41. Cúng Tôn Sư Phát Hành Sớ

 

Nguyên văn:

 

供尊師發行疏

 

伏以

慧眼煌煌、仰靈光之遍覆、雲衢寂寂、翹瞻法力以弘施、俯瀝丹忱、仰干玄鑒。拜疏爲

大南國...某寺奉于案前、恭薦覺靈、啟告發行事。今法子孝徒等、惟日仰干尊德、俯鑒微誠

伏爲恭薦尊師之徽號。

恭惟、尊師早辭南贍、向西階恬然外境以無聞、儼爾高臺而莫測、放乾坤含日月、空中伴露憐烟、乘虎踏山川、域外騰雲涉水。兹者良晨以到、用致遷棺、澗藻溪蘋、聊表薦羞之禮、升香嘆德、少伸哀慕之誠。仰祈尊德以鑒臨、克遂凡心之仔細

伏願、草盡街頭、花開硸嘴、寂光土裏、無見頂相常圓、娑婆界中、有漏塵軀永脫、俾以禪門釋子、燈燈燦爛祥光、保其眷屬蓮宗、刼刼尊崇佛道、方方普利、處處均霑、但下情無任激切屛營之至。謹疏。

 

Phiên âm:

 

CÚNG TÔN SƯ PHÁT HÀNH SỚ

 

Phục dĩ

Huệ Nhãn hoàng hoàng, ngưỡng linh quang1 chi biến phú; vân cù tịch tịch, kiều chiêm pháp lực2 dĩ hoằng thi; phủ lịch đơn thầm, ngưỡng can huyền giám.

Bái sớ vị: Đại Nam Quốc … mỗ tự phụng vu án tiền, cung tiến giác linh, khải cáo phát hành sự. Kim Pháp tử … hiếu đồ đẳng, duy nhật ngưỡng can tôn đức, phủ giám vi thành.

Phục vị: Cung tiến tôn sư chi huy hiệu.

Cung duy: Tôn sư tảo từ Nam Thiệm,3 trực hướng Tây giai;4 điềm nhiên ngoại cảnh dĩ vô văn, nghiễm nhĩ cao đài nhi mạc trắc; phóng càn khôn hàm nhật nguyệt, không trung bạn lộ lân yên; thừa long hổ đạp sơn xuyên, vức ngoại đằng vân thiệp thủy. Tư giả lương thần dĩ đáo, dụng trí thiên quan; giản tảo khê tần, liêu biểu tiến tu chi lễ;5 thăng hương thán đức, thiểu thân ai mộ chi thành; ngưỡng kỳ tôn đức dĩ giám lâm, khắc toại phàm tâm chi tử tế.

Phục nguyện: Thảo tận nhai đầu, hoa khai ngạn chủy; Tịch Quang Độ6 lí, vô kiến đảnh tướng7thường viên;8 Ta Bà9 giới trung, Hữu Lậu10 trần khu vĩnh thoát; tỷ dĩ Thiền môn11 Thích tử,12 đăng đăng xán lạn tường quang; bảo kỳ quyến thuộc Liên Tông,13 kiếp kiếp tôn sùng Phật đạo;14 phương phương phổ lợi, xứ xứ quân triêm; đản hạ tình vô nhậm kích thiết bình doanh chi chí. Cẩn sớ.

 

Dịch nghĩa:

 

SỚ CÚNG TÔN SƯ DỊP PHÁT HÀNH

 

Cúi nghĩ:

Mắt Tuệ huy hoàng, trông hào quang ấy che chở; đường mây lẳng lặng, ngưỡng nhìn pháp lực mãi rộng ban; trãi tấc lòng thành, kính mong chứng giám.

Lạy Sớ tâu: Việc Chùa …, nước Đại Nam, vâng đến trước án, dâng cúng giác linh, tuyên cáo phát hành. Nay Pháp tử … cùng hiếu đồ ... Hôm nay ngưỡng trông tôn đức, chứng giám lòng thành.

Cúi vì: Dâng cúng tôn sư (huy hiệu) …

Nép nghĩ: Tôn sư sớm bỏ Nam Thiệm, thẳng hướng Tây phương; an nhiên ngoại cảnh thảy không nghe, nghiễm nhiên đài cao mà khó đoán; phóng càn khôn trùm nhật nguyệt, không trung bạn với khói mây; cỡi rồng cọp đạp núi sông, ngoài kia đằng vân lội nước. Nay lúc giờ lành đã đến, dùng để di quan; rong suối cỏ khe, tạm gọi cúng dâng mọn lễ; dâng hương tán đức, chút bày mến mộ lòng thành; ngưỡng cầu tôn đức giáng lâm, thỏa kẻ phàm tâm ấy kỹ lưỡng.

Cúi mong: Cỏ tận đầu đường, hoa nở bờ vực; Tịch Quang Độ ấy, vô kiến đảnh tướng thường tròn; Ta Bà cõi trong, Hữu Lậu tục thân mãi thoát; khiến cho Thiền môn Thích tử, đèn đèn sáng tỏ hào quang; giữ cho quyến thuộc Liên Tông, kiếp kiếp tôn sùng Phật đạo; nơi nơi lợi lạc, chốn chốn thấm nhuần; kẻ hạ tình cảm kích thiết tha âu lo khôn xiết. Kính dâng Sớ.

 

Chú thích:

  1. Linh quang (靈光): ánh sáng, hào quang linh hiển; mọi người đều có Phật tánh, linh thiêng chiếu tỏ, thanh tịnh không ô nhiễm, thường phóng ra ánh sáng soi rọi. Như trong Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư Ngữ Lục (百丈懷海禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1322) có đoạn: “Linh quang độc diệu, huýnh thoát căn trần, thể lộ chơn thường, bất cẩu văn tự, tâm tánh vô nhiễm, bổn tự viên thành, đản ly vọng duyên, tức như như Phật (靈光獨耀迥脫根塵體露眞常不拘文字心性無染本自圓成但離妄緣如如佛, linh quang sáng tỏ, thoát xa căn trần, thể bày chơn thường, chẳng kẹt chữ nghĩa, tâm tánh không nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa giả duyên, là như như Phật).” Hay trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 35 cũng có đoạn: “Cổ điện vô Phật Phạm âm hà lai, mộng trung hoán tỉnh lâu các môn khai, linh quang nhất điểm tuyệt trần ai, diệu cổ đằng kim biến cửu cai (古殿無佛梵音何來夢中喚省樓閣門開靈光一點絕塵埃耀古騰今遍九垓, cổ điện không Phật Phạm âm từ đâu, trong mộng chợt tỉnh lầu gác cửa bày, linh quang một điểm dứt bụi trần, sáng xưa chiếu nay biến khắp nơi).” Hoặc trong Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chú Giải (釋金剛經科儀會要註解, Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 7 lại có đoạn: “Nhất điểm linh quang tắc thái hư, dã phi Thiền giáo dã phi Nho, đả thành nhất phiến thùy nhân hội, cụ nhãn hoàn tha đại trượng phu (一點靈光塞太虛也非禪敎也非儒打成一片誰人會具眼還他大丈夫, một điểm linh quang khắp hư không, chẳng phải Thiền giáo cũng chẳng Nho, đánh thành một mảnh ai hiểu được, thấy rõ hoàn ra đại trượng phu).”
  2. Pháp lực (法力): năng lực, uy lực của Phật pháp. Như trong Tỳ Ni Nhật Dụng Lục (毗尼日用錄, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1114) có dẫn bài Kệ Xuất Sanh rằng: “Pháp lực bất tư nghì, đại bi vô chướng ngại, thất liệp biến thập phương, phổ thí châu sa giới. Án, độ lợi ích sa ha (法力不思議、大悲無障礙、七粒遍十方、普施周沙界、唵度利益莎訶, Pháp lực chẳng nghĩ bàn, đại bi không chướng ngại, bảy hột biến mười phương, ban cùng các cõi nước. Án, độ lợi ích sa ha).” Hay trong Đại Đường Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大唐慈恩寺三藏法師傳, Taishō Vol. 50, No. 2053) quyển 8 lại có đoạn: “Phiếm Lục Độ ư ái hà, giá Tam Xa ư hỏa trạch, thị tri pháp vương pháp lực, siêu quần sanh nhi tự tại (六度於愛河、駕三車於火宅、是知法王法力、超群生而自在, chơi Sáu Độ nơi sông thương, cỡi Ba Xe nơi nhà lửa, mới biết năng lực pháp vương, vượt chúng sanh mà tự tại).” Hoặc trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 3 cũng có đoạn: “Duy nguyện Phật quang chiếu chúc, pháp lực đề huề, tài văn triệu thỉnh chi ngôn, tức nhiếp uy nghi nhi chí (惟願佛光照燭、法力提攜、纔聞召請之言、卽攝威儀而至, cúi mong hào quang chiếu tỏ, pháp lực dẫn đường, mới nghe triệu thỉnh lời văn, tức giữ oai nghi mà đến).”
  3. Tức Nam Thiệm Bộ Châu (贍部洲): còn gọi là Nam Diêm Phù Đề (閻浮提), Diêm Phù Đề (s: Jampudīpa, 閻浮提); xem chú thích Nam Châu (南洲) ở trên.
  4. Tây giai (西階): có hai nghĩa. (1) Chỉ cho bệ đài thềm phía Tây của căn nhà, thể hiện vị trí tôn kính. Như trong Lễ Ký (禮記), phần Khúc Lễ Thượng (曲禮上), có câu: “Chủ nhân tựu Đông giai, khách tựu Tây giai (主人就東階、客就西階, chủ nhân đến thềm Đông, khách tập trung thềm Tây).” Hay trong Tấn Thư (晉書), phần Khang Đế Kỷ (康帝紀), có đoạn: “Đế thân phụng điện ư Tây giai, ký phát dẫn, đồ bộ hành chí Xương Lư Môn, thăng tố dư, chí ư lăng sở (帝親奉奠於西階、旣發引、徒步行至閶閭門、升素輿、至於陵所, nhà vua đích thân đến dâng cúng nơi thềm Tây, khi phát dẫn [di quan], đều đi bộ đến Cổng Xương Lư, mới lên kiệu tang, đến nơi lăng tẩm).” (2) Chỉ thế giới Cực Lạc ở phương Tây. Như trong lòng văn Sớ trên có câu: “Tôn sư tảo từ Nam Thiệm, trực hướng Tây giai (尊師早辭南贍、向西階)”, nghĩa là “tôn sư sớm từ bỏ cõi Nam Thiệm [Nam Diêm Phù Đề, tức cõi Ta Bà] và thẳng hướng về thế giới Cực Lạc ở phương Tây.
  5. Đoạn văngiản tảo khê tần, liêu biểu tiến tu chi lễ (澗藻溪蘋、聊表薦羞之禮, rong suối cỏ khe, tạm gọi cúng dâng mọn lễ)” được tìm thấy trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, phần Niết Bàn Nhật Niệm Tụng Bạch Văn (涅槃日念誦白文); trong Thích Ca Như Lai Niết Bàn Lễ Tán Văn (釋迦如來涅槃禮讚文, Taishō Vol. 46, No. 1947); và Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 3, phần Phật Niết Bàn (佛涅槃).
  6. Tức Thường Tịch Quang Độ (常寂光土): còn gọi là Tịch Quang Tịnh Độ (寂光淨土), Tịch Quang Quốc (寂光國), Tịch Quang Độ (寂光土), Tịch Quang (寂光); chỉ cho cõi Tịnh Độ nơi pháp thân của chư Phật Như Lai cư trú. Thế giới của chư Phật cư trú là chân như bản tánh, không sanh diệt, biến hóa (thường); không có sự nhiễu loạn của phiền não (tịch, vắng lặng); mà có ánh sáng trí tuệ (quang); nên gọi là Thường Tịch Quang Độ. Quốc độ nầy là cõi tự chứng của Phật, vô cùng bí tàng; lấy Pháp Thân, giải thoát, Bát Nhã làm thể; đầy đủ, trọn vẹn 4 đức là Thường (), Lạc (), Ngã (), Tịnh (). Như trong Phật Thuyết Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (佛說觀普賢菩薩行法經, Taishō Vol. 9, No. 277) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni danh Tỳ Lô Giá Na, biến nhất thiết xứ, kỳ Phật trú xứ danh Thường Tịch Quang, Thường Ba La Mật sở nhiếp thành xứ, Ngã Ba La Mật sở an lập xứ, Tịnh Ba La Mật diệt hữu tướng xứ, Lạc Ba La Mật bất trú thân tâm tướng xứ (釋迦牟尼名毘盧遮那、遍一切處、其佛住處名常寂光、常波羅蜜所攝成處、我波羅蜜所安立處、淨波羅蜜滅有相處、樂波羅蜜不住身心相處, Phật Thích Ca Mâu Ni tên là Tỳ Lô Giá Na, biến khắp tất cả nơi chốn, trú xứ của đức Phật đó tên là Thường Tịch Quang, là trú xứ được nhiếp thành bởi Thường Ba La Mật, trú xứ được an lập bởi Ngã Ba La Mật, trú xứ của Tịnh Ba La Mật diệt tướng có, trú xứ của Lạc Ba La Mật không trú vào tướng thân tâm).” Lại nữa, quốc độ nầy có khác nhau về phần chứng và cứu cánh, nên phân thành 3 phẩm Thượng, Trung và Hạ. Theo thuyết của Duy Ma Kinh Lược Sớ (維摩經略疏, Taishō Vol. 38, No. 1778) quyển 1 cho biết, cõi của Diệu Giác Pháp Thân (妙覺法身) cư trú là Thượng Phẩm Tịch Quang Độ (上品寂光土); cõi của Đẳng Giác Nhất Sanh (等覺一生) là Trung Phẩm Tịch Quang Độ (中品寂光土), cõi của Viên Giáo Sơ Trú (圓敎初住) trở lên là Hạ Phẩm Tịch Quang Độ (下品寂光土). Đại sư Tứ Minh Tri Lễ (四明知禮, 960-1028) của Thiên Thai Tông, sống vào thời Bắc Tống, lại lấy hai cõi Thật Báo (實報) và Tịch Quang phối với Thỉ Giác (始覺) và Bản Giác (本覺), đề xướng thuyết Tịch Quang Hữu Tướng (寂光有相). Trong khi đó, đại sư Tịnh Giác (淨覺) cùng thời đại nầy lại đưa ra thuyết Tịch Quang Vô Tướng (寂光無相). Trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 26 có đoạn rằng: “Pháp tánh hải trung, bổn vô xuất một, Thường Tịch Quang Độ, an hữu khứ lai, nhân thế biến thiên nhậm vận, Phật quốc tịnh uế tùy tâm (法性海中、本無出沒、常寂光土、安有去來、人世變遷任運、佛國淨穢隨心, biển pháp tánh trong, vốn không hiện mất, Thường Tịch Quang Độ, sao có đến đi, cõi đời đổi thay phó mặc, nước Phật sạch nhớp tùy tâm).”
  7. Đảnh tướng, đỉnh tướng (頂相): trên đỉnh đầu của đức Phật có nhục kế (s: uṣṇīa, khối u bằng thịt như búi tóc), hết thảy trời người đều không thể thấy được, nên có tên là vô kiến đảnh tướng (無見頂相); một trong 32 tướng tốt. Như trong Đại Pháp Cự Đà La Ni Kinh (大法炬陀羅尼經, Taishō Vol. 21, No. 1340) quyển 4, phẩm Tướng Hảo (相好品), giải thích rằng: “Như Lai đảnh tướng, nhục kế viên mãn, nhất thiết nhân thiên sở bất năng kiến(如來頂相、肉髻圓滿、一切人天所不能見, đảnh tướng của Như Lai, nhục kế tròn đầy, tất cả trời người không thể thấy được).” Trong Thủy Kinh Chú (水經注), phần Hà Thủy (河水) 2, có đoạn: “Tháp tích, Phật nha, Ca Sa, đảnh tướng Xá Lợi, tất tại Phất Lâu Sa quốc (塔跡、佛牙、袈裟、頂相舍利、悉在弗樓沙國, di tích tháp, răng Phật, y Ca Sa, Xá Lợi của đảnh tướng, đều ở tại nước Phất Lâu Sa [Purusapura, hiện tại ở phái Tây Bắc Peshawar]).” Hay trong Pháp Hoa Kinh Thông Nghĩa (法華經通義, Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 611) lại có đoạn rằng: “Phật hữu cửu thập thất chủng đại nhân tướng, nhục kế đảnh tướng vi đệ nhất, thị vi vô kiến đảnh tướng, tùng thử phóng quang (佛有九十七種大人相、肉髻頂相第一、是爲無見頂相從此放光, Đức Phật có 97 loại tướng của đại nhân, đảnh tướng nhục kế là số một, đó là vô kiến đảnh tướng, từ đây phóng ra ánh sáng).” Ngoài ra, các Thiền gia gọi tiêu tượng bán thân, hay tượng toàn thân của Tổ sư ngồi trên ghế dựa Khúc Lục (曲彔), là đảnh tướng, tôn kính như vô kiến đảnh tướng của Đức Như Lai. Sự lưu hành hình vẽ đảnh tướng khởi đầu từ Trung Quốc, nhưng thịnh hành nhất dưới hai thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và Thất Đinh (室町, Muromachi) của Nhật Bản. Vẽ mặt nhân vật phần nhiều là bút pháp tả thật, ở giữa có bài từ tự nhân vật được vẽ làm ra. Đây được xem như là tín vật phú pháp, truyền cho đệ tử đắc pháp. Như trong Gia Thái Phổ Đăng Lục (嘉泰普燈錄, Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1559) quyển 29 có bài Đề Vĩnh Minh Trí Giác Thọ Thiền Sư Đảnh Tướng (題永明智覺壽禪師頂相) của Trường Lô Tổ Chiếu Hòa Thiền Sư (長蘆祖照和禪師), rằng: “Tuệ nhật phong cao thu sắc lãnh, Tiền Đường giang tĩnh nguyệt hoa minh, hàn quang nhất thước châu sa giới, bút hạ khán lai vị thập thành (慧日峰高秋色冷、錢塘江靜月華明、寒光一爍周沙界、筆下看來未十成, trời tuệ đỉnh cao thu sắc lạnh, Tiền Đường sông lặng trăng sáng trong, hào quang tỏ rực khắp muôn cõi, dưới bút xem ra chữa vẹn toàn).”
  8. Từ “đảnh tướng thường viên (頂相常, tướng đỉnh đầu thường tròn)”, phát xuất từ thuật ngữ “viên đảnh (, đầu tròn)”; tức là sau khi xuống tóc, hiện ra hình tướng của người xuất gia; tượng trưng cho tướng xa lìa phiền não. Vì vậy, vị tu sĩ xuất gia còn có tên gọi là “viên đảnh phương bào (圓頂方袍, đầu tròn áo vuông).” Thuật ngữ nầy thường xuất hiện trong các điển tịch Phật Giáo. Như trong Phật Thuyết Mục Liên Ngũ Bách Vấn Kinh Lược Giải (佛說目連五百問經略解, Tục Tạng Kinh Vol. 44, No. 750) quyển Hạ, Phẩm Tam Y Sự (三衣事品) thứ 11, có câu: “Viên đảnh phương bào, danh vi Thích tử Tỳ Kheo (圓頂方袍名爲釋子比丘, đầu tròn áo vuông, gọi là Thích tử Tỳ Kheo).” Hay trong Nhập Chúng Nhật Dụng (入眾日用, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1246) lại có câu: “Xuất trần ly tục, viên đảnh phương bào (出塵離俗、圓頂方袍, xa lìa trần tục, đầu tròn áo vuông).” Trong Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký (潙山警策句釋記, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1240) cũng giải thích rằng: “Tâm hình dị tục giả, ngoại tắc viên đảnh phương bào, tướng đồng Như Lai, nội tắc bội trần hợp giác, tâm tề Phật tuệ (心形異俗者、外則圓頂方袍、相同如來、內則背塵合覺、心齊佛慧, tâm và hình tướng khác với thế tục, [nghĩa là] bên ngoài thì đầu tròn áo vuông, tướng giống đức Như Lai; bên trong thì bỏ đi trần tục hợp với giác ngộ, tâm ngang bằng với trí tuệ đức Phật).” Hay trong Thiền Tông Quyết Nghi Tập (禪宗決疑集, Taishō Vol. 48, No. 2021) lại có đoạn: “Xuất gia giả thoát trần ly tục, viên đảnh phương bào, nhập Thánh siêu phàm, danh vi Tăng bảo (出家者脫塵離俗、圓頂方袍、入聖超凡、名爲僧寶, người xuất gia thoát khỏi trần tục, đầu tròn áo vuông, nhập Thánh siêu phàm, gọi là Tăng bảo).”
  9. Ta Bà (s, p: sahā, j: saba, 娑婆): âm dịch là Sa Ha (娑訶), Sách Ha (索訶), ý dịch là nhẫn (), nói cho đúng là Ta Bà Thế Giới (s, p: sahā-lokadhātu, 娑婆世界), ý dịch là thế giới chịu đựng (nhẫn độ, nhẫn giới), tức chỉ thế giới, cõi đời nầy, thế giới nơi đức Thích Tôn giáo hóa. Nó còn được gọi là Nhân Gian Giới (人間界, cõi con người), Tục Thế Giới (世俗界, thế giới phàm tục), Hiện Thế (現世, cõi đời nầy). Chúng sanh ở trong thế giới nầy chịu đựng các phiền não, vì vậy mới có tên là thế giới chịu đựng. Bên cạnh đó từ nầy còn được dịch là Tạp Hội (雜會) hay Tập Hội (集會). Nguyên ngữ của từ tập hội là sabhā, muốn ám chỉ sự tập hội phức tạp của các tầng lớp như con người, trên trời, Sa Môn, Bà La Môn, Sát Đế Lợi, cư sĩ, v.v. Người ta cho rằng nguyên lai từ sahācũng phát xuất từ sabhā, là thế giới có nhiều loại người khác nhau làm đối tượng hóa độ của Đức Phật Thích Ca. Thiền sư Chơn Không (眞空, 1045-1100) của Việt Nam có bài thơ rằng: “Diệu bổn hư vô minh tự khoa, hòa phong xuy khởi biến Ta Bà, nhân nhân tận thức vô vi lạc, nhược đắc vô vi thỉ thị gia (妙本虛無明自誇、和風吹起遍娑婆、人人盡識無爲樂、若得無爲始是家, diệu bản thênh thang sáng tự khoa, gió hòa thổi khắp cõi Ta Bà, người người thảy biết vô vi lạc, nếu đạt vô vi mới là nhà).” Cổ Côn Pháp Sư (古崑法師) cũng có hai câu đối như sau: “Ta Bà giáo chủ bi nguyện hoằng thâm thệ độ khổ nhân ly hỏa trạch, Cực Lạc đạo sư từ tâm quảng đại thường nghinh mê tử nhập Liên Trì (娑婆敎主悲願宏深誓度苦人離火宅極樂導師慈心廣大常迎迷子入蓮池, Ta Bà giáo chủ bi nguyện rộng sâu thề độ người khổ xa nhà lửa, Cực Lạc đạo sư từ tâm rộng lớn thường đón kẻ mê vào Liên Trì).” Như trong Tịnh Độ Thập Nghi Luận (淨土十疑論, Taishō Vol. 47, No. 1961) có câu: “Ái bất trọng bất sanh Ta Bà, niệm bất nhất bất sanh Cực Lạc (愛不重不生娑婆、念不一不生極樂, ái không nặng không sanh Ta Bà, niệm không thành không sanh Cực Lạc).” Hay trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 2 cũng có đoạn rằng: “Thế nhân tạo nghiệp khốn Ta Bà, trầm nịch đa niên khả nại hà, tốc tảo tu trì đăng bỉ ngạn, như thoan tuế nguyệt dị tiêu ma (世人造業困娑婆、沉溺多年可奈何、速早修持登彼岸、如梭歲月易消磨, người đời tạo nghiệp hãm Ta Bà, chìm đắm bao năm chịu khổ mà, mau chóng tu trì lên bờ giác, thoi đưa ngày tháng luống trôi qua).”
  10. Hữu Lậu (s: sāsava, p: sāsrava, 有漏): đối nghĩa với Vô Lậu (s: anāsrava, 無漏). Lậu (s: āsrava, ) nghĩa là chảy mất, rỉ rỏ ra, là tên gọi khác của phiền não (s: kleśa, p: kilesa, 煩惱). Con người do vì sai lầm, khổ quả vốn sanh ra từ phiền não, khiến cho họ cử trôi lăn mãi trong thế giới mê lầm, không bao giờ dừng nghỉ, khó có thể thoát ra biển sanh tử; nên goi là Hữu Lậu. Nếu đạt đến cảnh giới đoạn diệt phiền não, được gọi là Vô Lậu. Trong Tứ Thánh Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-arya-sacca, 四聖諦), Khổ Đế và Tập Đế thuộc về nhân và quả của mê lầm, là pháp Hữu Lậu; Diệt Đế và Đạo Đế là nhân và quả của giác ngộ, thuộc về pháp Vô Lậu. Các pháp Hữu Lậu cũng như Vô Lậu vốn ở trong nhân, quả tu hành, có vị trí vô cùng quan trọng. Có nhiều tên gọi khác về Hữu Lậu, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 1 có nêu lên một số như Thủ Uẩn (取蘊), Hữu Tránh (有諍), Khổ (), Tập (), Thế Gian (世間), Kiến Xứ (見處), Tam Hữu (三有), v.v. Ngoài ra, còn có các danh xưng khác như Hữu Nhiễm (有染), Hữu Nhiễm Ô (有染污), Hữu Phú (有覆), Trần Cấu (塵垢), v.v. Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận (另據大乘阿毘達磨雜集論, Taishō Vol. 31, No. 1606) quyển 3 nêu ra 6 loại Hữu Lậu, gồm: Lậu Tự Tánh (漏自性), Lậu Tướng Thuộc (漏相屬), Lậu Sở Phược (漏所縛), Lậu Sở Tùy (漏所隨), Lậu Tùy Thuận (漏隨順), Lậu Chủng Loại (漏種類). Như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) có đoạn: “Tư duy Thất Giác Ý thời, Hữu Lậu tâm tận, tiện đắc giải thoát, hậu thành vô thượng chánh chân chi đạo (思惟七覺意時、有漏心盡、便得解脫、後成無上正眞之道, khi tư duy về Thất Giác Chi, tâm Hữu Lậu diệt tận, bèn được giải thoát, sau chứng được đạo vô thượng chánh chân).” Hay trong Du Già Sư Địa Luận Thích (瑜伽師地論釋, Taishō Vol. 30, No. 1580) lại có đoạn: “Khởi chư phiền não, phát Hữu Lậu nghiệp, luân hồi Ngũ Thú, thọ tam đại khổ (起諸煩惱、發有漏業、輪迴五趣、受三大苦, khởi các phiền não, sinh nghiệp Hữu Lậu, luân hồi Năm Đường, chịu ba khổ lớn).”
  11. Thiền môn (禪門): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Pháp môn Thiền định. (2) Thuộc vào Định Học (定學) trong Tam Học (三學), cũng chỉ Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜) trong Lục Độ (s: a-pāramitā, a-pāramitā, 六度). Như trong Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序) quyển Thượng có đoạn: “Vạn hạnh bất xuất Lục Ba La Mật, Thiền môn đản thị lục trung chi nhất, đương kỳ đệ ngũ (萬行不出六波羅蜜、禪門但是六中之一、當其第五, vạn hạnh không ra ngoài Sáu Ba La Mật, Thiền môn chỉ là một trong sáu pháp đó, thuộchàng thứ năm).” (3) Chỉ cho pháp môn của Thiền Tông, còn gọi là Thiền Tông Môn Lưu (禪宗門流), Thiền Tông (禪宗), Phật Tâm Tông (佛心宗), Thiền Gia (禪家). (4) Là từ gọi tắt của Thiền Định Môn (禪定門) trong Phật Giáo Nhật Bản, còn gọi là Thiền Thất (禪室). Như trong Nguyên Tẩu Hành Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (元叟行端禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1419) quyển 7 có câu: “Đại Giác Liễn, tại Tống vi Thiền môn thạc đức, Nhân Tông tứ dĩ Long Não bát vu (大覺璉、在宋爲禪門碩德、仁宗賜以腦缽盂, Đại Giác Liễn là đấng thạc đức của Thiền môn thời nhà Tống, vua Nhân Tông [tại vị 1022-1063] ban tặng cho ông bình bát Long Não).” Hay trong bài tựa của Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, TaishōVol. 11, No. 310) quyển 1 có câu: “Tịch viên minh chi tịnh vức, khải phương tiện chi Thiền môn, huệ quỹ diệu ư hôn cù, từ vân thanh ư hủ trạch (闢圓明之淨域、啟方便之禪門、慧晷耀於昏衢、慈雲清於朽宅, mở tròn sáng ấy cõi tịnh, bày phương tiện chốn Thiền môn, trời tuệ rọi nơi đường tối, mây từ sạch ở nhà nát).”
  12. Thích tử (釋子): Thích () là từ gọi tắt của Thích Ca (s: Śākya, 釋迦), đệ tử xuất gia của Đức Phật được gọi là Thích tử. Từ nầy còn dùng để chỉ cho giáo đồ Phật Giáo sau khi Đức Phật diệt độ; còn gọi là Thích chủng tử (釋種子), Thích Ca tử (釋迦子). Như trong Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 36 giải thích rằng: “Ư ngã pháp trung, tứ chủng tánh Sát Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, dĩ tín kiên cố, tùng gia xả gia học đạo, diệt bổn danh, giai xưng vi Sa Môn Thích tử (於我法中、四種姓剎利、婆羅門、毘舍、首陀、以信堅固、從家捨家學道、滅本名、皆稱爲沙門釋子, trong pháp của ta, bốn dòng họ là Sát Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, lấy niềm tin kiên cố, từ nhà bỏ nhà học đạo, bỏ hẳn tên mình, đều gọi là Sa Môn, đệ tử dòng họ Thích).” Cho nên, Thích tử và Phật tử đồng nghĩa với nhau. Trong Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, Taishō Vol. 2, No. 99) quyển 18 có đoạn: “Nhược dục vi phước giả, ưng ư Sa Môn Thích tử sở tác phước (若欲爲福者、應於沙門釋子所作福, nếu người nào muốn làm phước, nên làm phước nơi Sa Môn Thích tử).” Hay trong bài thơ Ký Kiểu Nhiên Thượng Nhân (寄皎然上人) của Vi Ứng Vật (韋應物, 737-792) nhà Đường lại có đoạn: “Ngô Hưng lão Thích tử, dã tuyết cái tinh lô, thi danh đồ tự chấn, đạo tâm trường yến như (吳興老釋子、野雪蓋精廬、詩名徒自振、道心長晏如, Ngô Hưng lão Thích tử, tuyết phủ mái chùa sơ, thơ hay tự chấn động, đạo tâm sáng như xưa).” Hoặc trong Phật Thuyết Mục Liên Ngũ Bách Vấn Kinh Lược Giải (佛說目連五百問經略解, Tục Tạng Kinh Vol. 44, No. 750) quyển Hạ, phẩm Tam Y Sự (三衣事品) thứ 11, cũng có đoạn: “Tất đương thế trừ tu phát, phi trước Ca Sa, viên đảnh phương bào, danh vi Thích tử Tỳ Kheo (必當剃除鬚髮、披著袈裟、圓頂方袍、名爲釋子比丘, tất phải cắt bỏ râu tóc, mang y Cà Sa, đầu tròn áo vuông, gọi là Thích tử Tỳ Kheo).”
  13. Liên Tông (蓮宗): còn gọi là Liên Môn (蓮門), là tông môn tôn thờ ý chỉ của Liên Xã (蓮社) và nguyện cầu vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà, tức Liên Bang (蓮邦); là tên gọi khác của Tịnh Độ Tông (淨土宗). Tông phái nầy vốn phát khởi từ việc Huệ Viễn (慧遠, 334-416) nhà Đông Tấn, sáng lập ra Bạch Liên Xã (白蓮社) ở Đông Lâm Tự (東林寺), Lô Sơn (廬山), phát nguyện vãng sanh Tây phương Tịnh Độ. Tác phẩm Lô Sơn Liên ông Bảo Giám (廬山蓮宗寶鑑, Taishō Vol. 47, No. 1973) quyển 1 do Ưu Đàm Phổ Độ (優曇普度) biên tập, cho biết rằng: “Đông Tấn Viễn Công Tổ sư, nhân thính Di Thiên Pháp sư giảng Bát Nhã Kinh, hoát nhiên đại ngộ, nhập ư vô lượng thậm thâm Tam Muội, du chỉ Lô Sơn, dữ cao tăng triều sĩ kết duyên tu hành; cố vân chư giáo Tam Muội kỳ danh thậm chúng, công cao dị tấn, niệm Phật vi tiên, nhân dĩ bạch liên danh kỳ xã yên (東晉遠公祖師、因聽彌天法師講般若經、豁然大悟、入於無量甚深三昧、遊止廬山、與高僧朝士結緣修行、故云諸敎三昧其名甚眾、功高易進、念佛爲先、因以白蓮名其社焉, Tổ sư Huệ Viễn nhà Đông Tấn, nhân nghe Pháp sư Di Thiên giảng Kinh Bát Nhã mà hoát nhiên đại ngộ, nhập vào vô lượng Tam Muội [Định] thâm sâu, đến dừng chân tại Lô Sơn, cùng với các cao tăng, nhân sĩ triều đình kết duyên tu hành; nên mới bảo rằng Tam Muội của các giáo phái tên gọi rất nhiều, [trong đó] công phu cao mà dễ tiến triển, chính niệm Phật là trên hết; nhân đó lấy hoa sen trắng đặt tên cho xã nầy vậy).” Lại nữa, hoa sen là tượng trưng cho y báo của Cực Lạc, chúng sanh của quốc độ ấy đều lấy hoa sen làm nơi cư trú, lấy đài sen để nguyện sanh vào đó; cho nên có tên Liên Tông. Trong Tịnh Độ Tư Lượng Toàn Tập (淨土資糧全集, Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 6 có đoạn rằng: “Thiền Tông mích tâm vô xứ, tức đăng Tổ vị; Liên Tông tâm Phật lưỡng vong, diệc tê Thượng Phẩm, dĩ thử chứng chi (禪宗覓心無處、卽登祖位、蓮宗心佛兩忘、亦躋上品、以此證之, Thiền Tông tìm tâm không nơi chỗ, liền chứng quả vị Tổ; Liên Tông thì tâm và Phật đều quên, cũng lên Thượng Phẩm, lấy đây làm chứng vậy).”
  14. Phật đạo (佛道): có mấy nghĩa. (1) Con đường của Phật pháp. Đạo, Phạn ngữ bodhi, ý dịch là Bồ Đề (菩提); tân dịch là giác (), cựu dịch là đạo (). Đạo (con đường) nghĩa là thông suốt; Phật trí tròn đầy thông suốt, không bị ngưng trệ, nên gọi là đạo. Đạo có 3 loại: (a) đạo do Thanh Văn chứng đắc, (b) đạo do Duyên Giác chứng đắc, (c) đạo do Phật chứng đắc. Đạo do Phật chứng đắc là Vô Thượng Bồ Đề (無上菩提), nên gọi là Phật đạo. Trong phẩm Tựa của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 1 có đoạn: “Ngã kiến bỉ độ, hằng sa Bồ Tát, chủng chủng nhân duyên, nhi cầu Phật đạo (我見彼土恆沙菩薩、種種因緣、而求佛道, ta thấy cõi kia, hằng sa Bồ Tát, các loại nhân duyên, mà cầu Phật đạo).” Cũng trong phẩm Tựa của kinh trên lại có đoạn: “Hựu kiến Bồ Tát, dũng mãnh tinh tấn, nhập ư thâm sơn, tư duy Phật đạo (又見菩薩、勇猛精進、入於深山、思惟佛道, lại thấy Bồ Tát, dũng mãnh tinh tấn, vào trong rừng sâu, suy nghĩ Phật đạo).” (2) Chỉ con đường thành Phật, tức con đường đạt đến quả vị Phật vô thượng bồ đề. Như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 22, phần Tông Giáo Đáp Hưởng (宗敎答響) 2, phẩm Nguyện Lực (願力品) thứ 6, có đoạn: “Phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, vị chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành (發四弘誓願、謂眾生無邊誓願度、煩惱無盡誓願斷、法門無量誓願學、佛道無上誓願成, phát khởi Bốn Thệ Nguyện Rộng, nghĩa là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện dứt, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành).” Hay trong Phật Thuyết Kim Quang Vương Đồng Tử Kinh (佛說金光王童子經, Taishō Vol. 14, No. 548) lại có đoạn: “Thế Tôn vãng tích, vi kiến Tam Giới luân hồi khổ não, xả Luân Vương vị, xuất gia khổ hạnh, Phật đạo viên mãn (世尊往昔、爲見三界輪迴苦惱、捨輪王位、出家苦行、佛道圓滿, đức Thế Tôn xưa kia, vì thấy Ba Cõi luân hồi khổ não, bèn bỏ ngôi vị chuyển luân thánh vương, xuất gia khổ hạnh, Phật đạo tròn đầy).” (3) Tên gọi chung của Phật Giáo và Đạo Giáo. Như trong tập bút ký Xuân Chử Kỷ Văn (紀聞) quyển 2, phần Nhị Phú Thất Sớ Tài (二富室疏財) của Hà Vĩ (, 1077-1145) nhà Bắc Tống, có đoạn: “Tán thí bần dân cập trợ tu Phật Đạo quán vũ, nhất tiền bất lưu ư gia (散施貧民及助修佛道觀宇、一錢不留於家, bố thí cùng khắp dân nghèo và giúp tu sửa các đền thờ Phật Giáo, Đạo Giáo, một tiền cũng không giữ ở nhà).”