22. Cáo Đẩu Văn
Nguyên văn:
告斗文
維皇號
大南國兼攝尊人府...欽奉
敕旨建壇于純毅堅太王祠奉
佛修齋諷經資福酬恩事、謹蠲今月...日、開三晝霄、周圓而散。兹則預先啟告、豎立旛柱、事關甚重、莫敢擅行、謹以金銀齋盤清酌庶品之儀、敢告于
太歲至德尊神、當境城隍尊神、本處土地正神、本處諸位靈神列位、鑒壇主使之神、普及侍從部下一切威靈、同垂炤鑒。曰
恭惟、尊神功參造化、德大聰明、護壇塲之完滿、保齋事以圓成、寔賴神明扶持之大力也。謹告。
Phiên âm:
CÁO ĐẨU1 VĂN
Duy Hoàng hiệu
Đại Nam Quốc Kiêm Nhiếp Tôn Nhân Phủ … khâm phụng sắc chỉ kiến đàn vu Thuần Nghị Kiên Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự; cẩn quyên kim nguyệt, … nhật, khai tam trú tiêu, châu viên nhi tán. Tư tắc dự tiên khải cáo, thụ lập phan2 trụ; sự quan thậm trọng, mạc cảm thiện hành; cẩn dĩ kim ngân trai bàn thanh chước thứ phẩm chi nghi, cảm cáo vu:
Thái Tuế3 Chí Đức Tôn Thần.
Đương Cảnh Thành Hoàng4 Tôn Thần.
Bổn Xứ Thổ Địa5 Chánh Thần.
Bổn Xứ Chư Vị Linh Thần liệt vị.
Giám Đàn Chủ Sứ6 Chi Thần.
Phổ cập thị tùng bộ hạ nhất thiết uy linh, đồng thùy chiếu giám. Viết.
Cung duy: Tôn thần công tham tạo hóa, đức đại thông minh; hộ đàn tràng chi hoàn mãn, bảo trai sự dĩ viên thành. Thật lại Thần minh phò trì chi đại lực dã. Cẩn cáo.
Dịch nghĩa:
VĂN CÁO SAO BẮC ĐẨU
Nay Hoàng Đế hiệu …
Việc Kiêm Nhiếp Tôn Nhân Phủ … nước Đại Nam, vâng mạng sắc chỉ lập đàn tại Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn; kính chọn ngày … tháng nầy; mở ba ngày đêm, tròn đầy cùng khắp. Nay là dự bị cáo trước, dựng lập phan trụ; việc rất quan trọng, không dám tự làm; kính lấy vàng bạc cỗ chay rượu trong vật mọn lễ nghi, xin cáo lên:
Thái Tuế Chí Đức Tôn Thần.
Đương Cảnh Thành Hoàng Tôn Thần.
Bổn Xứ Thổ Địa Chánh Thần.
Bổn Xứ Chư Vị Linh Thần các vị.
Giám Đàn Chủ Sứ linh thần.
Cùng khắp bộ hạ theo hầu hết thảy oai linh, cùng thương soi xét. Rằng:
Cúi nghĩ: Tôn thần công bằng tạo hóa, đức cả thông minh; hộ đàn tràng thêm hoàn mãn, giữ đại sự được viên thành. Ngưỡng nương thần minh phò trì với năng lực lớn. Kính cáo.
Chú thích:
- Cáo đẩu (告斗): hay cáo đấu (告鬥). Đấu (鬥) hay đẩu (斗) ở đây đều chỉ cho Bắc Đẩu Tinh Quân (北斗星君). Ngay từ thời thượng cổ, người Trung Quốc đã có tục lệ sùng bái sao Bắc Đẩu. Sao nầy là tôn thần của Đạo Giáo, chủ quản về vấn đề sanh tử của con người. Khoa nghi Cáo Đẩu (báo cáo lên tôn thần Bắc Đẩu) lấy nữ thần Đẩu Mỗ (斗姆, hay Đẩu Mụ [斗姥]) – mẹ của sao Bắc Đẩu) làm chủ thần. Thông qua khoa nghi, dâng sớ tâu, cúng trà, đốt hương, các Đạo sĩ cung đón nữ thần Đẩu Mỗ quang lâm hạ giới; sau đó biến thần mời tướng, đốt đèn phá cõi tối tăm với mục đích giải trừ tai ách, thoát khổ nạn, thỉnh phước tiêu tai, tăng thêm tuổi thọ. Khoa nghi Cáo Đẩu nầy cũng thể hiện sự quan tâm của tín đồ Đạo Giáo đối với các vong linh ở chốn Địa Ngục, hy vọng thông qua nghi lễ như vậy, cầu thỉnh sao Bắc Đẩu thương tưởng đến các vong hồn ấy, giúp họ thoát khỏi Địa Ngục, sanh lên cõi tiên. Nghi thức nầy cũng có ảnh hưởng đối với Phật Giáo, nên trong các đàn tràng trai sự Cầu Siêu lớn, thường thấy có nghi thức Cáo Đẩu với Cáo Đẩu Văn như trên. Tuy nhiên, vị sao được đề cập trong lòng văn ở trên lại là Thái Tuế (太歲), chứ không phải Bắc Đẩu.
- Phan (s: patākā, 旛、幡): âm dịch là Ba Đa Ca (波哆迦); hoặc có Phạn ngữ là ketu, âm dịch là Kế Đô (計都); là từ gọi chung của các cờ phan, là vật trang nghiêm để cúng dường chư Phật, Bồ Tát; thường đi chung với tràng phan (幢幡). Xưa kia tại Ấn Độ, phan có nhiều sắc thái khác nhau; nhưng tại Trung Quốc, dưới thời nhà Tùy (隋, 581-618), phan đã được sử dụng rất thịnh hành. Trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 7, phần Bố Thí Phật Phan Duyên (布施佛幡緣); Phật Thuyết Quán Đảnh Kinh (佛說灌頂經, Taishō Vol. 21, No. 1331) quyển 11, v.v., đều có đề cập đến công đức tạo lập phan như hàng phục được ma, tăng tuổi thọ, xa lìa nạn khổ, v.v. Về chủng loại, phan có rất nhiều loại khác nhau, tỷ dụ như Quán Đảnh Phan (灌頂旛), Mật Giáo dùng loại nầy để chạm lên đầu, với ý nghĩa trước hết thọ phép Quán Đảnh của Luân Vương, sau mới thọ phép Quán Đảnh quả vị Phật; Tục Mạng Thần Phan (續命神旛), hay Thọ Mạng Phan (壽命旛), là thần phan cầu thêm tuổi thọ và bảo vệ tánh mạng; Tiến Vong Phan (薦亡旛), hay Mạng Quá Phan (命過旛), có thể khiến cho người chết có được phước đức nơi Thân Trung Ấm để vãng sanh; Tín Phan (信旛) là loại phan dùng để truyền tín hiệu; Đình Phan (庭旛) là loại phan được sử dụng trong các nghi thức cầu mưa, v.v., tại đình miếu. Ngoài ra, tùy theo hình tượng trên lá phan mà có 5 loại khác nhau như: Sư Tử Phan (獅子旛), Mạc Yết La Phan (莫羯羅旛), Long Phan (龍旛), Yết Lộ Trà Phan (揭路荼旛), Ngưu Vương Phan (牛王旛). Về màu sắc, phan có 5 màu là xanh, vàng, đỏ, trắng và đen. Về chất liệu, cũng có nhiều loại phan khác nhau như loại bằng tơ lụa, vải, kim thuộc, ngọc thạch, v.v. Trong bài thơ Tây Tái Sơn Hoài Cổ (西塞山懷古) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Thiên tầm thiết tỏa trầm giang để, nhất phiến hàng phan xuất thạch đầu (千尋鐵鎖沉江底、一片降旛出石頭, ngàn thước vòng sắt chìm sông đáy, một mảnh hàng phan lộ đá đầu).”
- Thái Tuế (太歲): Mộc Tinh (木星, Jupiter), còn gọi là Tuế Tinh (歲星), Thái Âm (太陰), Tuế Âm (歲陰), Tuế Quân (歲君), Thái Tuế Tinh Quân (太歲星君), là tên gọi của vị thần trong Đạo Giáo Trung Quốc. Ngày xưa ngôi sao nầy được dùng để đếm tuổi nên có tên gọi như vậy, về sau biến thành một loại tín ngưỡng thần linh. Thái Tuế còn là tên của một trong Lưu Niên Tuế Số Thập Nhị Thần Sát (流年歲數十二神煞), lưu hành trong 12 tháng, với câu kệ là: “Thái Tuế đương đầu tọa, chư thần bất cảm đương, tự thân vô khắc hại, tu dụng khốc đa nương (太歲當頭坐、諸神不敢當、自身無剋害、須用哭爹娘, Thái Tuế ngay đầu tọa, các thần chẳng dám chường, tự thân không nguy hại, nên thương khóc mẹ cha).” Sao nầy có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao nầy nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phước thiện. Trong dân gian thường có từ “phạm Thái Tuế (犯太歲)”, “xung Thái Tuế (衝太歲)”, “hình Thái Tuế (刑太歲)” hay “thiên xung Thái Tuế (偏衝太歲)”. Tỷ dụ như năm nay là năm Tỵ (巳, con rắn), người tuổi con rắn là phạm Thái Tuế, tuổi Hợi (亥, con heo) là xung Thái Tuế; tuổi Thân (申, con khỉ) và Dần (寅, con cọp) là thiên xung Thái Tuế. Vì vậy, có câu ngạn ngữ rằng: “Thái Tuế đương đầu tọa, vô hỷ khủng hữu họa (太歲當頭坐、無喜恐有禍, Thái Tuế trên đầu ngự, chẳng vui e có họa).” Cho nên, người ta có tục lệ An Thái Tuế (安太歲), tức cúng sao giải hạn, cầu nguyện được vạn sự bình an, cát tường. Ngay từ buổi đầu, tục lệ An Thái Tuế rất giản dị. Tín đồ nào muốn cúng An Thái Tuế thì nên nhân dịp trước hay sau tiết Xuân, lấy giấy màu hồng hay vàng viết lên dòng chữ như “Bổn niên Thái Tuế Tinh Quân đáo thử (本年太歲星君到此, năm nay Thái Tuế Tinh Quân đến đây)”, “Bổn niên Thái Tuế Tinh Quân thần vị (本年太歲星君神位, thần vị của Thái Tuế Tinh Quân năm nay)”, “Nhất tâm kính phụngThái Tuế Tinh Quân (一心敬奉太歲星君, một lòng kính thờ Thái Tuế Tinh Quân)”, đem dán trong nhà, hằng ngày dâng hương cầu khấn. Đến cuối năm, nên đem giấy đó ra đốt với ý nghĩa là “tiễn Thần lên Trời.” Tương truyền trong vòng 60 năm, mỗi năm Trời phái một vị thần phụ trách năm ấy, quản lý toàn bộ việc phước họa của con người. Cho nên, trong thời gian 60 năm ấy có 60 vị Thái Tuế. Tín ngưỡng nầy có từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 220-589), và đến đầu thời nhà Thanh (清, 1616-1911) thì có tên họ rõ ràng của 60 vị thần Thái Tuế Tinh Quân. Tên của mỗi vị ứng vào các năm như sau: (1) Thái Tuế năm Giáp Tý là Kim Biện Tổ Sư (金辦祖師), (2) Thái Tuế năm Ất Sửu là Trần Tài Tổ Sư (陳材祖師), (3) Thái Tuế năm Bính Dần là Cảnh Chương Tổ Sư (耿章祖師), (4) Thái Tuế năm Đinh Mão là Thẩm Hưng Tổ Sư (沉興祖師), (5) Thái Tuế năm Mậu Thìn là Triệu Đạt Tổ Sư (趙達祖師), (6) Thái Tuế năm Kỷ Tỵ là Quách Xán Tổ Sư (郭燦祖師), (7) Thái Tuế năm Canh Ngọ là Vương Thanh Tổ Sư (王清祖師), (8) Thái Tuế năm Tân Mùi là Lý Tố Tổ Sư (李素祖師), (9) Thái Tuế năm Nhâm Thân là Lưu Vượng Tổ Sư (劉旺祖師), (10) Thái Tuế năm Quý Dậu là Khang Chí Tổ Sư (康志祖師), (11) Thái Tuế năm Giáp Tuất là Thí Quảng Tổ Sư (施廣祖師), (12) Thái Tuế năm Ất Hợi là Nhiệm Bảo Tổ Sư (任保祖師), (13) Thái Tuế năm Bính Tý là Quách Gia Tổ Sư (郭嘉祖師), (14) Thái Tuế năm Đinh Sửu là Uông Văn Tổ Sư (汪文祖師), (15) Thái Tuế năm Mậu Dần là Tằng Quang Tổ Sư (曾光祖師), (16) Thái Tuế năm Kỷ Mão là Long Trọng Tổ Sư (龍仲祖師), (17) Thái Tuế năm Canh Thìn là Đổng Đức Tổ Sư (董德祖師), (18) Thái Tuế năm Tân Tỵ là Trịnh Đán Tổ Sư (鄭但祖師), (19) Thái Tuế năm Nhâm Ngọ là Lục Minh Tổ Sư (陸明祖師), (20) Thái Tuế năm Quý Mùi là Ngụy Nhân Tổ Sư (魏仁祖師), (21) Thái Tuế năm Giáp Thân là Phương Kiệt Tổ Sư (方杰祖師), (22) Thái Tuế năm Ất Dậu là Tương Sùng Tổ Sư (蔣崇祖師), (23) Thái Tuế năm Bính Tuất là Bạch Mẫn Tổ Sư (白敏祖師), (24) Thái Tuế năm Đinh Hợi là Phong Tề Tổ Sư (封齊祖師), (25) Thái Tuế năm Mậu Tý là Trịnh Thang Tổ Sư (鄭鏜祖師), (26) Thái Tuế năm Kỷ Sửu là Phan Tá Tổ Sư (潘佐祖師), (27) Thái Tuế năm Canh Dần là Ổ Hoàn Tổ Sư (鄔桓祖師), (28) Thái Tuế năm Tân Mão là Phạm Ninh Tổ Sư (范寧祖師), (29) Thái Tuế năm Nhâm Thìn là Bành Thái Tổ Sư (彭泰祖師), (30) Thái Tuế năm Quý Tỵ là Từ Hoa Tổ Sư (徐華祖師), (31) Thái Tuế năm Giáp Ngọ là Chương Từ Tổ Sư (章詞祖師), (32) Thái Tuế năm Ất Mùi là Dương Tiên Tổ Sư (楊仙祖師), (33) Thái Tuế năm Bính Thân là Quản Trọng Tổ Sư (管仲祖師), (34) Thái Tuế năm Đinh Dậu là Đường Kiệt Tổ Sư (唐傑祖師), (35) Thái Tuế năm Mậu Tuất là Khương Võ Tổ Sư (姜武祖師), (36) Thái Tuế năm Kỷ Hợi là Tạ Đảo Tổ Sư (謝燾祖師), (37) Thái Tuế năm Canh Tý là Ngu Khởi Tổ Sư (虞起祖師), (38) Thái Tuế năm Tân Sửu là Dương Tín Tổ Sư (楊信祖師), (39) Thái Tuế năm Nhâm Dần là Hiền Ngạc Tổ Sư (賢諤祖師), (40) Thái Tuế năm Quý Mão là Bì Thời Tổ Sư (皮時祖師), (41) Thái Tuế năm Giáp Thìn là Lý Thành Tổ Sư (李誠祖師), (42) Thái Tuế năm Ất Tỵ là Ngô Toại Tổ Sư (吳遂祖師), (43) Thái Tuế năm Bính Ngọ là Văn Triết Tổ Sư (文哲祖師), (44) Thái Tuế năm Đinh Mùi là Mậu Bính Tổ Sư (繆丙祖師), (45) Thái Tuế năm Mậu Thân là Từ Hạo Tổ Sư (徐浩祖師), (46) Thái Tuế năm Kỷ Dậu là Trình Bảo Tổ Sư (程寶祖師), (47) Thái Tuế năm Canh Tuất là Nghê Bí Tổ Sư (倪秘祖師), (48) Thái Tuế năm Tân Hợi là Diệp Kiên Tổ Sư (葉堅祖師), (49) Thái Tuế năm Nhâm Tý là Kheo Đức Tổ Sư (丘德祖師), (50) Thái Tuế năm Quý Sửu là Chu Đắc Tổ Sư (朱得祖師), (51) Thái Tuế năm Giáp Dần là Trương Triều Tổ Sư (張朝祖師), (52) Thái Tuế năm Ất Mão là Vạn Thanh Tổ Sư (萬清祖師), (53) Thái Tuế năm Bính Thìn là Tân Á Tổ Sư (辛亞祖師), (54) Thái Tuế năm Đinh Tỵ là Dương Ngạn Tổ Sư (楊彥祖師), (55) Thái Tuế năm Mậu Ngọ là Lê Khanh Tổ Sư (黎卿祖師), (56) Thái Tuế năm Kỷ Mùi là Phó Đảng Tổ Sư (傅黨祖師), (57) Thái Tuế năm Canh Thân là Mao Tử Tổ Sư (毛梓祖師), (58) Thái Tuế năm Tân Dậu là Thạch Chính Tổ Sư (石政祖師), (59) Thái Tuế năm Nhâm Tuất là Hồng Sung Tổ Sư (洪充祖師), và (60) Thái Tuế năm Quý Hợi là Ngu Trình Tổ Sư (虞程祖師).
- Thành Hoàng (城隍): có hai nghĩa khác nhau. (1) Đường hào bảo vệ chung quanh thành quách. Từ thành hoàngđược tìm thấy đầu tiên trong thư tịch Dịch Kinh (易經), phần Thái Quái (泰卦): “Thành phục ư hoàng (城復於隍, thành lại ở trong hào).” Thuyết Văn Giải Tự (說文解字) giải thích rằng: “Thành, dĩ thạnh dân dã (城、以盛民也, thành trì để bảo vệ dân)” và “Hoàng, thành trì dã (隍、城池也, hoàng là cái hào bảo vệ thành)”, hay “vô thủy viết hoàng (無水曰隍, nơi không có nước gọi là hoàng).” Như vậy, theo nghĩa xa xưa, từ thành hoàng là con sông, cái hào bảo vệ thành quách. Nhân đó, Ban Cố có đoạn văn rằng: “Tu cung thất, tuấn thành hoàng (修宮室、浚城隍, sửa cung thất, đào hào thành).” (2) Tên gọi của vị thần bảo vệ thành trì hay quốc gia, hộ trì dân chúng. Với tư cách là vị thần, từ Thành Hoàng được tìm thấy đầu tiên trong Bắc Tề Thư (北齊書), truyện Mộ Dung Nghiễm (慕容儼傳): “Thành trung tiên hữu thần từ nhất sở, tục hiệu Thành Hoàng Thần, công tư mỗi hữu kỳ đảo (城中先有神祠一所、俗號城隍神、公私每有祈禱, trong thành có một chỗ thờ thần, thế gian thường gọi là Thần Thành Hoàng, công tư mỗi người đều có cầu nguyện).” Sau thời Tùy Đường (隋唐, 581-907), việc sùng bái Thành Hoàng bắt đầu lưu hành rộng rãi. Trong điều Tuyên Châu Ty Hộ (宣州司戶) của Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) gọi Thành Hoàng là úy quỷ (畏鬼, quỷ sợ), cho nên nhận xét rằng: “Mỗi châu huyện tất hữu Thành Hoàng Thần (每州縣必有城隍神, mỗi châu huyện đều có Thần Thành Hoàng).” Đến thời Ngũ Đại (五代, 907-960), Thần Thành Hoàng đã được sắc phong. Tỷ dụ như Thần Thành Hoàng ở Hàng Châu (杭州) được phong là Thuận Nghĩa Bảo Ninh Vương (順義保寧王), ở Hồ Châu (湖州) là Phụ Tục An Thành Vương (阜俗安城王), ở Mông Châu (蒙州) là Linh Cảm Vương (靈感王), v.v. Dưới thời nhà Tống (宋, 960-1127), việc sùng bái Thành Hoàng trở thành tế điển quốc gia. Như trong Tân Thối Lục (賓退錄) của Triệu Dữ Thời (趙與時, ?-?) có đoạn rằng: “Kim kỳ tự cơ biến thiên hạ, triều gia hoặc tứ miếu ngạch, hoặc ban phong tước, vị danh giả hoặc tập lân quận chi xưng, hoặc thừa lưu tục sở truyền, quận dị nhi huyện bất đồng (今其祀幾遍天下、朝家或賜廟額、或頒封爵、未名者或襲鄰郡之稱、或承流俗所傳、郡異而縣不同, ngày nay việc cúng tế Thành Hoàng cùng khắp thiên hạ, triều đình hoặc ban ngạch cho miếu vũ, hay ban phong tước; nơi nào chưa có tên thì hoặc lấy theo tên gọi của quận lân bang, hay theo truyền thuyết lưu truyền ngoài đời, quận khác mà huyện chẳng giống).” Kế thừa nhà Tống đến thời nhà Nguyên (元, 1206-1368), khắp nơi từ trong triều nội cho đến ngoài dân dã đều có thiết lập miếu thời Thần Thành Hoàng; vị thần ở kinh đô được tôn xưng là Hựu Thánh Vương (佑聖王). Đến thời nhà Minh (明, 1368-1662), tín ngưỡng sùng bái Thành Hoàng trở nên cực thịnh. Vào năm thứ 2 (1369) niên hiệu Hồng Võ (洪武), vua Minh Thái Tổ (明太祖, tại vị 1368-1398), phong cho Thành Hoàng ở kinh đô là Thừa Thiên Giám Quốc Ty Dân Thăng Phước Minh Linh Vương (承天鑒國司民升福明靈王), phong cho Thành Hoàng ở Khai Phong (開封), Lâm Hào (臨濠), Thái Bình (太平), Hòa Châu (和州), Trừ Châu (滁州) là Chánh Nhất Phẩm (正一品); cho Thành Hoàng ở các phủ khác là Chánh Nhị Phẩm (正二品); cho Thành Hoàng ở các châu là Chánh Tam Phẩm (正三品); cho Thành Hoàng ở các huyện là Hiển Hữu Bá (顯佑伯), Tứ Phẩm (四品). Chức trách của Thần Thành Hoàng chủ yếu bảo hộ bá tánh trong thành được an toàn, sức khỏe, cũng như giám sát công lao các quan viên trên cõi thế, thay Trời trị ác trừ hung, hộ trì quốc gia, phán quyết việc sống chết, ban việc phước thọ cho con người. Trong phần Quần Tự Khảo (群祀考) của tác phẩm Tục Văn Hiến Thông Khảo (續文獻通考) có dẫn lời của Minh Thái Tổ rằng: “Trẫm thiết Kinh Sư Thành Hoàng, tỷ thống các Phủ Châu Huyện chi thần, dĩ giám sát dân chi thiện ác nhi họa phước chi (朕設京師城隍、俾統各府州縣之神、以鑒察民之善惡而禍福之, Trẫm thiết lập Thần Thành Hoàng ở kinh đô để thống lãnh chư vị thần ở các Phủ Châu Huyện, để giám sát việc tốt xấu của muôn dân mà ban cho họa phước).” Về việc cúng tế Thần Thành Hoàng, theo Chư Thần Thánh Đản Nhật Ngọc Hạp Ký (諸神聖誕日玉匣記), nhà Minh quy định ngày 11 tháng 5 Âm Lịch là ngày đản sinh của Thành Hoàng. Tuy nhiên, do vì Thành Hoàng ở các địa phương có công với người dân, nên ngày đản sinh cũng có khác nhau. Tại Việt Nam, tín ngưỡng Thành Hoàng cũng đã thịnh hành từ xa xưa. Giống như Táo Công và Thổ Công, Thành Hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng và thường được thờ ở đình làng. Sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam, tục thờ Thành Hoàng đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn.” Ngài là vị thần tối linh, có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Thành Hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tùy theo sự tích mỗi vùng. Ngài có thể là một vị thần như Phù Đổng Thiên Vương, thần núi như Tản Viên Sơn Thần, thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng, v.v. Hay có khi là các yêu thần, tà thần, v.v., với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý. Tuy nhiên, có khi Thành Hoàng chỉ là một người dân mà theo quan niệm, là người được các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi là Thành Hoàng sống. Truyền thống tín ngưỡng, cúng tế Thành Hoàng đã thật sự bám sâu vào gốc rễ tâm linh, văn hóa của người dân Việt, như trong tập truyện ngắn Cái Ve của Khái Hưng (1896-1947) có câu chuyện Tế Thành Hoàng: “Người ta đồn ông Thành Hoàng làng Tiền thiêng lắm. Mỗi lần rước Ngài là một lần vất vả khổ sở cho dân Ngài: nào Ngài bay, nào Ngài lùi, nào Ngài quay, có khi Ngài lại đứng ỳ ra nữa. Các quan viên tha hồ xuýt xoa van lạy, khấn khứa Ngài đủ các câu, Ngài vẫn làm ngơ như không nghe thấy gì hết. Những lúc ấy nếu không đốt một tràng pháo thật dài để mừng Ngài, thì khó lòng Ngài chịu đi cho. Thế mà năm nào ra giêng vào đám, vẫn hai lượt dân làng Tiền phải rước Ngài, một lượt từ miếu ra đình để Ngài chứng kiến việc hội họp ăn uống, và một lượt từ đình trở về miếu để Ngài an nghỉ. Khó khăn nhất, mệt nhọc nhất cho bọn khiêng kiệu là quãng đường qua đình Tràng. Ngài nô giỡn, Ngài chạy cuồng, Ngài nhảy cẫng như vui thích khoái trá về một điều gì. Người ta nói vì đức Thánh Đình Tràng là một vị nữ thần mà Ngài nghịch ngợm thích trêu ghẹo chơi. Dân làng Tiền cũng không ai phàn nàn về cái thiêng của Ngài. Trái lại, người ta còn lấy làm hãnh diện được thờ một vị thần mà khắp vùng đều kinh sợ. Không phải sợ bóng sợ vía, nhưng sợ những sự tác oai hiển hiện trước mắt. Một lần, một đứa trẻ chăn trâu trèo lên cây muỗm trước miếu, đã bị Ngài quật ngã chết tươi. Lại một lần một con bé bế em đi xem rước giơ tay chỉ trỏ kiệu Ngài, bị Ngài hành cho một trận ốm thập tử nhất sinh…”
- Thổ Địa (土地): tên gọi của vị thần cai quản đất đai, thường được gọi là Phước Đức Chánh Thần (福德正神), là vị thần được Đạo Giáo và dân gian tôn thờ. Trong thần thoại cổ đại, vị nầy có tên là Xã Thần (社神), chuyên quản lý một vùng đất nhỏ. Sau đó, thần nầy trở thành thần cúng bái, có mối quan hệ mật thiết với hết thảy những vật sinh sản, vật nuôi, vật nông canh, v.v.; cho nên trong dân gian tôn thời ngài như là vị Thần Tài ban phước đức. Bất kể người nông dân, thương nhân, người đánh cá, giới kinh doanh, nghề mộc, v.v., đều có thờ vị thần nầy. Ngoài ra, vị nầy còn được xem như là thần giữ mộ, nên có tên là Hậu Thổ (后土). Tương truyền rằng những người làm việc tốt, quân tử, sau khi chết sẽ được ông Thành Hoàng cử đi làm Thổ Địa tại các địa phương. Trong Đạo Giáo, Thái Xã Thần (太社神), Thái Tắc Thần (太稷神), Thổ Ông Thần (土翁神), Thổ Mẫu Thần (土母神) đều là những vị thần có trách nhiệm quản lý đất đai. Tuy nhiên, trong thánh điển Phật Giáo không đề cập tên mấy vị nầy.
Chủ Sứ (主使): cách xưng hô đối với sứ giả thời cổ đại. Như trong Sử Ký (史記), chương Hàn Thế Gia (韓世家), có đoạn: “Trần Phệ kiến Nhương Hầu, Nhương Hầu viết: ‘Sự cấp hồ, cố sử công lai ?’ Trần Phệ viết: ‘Vị cấp dã.’ Nhương Hầu nỗ viết: ‘Thị khả dĩ vi công chi chủ sứ hồ ?’ (陳筮見穰侯、穰侯曰、事急乎、故使公來、陳筮曰、未急也、穰侯怒曰、是可以爲公之主使乎, Trần Phệ gặp Nhương Hầu, Nhương Hầu hỏi: ‘Việc gấp lắm sao mà khiến ông đến vậy ?’ Trần Phệ đáp: ‘Việc chưa gấp.’ Nhương Hầu nổi giận nói: ‘Vậy có thể lấy làm sứ giả của ông sao ?’).”