CÁCH XƯNG HÔ TUỔI THEO
QUAN NIỆM TRUNG QUỐC
Tùy theo tuổi của người quá cố, có nhiều cách gọi khác nhau. Căn cứ vào Quốc Ngữ Từ Điển (國語辭典) của Bộ Giáo Dục Trung Quốc cho biết rằng:
“Người chết tùy theo số tuổi, tập tánh để xưng hô, trên 60 tuổi là hưởng thọ (享壽), chưa đủ 60 tuổi là hưởng niên (享年), dưới 30 tuổi là đắc niên (得年).”
Trường hợp đối với người qua đời chưa tròn 60 tuổi thì được gọi là hưởng niên hay hưởng dương (享陽); vì theo quan niệm của cổ nhân xưa kia, 60 là tuổi hoàn lịch (還曆), nghĩa là khi 10 Thiên Can (天幹[干], gồm Giáp [甲], Ất [乙], Bính [丙], Đinh [丁], Mậu [戊], Kỷ [己], Canh [庚], Tân [辛], Nhâm [壬], Quý [癸]) và 12 Địa Chi (地支, gồm Tý [子], Sửu [丑], Dần [寅], Mão [卯], Thìn [辰], Tỵ [巳], Ngọ [午], Mùi [未], Thân [申], Dậu [酉], Tuất [戌], Hợi [亥]) hợp lại với nhau, khởi đầu bằng can Giáp như Giáp Tý (甲子) thì phải 60 năm mới đúng chu kỳ vòng tròn của một kỷ niên, có cùng tuổi Giáp Tý. Từ đó, người qua đời ở tuổi 60 được gọi là hưởng hạ thọ (享下壽).
Đối với người mất ở tuổi 70, 80 thì được gọi là hưởng trung thọ (享中壽); 90 tuổi là hưởng thượng thọ (享上壽); 99 tuổi là hưởng bạch thọ (享白壽). Tuy nhiên, theo như cách viết Công Văn Sớ Điệp hiện hành ở Việt Nam, từ 80 đến 90 tuổi là thượng thọ; trên 90 tuổi là thượng thượng thọ (上上壽). Ngoài ra, cũng có cách viết che giấu tuổi để không ai biết người mất ở tuổi thọ nào; tỷ dụ như 65 tuổi thì viết là “vọng thất thập (望七十, hướng về 70 tuổi)”.
Nhân đây soạn giả cũng xin giới thiệu các cách xưng hô về tuổi tác của người xưa vẫn được truyền thừa cho đến ngày nay.
Trẻ nhỏ sơ sinh mới lọt lòng mẹ, cất tiếng khóc chào đời (0 tuổi), chưa tròn 1 tuổi, hay 2, 3 tuổi, được gọi là Hài Đề (孩提), Đề Hài (提孩), Cưỡng Bao (襁褓); như trong thơ của Hàn Dũ (韓愈, 768-814) có câu:
“Lưỡng gia các sanh tử, đề hài xảo tướng như (兩家各生子、提孩巧相如, hai nhà sanh con quý, hài nhi tướng như nhau).”
Năm lên 8 tuổi thì được gọi là Tổng Giác (總角); vì theo tục lệ xưa kia, người ta thường cột mái tóc trẻ em thành bím tóc ở hai bên đầu, có hình như cái sừng dê. Tổng Giác còn là từ dùng chung cho các em trẻ khoảng 8, 9 cho đến 13, 14 tuổi. Hơn nữa, trong Thuyết Văn (說文) có giải thích rằng:
“Nam bát nguyệt sanh xỉ, bát tuế nhi sấn; nữ thất nguyệt sanh xỉ, thất tuế nhi sấn (男八月生齒、八歲而齔、女七月生齒、七歲而齔, nam tám tháng mọc răng, tám tuổi mọc răng già; nữ bảy tháng mọc răng, bảy tuổi mọc răng già).”
Cho nên trẻ em 7, 8 tuổi còn được gọi là Đồng Sấn (童齔). Trẻ lên 9 tuổi là Cửu Linh (九齡).
Từ 13 đến 16 tuổi là Đậu Khấu (荳蔻); vì Đậu Khấu là một loại thực vật chỉ nở hoa vào đầu mùa Hạ, cho nên nó được dùng để ví dụ cho người vị thành niên và thời đại vị thành niên là “Đậu Khấu Niên Hoa (荳蔻年華)”. Từ nầy còn dùng cho người nữ 13 tuổi.
Đối với người 15 tuổi được gọi là Cập Kê (及笄). Nguyên lai kê (笄) là cây trâm dùng cài vào tóc để buộc tóc lại cho khỏi bung ra. Xưa kia, người sau tuổi 15 thường phải búi tóc và cài trâm, thể hiện mình đã thành niên rồi.
Riêng người nam, khi đến 20 tuổi thì búi tóc và đội mũ để thành nhân, nên có tên gọi là Kết Phát (結發), Thúc Phát (束發).
Ngoài ra, người ở tuổi 15 còn được gọi là Chí Học (志學); vốn xuất xứ từ lời dạy “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học (吾十有五而志于學, ta đến mười lăm tuổi thì có chí học)” của Khổng Tử (孔子) trong Luận Ngữ (論語), chương Vi Chính (爲政).
Người 16 tuổi là Nhị Bát (二八, 2 nhân 8 bằng 16).
Đến 20 tuổi được gọi là Gia Quan (加冠) hay Nhược Quan (弱冠); vì theo tập tục ngày xưa, người nam đến 20 tuổi thì phải làm lễ đội mũ để đánh dấu bước ngoặc thành niên.
Vào tuổi 30 thì có tên gọi là Nhi Lập (而立) theo lời dạy “Tam thập nhi lập (三十而立, Ba mươi tuổi thì lập thân)” của Khổng Tử trong Luận Ngữ, chương Vi Chính; hay Thỉ Thất (始室) như trong phần Nội Tắc (內則) của Lễ Ký (禮記) có dạy rằng:
“Tam thập nhi hữu thất, thỉ lý nam sự (三十而有室、始理男事, Ba mươi tuổi thì lập gia thất, bắt đầu hiểu việc người nam).”
Người 40 tuổi là Bất Hoặc (不惑), căn cứ vào câu “Tứ thập nhi bất hoặc (四十而不惑, Bốn mươi tuổi thì không còn mê mờ)” của Khổng Tử trong Luận Ngữ, chương Vi Chính.
Đến 50 tuổi được gọi là Ngãi (艾), Bán Bách (半百), Tri Mạng (知命), Tri Thiên Mạng (知天命). Ngãi là từ chỉ cho tuổi già, như trong phần Khúc Lễ Thượng (曲禮上) của Lễ Ký có giải thích rằng:
“Ngũ thập viết Ngãi (五十曰艾, năm mươi tuổi gọi là Ngãi).”
Tri Mạng, Tri Thiên Mạng (知天命) thì căn cứ vào câu “Ngũ thập nhi tri thiên mạng (五十而知天 命, Năm mươi tuổi thì biết được mạng trời)” của Khổng Tử trong Luận Ngữ, chương Vi Chính.
Người sống đến 60 tuổi được xem như có tuổi thọ, được gọi là Nhĩ Thuận (耳順), Hoàn Lịch (還曆), Hoa Giáp(花甲). Từ Nhĩ Thuận nghĩa là thuận theo lời người nói mà lắng nghe, không tranh cãi; có xuất xứ từ câu “Lục thập nhi nhĩ thuận (六十而耳順, Sáu mươi tuổi thì thuận theo lắng nghe).” Hoàn Lịch, Hoa Giáp là từ ám chỉ người đã sống được trọn chu kỳ của một niên kỷ 60 năm.
Qua đến 61 tuổi được gọi là Hoàn Lịch Thọ (還曆壽), tức bắt đầu một chu kỳ mới của 60 năm khác.
Người thọ đến 70 tuổi có tên gọi là Tùng Tâm (從心), Cổ Hy (古稀), Huyền Xa (懸車, nương vào xe), Trượng Vi (杖圍, chống gậy). Từ Tùng Tâm căn cứ vào câu “Thất thập nhi tùng tâm sở dục (七十而從心所欲, bảy mươi tuổi thì theo tâm muốn)” của Khổng Tử trong Luận Ngữ, chương Vi Chính. Cổ Hy thì xuất phát từ câu thơ “Tửu trái tầm thường hành xứ hữu, nhân sanh thất thập cổ lai hy (酒債尋常行處有、人生七十古來稀, rượu nợ tầm thường đâu chẳng có, bảy mươi người thọ hiếm xưa nay)” của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770); sau nầy, trong bài Cảm Thu Vịnh Ý (感秋詠意) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) cũng có câu tương tự như vậy:
“Cựu thoại tương truyền liêu tự úy, thế gian thất thập lão nhân hy (舊話相傳聊自慰、世間七十老人稀, chuyện cũ truyền nhau buồn an ủi, trên đời bảy chục hiếm lão nhân).”
Đến tuổi 77 có tên là Hỷ Thọ (喜壽), vì chữ hỷ (喜) khi viết theo lối chữ thảo thì gần giống với chữ thất thập thất (七十七, bảy mươi bảy).
Đến 80, 90 tuổi thì được gọi là Triêu Mai (朝枚), Triêu Chi (朝枝), Mạo Điệt (耄耋). Trong Nhĩ Nhã (爾雅), phần Thích Ngôn (釋言) có giải thích rằng: “Bát thập vi điệt (八十爲耋, tám mươi tuổi là Điệt).” Hơn nữa, Mao Truyện (毛傳) cũng cho rằng: “Điệt, lão dã; bát thập viết điệt (耋、老也、八十曰耋, điệt là người già, tám mươi tuổi là Điệt).” Người ở độ tuổi nầy còn có tên gọi khác là Tản Thọ (傘壽), vì thể hình chữ thảo của tản (傘) tương tự với bát thập (八十, tám mươi).
Đến 88 tuổi thì gọi là Mễ Thọ (米壽), vì nếu chiết tự chữ mễ (米) thì giống như bát thập bát (八十八).
Người sống đến 90 tuổi được gọi là Thượng Thọ; 99 tuổi là Bạch Thọ.
Người sống thọ đến 100 tuổi là Kỳ Di (期頤). Trong phần Khúc Lễ Thượng của Lễ Ký có giải thích rằng:
“Bách niên viết Kỳ Di (百年曰期頤, trăm tuổi gọi là Kỳ Di).”
Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) chú giải rằng:
“Kỳ, do yếu dã; Di, dưỡng dã; bất tri y phục thực vị, hiếu tử yếu tận dưỡng đạo nhi dĩ (期、猶要也、頤、養也、不知衣服食味、孝子要盡養道而已, Kỳ là cần thiết, Di là nuôi dưỡng; chẳng biết y phục, vị ăn, con hiếu cần phải nuôi dưỡng hết mình mới thôi)”.
Đến 108 tuổi thì được gọi là Trà Thọ (茶壽); do vì cấu trúc của chữ trà (茶) gồm phần trên là nhị thập (廿, 20), phần dưới là bát thập bát (八十八, 88), tổng cọng là 108; cho nên có tên gọi như vậy.
Ngoài ra, có một số các tên gọi khác đối với người già như Ban Bạch (斑白, tóc trắng lốm đốm), Hoàng Phát (黃發, tóc chuyển sang màu vàng), Hạo Thủ (皓首, đầu trắng), v.v. Người có tuổi thọ cao còn được gọi là Cửu Thọ(久壽), Mi Thọ (眉壽), v.v.