Dạ Xoa (s: yaka, 夜叉), Càn Thác Bà (s: gandharva, 乾闥婆, Hương Thần [香神] hay Nhạc Thần [樂神]), A Tu La (s: asura, 阿修羅), Ca Lâu La (s: garua, 迦樓羅, Kim Xí Điểu [金翅鳥]), Khẩn Na La (s: kinara, 緊那羅, phi nhân, ca nhân), Ma Hầu La Già (s: mahoraga, 摩睺羅伽, Đại Mãng Thần [大蟒神]). Vì trong Tám Bộ Chúng nầy, Trời và Rồng đứng đầu, nên có tên là Thiên Long Bát Bộ. Tuy khác nhau về chủng loại, nhưng họ đều quy phục uy đức của Phật và trở thành quyến thuộc của Ngài để hộ trì Phật pháp. Từ xa xưa, tại Trung Quốc cũng như Nhật Bản đã có tạo lập tranh tượng của Tám Bộ Chúng nầy rồi. Trong bài thơ Tống Thâm Pháp Sư Du Nam Nhạc (送深法師游南岳) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Thập phương truyền cú kệ, Bát Bộ hội đàn tràng (十方傳句偈八部會壇塲, mười phương truyền câu kệ, Tám Bộ gặp đàn tràng).” Hay trong Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chơn Ngôn Kinh (不空罥索神變眞言經, Taishō Vol. 20, No. 1092) quyển 7, phẩm Hộ Ma Tăng Ích (護摩增益品) thứ 7, lại có đoạn: “Nhược hữu hữu tình như pháp tu học, thường sử Tứ Thiên Vương, nhất thiết Thiên Long Bát Bộ quỷ thần, giai đương hộ hựu (若有有情如法修學常使四天王一切天八部鬼神皆當護祐, nếu có hữu tình như pháp tu học, thường khiến cho Tứ Thiên Vương, hết thảy Tám Bộ Trời Rồng quỷ thần, đều sẽ giúp đỡ).”
  18. Bà La Môn Tiên (婆羅門仙[]): còn gọi là Bán Thiên Bà La Môn (半天婆羅門), vị tiên thuộc thế giới quỷ, là một trong những đối tượng được cúng dường thức ăn trong Thí Ngạ Quỷ Hội (施餓鬼會) hay Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn. Thích Môn Chánh Thống (釋門正統, Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1513) quyển 4 giải thích rằng: “Sở vị khoáng dã quỷ tinh Ha Lợi Đế Mẫu giả, kim vi Phật đệ tử, mỗi thực tất xuất sanh phạn giả thị dã; sở vị Diệm Khẩu Quỷ cập Bà La Môn Tiên giả, kim vi Phật đệ tử, chí tâm sở biện hộc thực giả thị dã (所謂曠野鬼幷訶利帝母者今爲佛弟子每食必出生飯者是也所謂焰口鬼及婆羅門僊者今爲佛弟子至心所辨斛食者是也, gọi là quỷ đồng trống cùng với Ha Lợi Đế Mẫu [Quỷ Tử Mẫu Thần], nay trở thành đệ tử Phật, là những vị mỗi khi ăn thì phải xuất sanh cơm cho họ vậy; gọi là Quỷ Miệng Bốc Lửa và Bà La Môn Tiên, nay trở thành đệ tử Phật, là những vị chí tâm phân biệt các hộc thức ăn vậy).” Hay trong Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh (佛說救拔焰口餓鬼陀羅尼經, Taishō Vol. 21, No. 1313) lại có đoạn rằng: “Như kim nhược năng thí ư bách thiên Na Do Tha Hằng hà sa số ngạ quỷ, cập bách thiên Bà La Môn Tiên đẳng chủng chủng ẩm thực, nhữ đắc tăng thọ (汝今若能施於百千那由他恆河沙數餓鬼及百千婆羅門仙等種種飲食汝得增壽, ngươi nay nếu có thể bố thí cho trăm ngàn Na Do Tha Hằng hà sa số ngạ quỷ, cùng với trăm ngàn Bà La Môn Tiên vân vân các loại thức ăn uống, ngươi được tăng tuổi thọ).”
  19. Thánh chúng (聖眾): chủ yếu chỉ đức Phật, Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺), Thanh Văn (s: śrāvaka, p: sāvaka, 聲聞), v.v. Tăng Nhất A Hàm (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) quyển 45 có nêu ra 6 hạng Thánh chúng, gồm: (1) Tu Đà Hoàn (s: srota-āpanna, p: sotāpanna, 須陀洹, hay Dự Lưu [預流]), (2) Tư Đà Hàm (s: sakd-āgāmin, p: sakad-āgāmin, 斯陀含, hay Nhất Lai [一來]), (3) A Na Hàm (s, p: anāgāmin, 阿那含, hay Bất Lai [不來]), (4) A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢), (5) Bích Chi Phật (s: pratyeka-buddha, 辟支佛), và (6) Phật. Trong Phật Thuyết Tôn Thắng Đại Minh Vương Kinh (佛說尊勝大明王經, Taishō Vol. 21, No. 1413) có đoạn rằng: “Quy mạng nhất thiết chư Phật, nhất thiết tôn pháp, nhất thiết Thánh chúng; hựu phục quy mạng đại bi Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát (歸命一切諸佛一切尊法一切聖眾又復歸命大悲觀自在菩薩摩訶薩, kính lễ hết thảy chư Phật, hết thảy giáo pháp, hết thảy Thánh chúng; lại thêm kính lễ đại bi Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát).” Hay trong Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận (釋淨土群疑論, Taishō Vol. 47, No. 1960) cũng có đoạn: “Do Tịnh Độ nghiệp cảm sanh thời thục, Thánh chúng lai nghênh, quy thú Tịnh Độ, xả Ta Bà uế chất, thành Cực Lạc tịnh thân (由淨土業感生時熟聖眾來迎歸趣淨土捨娑婆穢質成極樂淨身, do đến lúc nghiệp cảm sanh về cõi Tịnh Độ đã chín, Thánh chúng đến nghinh đón, quay về Tịnh Độ, bỏ chất nhơ nhớp chốn Ta Bà, thành thân trong sạch cõi Cực Lạc).”
  20. Đoạn vănKim Cang Mật Tích … nhất thiết Thánh chúng” được tìm thấy trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển Hạ.
  21. Thánh triết (聖哲): chỉ đạo đức tài trí siêu nhân, cũng chỉ cho người có đạo đức tài trí; cũng dùng chỉ cho đế vương. Trong Tả Truyện (左傳), phần Văn Công Lục Niên (文公六年), có đoạn: “Cổ chi vương giả, tri mạng chi bất trường, thị dĩ tinh kiến Thánh triết (古之王者知命之不長是以幷建聖哲, vua ngày xưa, biết mạng không lâu dài, cho nên mới lập đạo đức tài trí).” Hay trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 3, phần Kiện Đà La Quốc Ca Nị Sắc Ca Vương (健馱邏國迦膩色迦王), lại có đoạn rằng: “Vương nãi tuyên lịnh viễn cận, chiêu tập Thánh triết, ư thị tứ phương bức thấu, vạn lí tinh trì, anh hiền tất tụy(王乃宣令遠近召集聖哲於是四方輻湊萬里星馳英賢畢萃, nhà vua bèn tuyên lệnh xa gần, chiêu tập tài đức, do đó bốn phương tập trung, vạn dặm bôn ba, hiền sĩ tụ họp).”
  22. Vương quan (王官): có hai nghĩa. (1) Là quan viên của vương triều. Như trong bài thơ Vương Mạng (王命) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Thâm hoài dụ Thục ý, đỗng khốc vọng vương quan (深懷喻蜀意哭望王官, nhớ hoài rõ ý Thục, gào khóc trông vương quan).” Hay trong Cô Trung Tùy Bút (菰中隨筆) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh cũng có câu: “Triều đình thường thu kỳ tuấn vĩ, dĩ bổ vương quan chi khuyết (朝廷常收其俊偉以補王官之缺, triều đình thường thâu nạp người tuấn kiệt, để bổ sung sự thiếu sót của vua quan).” (2) Là thuộc quan của Phiên Vương Phủ (王府). Như trong Cảnh Thế Thông Ngôn (警世通言), phần Triệu Xuân Nhi Trọng Vượng Tào Gia Trang (趙春兒重旺曹家莊), có đoạn: “Nhất niên nhị tải, tựu thăng nhĩ cố vương quan, hữu quan vô chức (一年二載就陞你做王官有官無職, một hai năm, lại thăng ngươi lên làm chức quan, hữu danh mà vô thực).”
  23. Minh Vương (冥王): tục xưng của Diêm La (閻羅), đấng chủ tể của cõi âm. Như trong Tân Tề Hài (新齊諧), phần Tạ Đàn Hà (謝檀霞), của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh có đoạn: “Hốt mộng lại sổ nhân đột chí kỳ gia, trách dĩ thoát miễn chi tội, vị Minh Vương hách nộ, tương trùng án kỳ sự (忽夢吏數人突至其家以脫免之罪謂冥王赫怒重按其事, chợt mộng thấy quan lại mấy người đột nhiên đến nhà ông ấy, tra hỏi về tội được thoát miễn, bảo rằng Minh Vương đùng đùng nổi giận, đem xét xử lại việc nầy).” Hay như trong Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1541) quyển Hạ, phần Ngô Việt Vĩnh Minh Tự Trí Giác Thiền Sư (吳越永明寺智覺禪師), lại có đoạn: “Niên cửu thập bát, phần hương già phu nhi tịch, tháp ư Đại Từ Sơn, Minh Vương hội tượng đảnh lễ (年九十八焚香跏趺而寂塔於大慈山冥王繪像頂禮, năm 98 tuổi, Thiền Sư xông hương ngồi xếp bằng mà tịch diệt, tháp dựng tại Đại Từ Sơn, Minh Vương vẽ tượng đảnh lễ).”
  24. Phong Đô (酆都): chỉ cho nơi trú ngụ ở quỷ thần. Như trong Tây Dương Tạp Trở (酉陽雜俎), phần Ngọc Cách (玉格), của Đoàn Thành Thức (段成式, 803?-863) nhà Đường, giải thích rằng: “Hữu La Phong Sơn, tại Bắc phương Quý địa, chu hồi tam vạn lí, cao nhị thiên lục bách lí, động thiên lục cung, chu nhất vạn lí, cao nhị thiên lục bách lí, thị vi Lục Thiên quỷ thần chi cung … tử nhân giai chí kỳ trung (有羅酆山在北方癸地周迴三萬里高二千六百里洞天六宮周一萬里高二千六百里是爲六天鬼神之宮死人皆至其中, có La Phong Sơn, tại phương Bắc đất Bắc, chu vi ba vạn dặm, cao hai ngàn sáu trăm dặm, động trời sáu cung, chu vi một vạn dặm, cao hai ngàn sáu trăm dặm, chính là sáu cung quỷ thần, … người chết đều đến các cung nầy).” Nguyên lai, từ Phong Đô được dùng để chỉ cho La Phong Sơn, nơi ngự trị của quỷ thần; nhưng về sau được dùng để ám chỉ huyện Phong Đô (豐都縣) ở tỉnh Tứ Xuyên (四川省). Trong tác phẩm Trà Hương Thất Tùng Sao (茶香室叢鈔), phần Phong Đô Âm Quân (酆都陰君), của Du Việt (兪樾, 1821-1907) nhà Thanh, còn cho biết rằng: “Phong Đô huyện Bình Đô Sơn vi Đạo thư thấp thập nhị phước địa chi nhất, nghi vi thần tiên quật trạch, nhi thế nãi truyền vi quỷ bá sở cư, thù bất khả giải (酆都縣平都山爲道書七十二福地之一神仙窟宅而世乃傳爲鬼伯所居殊不可解, Bình Đô Sơn ở huyện Phong Đô là một trong 72 vùng đất phước của Đạo Giáo, có lẽ là nhà cửa hang động của thần tiên, mà thế gian tương truyền là nơi quỷ thần cư trú, thật lạ không hiểu được).” Trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú (地藏本願經科註, Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 384) quyển 4 có liệt kê tên một số quan viên dưới Địa Ngục như: “Đông Nhạc Phủ Hữu Thái Bảo, Truy Nhiếp Sinh Hồn Ngạc Nguyên Soái, Truy Nhiếp Tử Hồn Mạnh Nguyên Soái, Phong Đô Cửu Khúc Truy Hồn Trảm Quỷ Vi Nguyên Soái (東嶽府有太保追攝生魂鄂元帥追攝死魂孟元帥酆都九曲追魂斬鬼韋元帥).” Hay trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1248) có đoạn rằng: “Phong Đô giới nội Minh Phủ Thập Điện Từ Vương, Tam Đồ Lục Thú Bát Nạn Tứ Sanh chư hữu tình chúng, thống Tam Giới nhược u nhược hiển, biến thập phương nãi thánh nãi phàm (酆都界內冥府十殿慈王三塗六趣八難四生諸有情眾統三界若幽若顯遍十方乃聖乃凡, trong cõi Phong Đô Minh Phủ Thập Điện Từ Vương, Ba Đường Sáu Nẻo Tám Nạn Bốn Loài các chúng hữu tình, thống lãnh Ba Cõi hoặc ẩn hoặc hiện, biến khắp mười phương ấy thánh ấy phàm).”
  25. Hoành tử, hoạnh tử (): còn gọi là Phi Thời Tử (非時死), Bất Lự Tử (不慮死), Sự Cố Tử (事故死); chỉ cho những người chết không phải do vì nhân nghiệp quả của đời trước, mà do vì tai họa bất ngờ. Hoạnh tử có 9 loại: (1) Có bệnh nhưng không thầy thuốc mà chết; (2) Bị chém chết do phép vua; (3) Chết do loài không phải người đoạt mất tinh khí; (4) Bị chết do lửa thiêu cháy; (5) Bị chết đuối; (6) Chết do bị ác thú ăn; (7) Chết do bị rớt xuống vực thẳm; (8) Chết do bị thuốc độc, bùa chú thư yểm; (9) Chết do bị đói khát. Trong Tống Thư (宋書), phần Liễu Nguyên Cảnh Truyện (柳元景傳), có đoạn: “Thế Tổ băng, Nghĩa Cung, Nguyên Cảnh đẳng tinh tương vị viết: ‘Kim nhật thỉ miễn hoạnh tử’ (世祖崩義恭元景等幷相謂曰今日始免橫死, vua Thế Tổ băng hà, Nghĩa Cung, Nguyên Cảnh, v.v., cùng bảo rằng: ‘Hôm nay bắt đầu khỏi hoạnh tử rồi !’).” Trong Thập Nhị Phẩm Sanh Tử Kinh (十二品生死經, Taishō Vol. 17, No. 753), đức Phật có thuyết về 12 trường hợp chết, trong đó có hoạnh tử. Trong Hư Không Tạng Bồ Tát Vấn Thất Phật Đà La Ni Chú Kinh (虛空藏菩薩問七佛陀羅尼咒經, Taishō Vol. 21, No. 1333) thì dạy rằng: “Nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân thọ trì thử chú giả, nhược độc nhược tụng, nhược phục hữu nhân suy mịch thử chú giả, nhược nhạo thính văn giả, thị nhân bất vi nhất thiết đao trượng sở hại, bất vi nhất thiết thủy nịch, bất vi nhất thiết khổ hoạn sở trì, bất thọ nhất thiết hoạnh tử (若有善男子善女人受持此咒者若讀若誦若復有人推覓此咒者若樂聽聞者是人不爲一切刀仗所害不爲一切水溺不爲一切苦患所持不受一切橫死, nếu có người thiện nam, thiện nữ nào thọ trì chú nầy, hoặc đọc hoặc tụng, nếu lại có người tìm tòi chú nầy, nếu thích lắng nghe, người ấy không bị tất cả đao gậy xâm hại, không bị tất cả chết đuối, không bị tất cả hoạnh tử).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 3 lại có câu thỉnh rằng: “Nhất tâm phụng thỉnh, thập phương pháp giới Diệm Khẩu quỷ vương, Tam Phẩm Cửu Loại chư Ngạ Quỷ chúng, hoạnh tử cô hồn, tinh chư quyến thuộc (一心奉請十方法界燄口鬼王三品九類諸餓鬼眾橫死孤魂幷諸眷屬, một lòng phụng thỉnh mười phương pháp giới Diệm Khẩu [miệng bốc lửa] quỷ vương, Ba Phẩm Chín Loài các chúng Ngạ Quỷ, hoạnh tử cô hồn, cùng các quyến thuộc).”
  26. Vô già (無遮): không ngăn chận, che đậy, cản trở, bao dung quảng đại, độ thoát hết tất cả, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, tăng tục, trí ngu, thiện ác, v.v. Như trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 1 có câu: “Như Lai khai xiển vô già, độ chư nghi báng (如來開闡無遮度諸疑謗, Như Lai mở bày sự bao dung, độ những người nghi ngờ, phỉ báng).” Từ đó, từ nầy còn chỉ cho Vô Già Đại Hội (無遮大會) hay Vô Già Hội (s: pañca-vārika maha, 無遮會), tức là pháp hội bố thí một cách bình đẳng Tài Thí và Pháp Thí. Như trong bài thơ Linh Cốc Tự (靈谷寺) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh có câu: “Thất nhật Vô Già diên, huân thiên chúng hương úc (七日無遮筵天眾香郁, bảy ngày cỗ Vô Già, thơm hương trời ngào ngạt).” Hay trong Trần Thư (陳書), phần Cao Tổ Kỷ Hạ (高祖紀下), có đoạn rằng: “Canh Thìn, chiếu xuất Phật nha ư Đỗ Mụ trạch, tập tứ bộ thiết Vô Già Đại Hội, Cao Tổ thân xuất quan tiền lễ bái (庚辰詔出佛牙於杜姥宅集四部設無遮大會高祖親出闕前禮拜, vào năm Canh Thìn, nhà vua hạ chiếu đem răng Phật ra ở tư gia của Đỗ Mụ, tập trung bốn bộ nhạc công thiết lập Đại Hội Vô Già, vua Cao Tổ đích thân ra trước cổng lễ bái).” Trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) cũng có đoạn: “Như tích thí nhất Vô Già Hội, kim đắc như thị đại uy quyền (汝昔施一無遮會今得如是大威權, ngươi xưa bố thí Vô Già Hội, nay được như vậy đại uy quyền).” Trong Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Hạ lại có đoạn rằng: “Kim tắc Vô Già Hội khải, Quan Âm hiện Tiêu Diện chi hình; đại thí môn khai, tôn giả thiết Ma Già chi hộc, thỉnh Thất Như Lai nhi tác chứng (今則無遮會啟觀音現焦面之形大施門開尊者設摩伽之斛請七如來而作證, nay lúc Vô Già Hội mở, Quan Âm hiện Tiêu Diện thân hình; thí thực cửa bày, tôn giả dọn Ma Già hộc cúng, thỉnh Bảy Như Lai mà chứng giám)”, hay “duy nguyện thừa Tam Bảo lực, trượng bí mật ngôn, thử dạ kim thời, lai thọ Vô Già Cam Lộ pháp thực (惟願承三寶力仗秘密言此夜今時來受無遮甘露法食, xin nguyện nương Tam Bảo lực, nhờ bí mật lời, đêm nay lúc nầy, đến thọ Vô Già Cam Lộ cơm pháp).”