34. Đạo Tràng Bảng
Nguyên văn:
道場榜
啟建資福道場大齋壇 爲揭知事。兹據
大南國兼攝尊人府右尊卿寶豐欽奉
敕旨建壇于純毅堅太王祠奉
佛修齋諷經資福酬恩事、維日虔仗禪和、恭臨祠宇、謹參竺典、肇啟花壇、本壇沙門清泰遵命官之傳旨、按科範以宣行、演陳優波離之眞機、共勉阿鞞跋之清衆、要必出入夔誠、始終齋淨、想寸心而參諸耳目、冰天一色無私、省厥躬而體此佛神、影響玄機不爽、圓滿松花之勝會、芬芳之苾草長馨。上祝皇圖永固、佛日增輝、帝王壽幷九如、人民樂安四業、有生有識、共證菩提、無數無邊、同霑勝福。兹有袈裟之淨侶、各安齋事之所司、敢具姓名、恭陳于後、計
Phiên âm:
ĐẠO TRÀNG BẢNG
Khải Kiến Tư Phước Đạo Tràng Đại Trai Đàn Vị yết tri sự.
Tư cứ: Đại Nam Quốc Kiêm Nhiếp Tôn Nhân Phủ Hữu Tôn Khanh Bảo Phong khâm phụng sắc chỉ kiến đàn vu Thuần Nghị Kiên Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự; duy nhật kiền trượng Thiền hòa, cung lâm từ vũ; cẩn tham trúc điển,1 triệu khải hoa đàn; bổn đàn Sa Môn Thanh Thái, tuân mệnh quan chi truyền chỉ, án khoa phạm dĩ tuyên hành; diễn trần Ưu Ba Ly2chi chơn cơ,3 cọng miễn A Bệ Bạt4 chi thanh chúng;5 yếu tất xuất nhập quỳ thành, thỉ chung trai tịnh; tưởng thốn tâm6 nhi tham chư nhĩ mục, băng thiên nhất sắc vô tư, tỉnh quyết cung nhi thể thử Phật thần, ảnh hưởng huyền cơ7 bất sảng; viên mãn tùng hoa chi thắng hội, phân phương8 chi bật thảo trường hinh. Thượng chúc Hoàng đồ vĩnh cố, Phật nhật tăng huy; đế vương thọ tinh Cửu Như,9nhân dân lạc an Tứ Nghiệp;10 hữu sanh hữu thức, cọng chứng Bồ Đề; vô số vô biên, đồng triêm thắng phước. Tư hữu Ca Sa11 chi tịnh lữ, các an trai sự chi sở ty; cảm cụ tính danh, cung trần vu hậu. Kế.
Dịch nghĩa:
ĐẠO TRÀNG BẢNG
Kiến Lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Cầu Phước Vì việc niêm yết thông báo.
Nay căn cứ: việc Hữu Tôn Khanh Bảo Phong kiêm nhiếp Tôn Nhân Phủ … nước Đại Nam, vâng sắc chỉ lập đàn tại Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn. Hôm nay nương vào chúng tăng, quang lâm từ vũ; kính tham kinh Phật, bày mở đàn tràng; bổn đàn Sa Môn Thanh Thái, vâng mạng quan ấy truyền chỉ, chiếu khoa phạm mà thi hành; diễn bày Ưu Ba Ly ấy huyền cơ, tận lực Không Thối Chuyển ấy đại chúng; cần thiết xuất nhập tâm thành, trước sau trai việc; gột tấc lòng mà tham bái hiền thánh, trời trong một màu vô tư; lắng kính cung mà lễ lạy Phật thần, ảnh hưởng huyền cơ sáng tỏ; trọn vẹn hoa tùng ấy thắng hội, ngào ngạt ấy thơm cỏ dài lâu. Trên chúc cơ đồ vững chắc, trời Phật sáng soi; đế vương thọ bằng Chín Như, nhân dân an vui Bốn Nghiệp; có (mạng) sống có (ý) thức, cùng chứng Bồ Đề; vô số vô biên, đồng nhuần thắng phước. Nay có Ca Sa ấy tăng chúng, thảy lo trai việc vốn được giao; đầy đủ họ tên, kính ghi sau đây, tính hết thảy …
Chú thích:
- Trúc điển (竺典): kinh điển Phật Giáo. Trong bài Tống Giáp Sơn Mẫu Cữu Chi Nhiệm Thái Nguyên Tự (送夾山母舅之任太原序) của Viên Tông Đạo (袁宗道, 1560-1600) nhà Minh có đoạn: “Đạo Đức, Nam Hoa dĩ cập trúc điển diệc đa thiệp liệp, huy trần viện hào, vãng vãng hữu hiệu (道德、南華以及竺典亦多涉獵、揮麈援毫、往往有效, Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh cho đến kinh điển Phật Giáo có nhiều liên quan với nhau, chấp bút đàm luận, thường có hiệu quả).” Hay trong bài thơ Tiểu Trừ Dạ Thị Học Nhân (小除夜示學人) của Tịch Đăng (寂燈, ?-?) nhà Minh lại có câu: “Trúc điển đương tôn trọng, phàm tình mạc lãng phàn (竺典當尊重、凡情莫浪攀,kinh Phật nên tôn trọng, phàm phu chớ buông lung).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍 Tục Tạng KinhVol. 82, No. 1571) quyển 81, phần Kì Châu Tam Giác Thiên Phong Tánh Thiền Sư (蘄州三角天峰性禪師), cũng có câu rằng: “Mỗi độc trúc điển, triệt nhật vong quyện (每讀竺典、徹日忘倦, [Thiền Sư] mỗi khi đọc kinh Phật, suốt ngày quên mệt mỏi).” Hoặc trong Tiếu Ẩn Đại Hân Thiền Sư Ngữ Lục (笑隱大訢禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1367) quyển 2 lại có đoạn rằng: “Viên tác liên cung, khai bát hoang chi thọ vức; tải dương trúc điển, tráng vạn thế chi phi đồ (爰作蓮宮、開八荒之壽域、載揚竺典、壯萬世之丕圖, bèn dựng chùa chiền, mở tám phương ấy cõi thọ; xiển dương kinh Phật, sáng muôn thưở ấy cơ đồ).”
- Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離): còn gọi là Ưu Bà Ly (優婆離), Ô Ba Ly (鄔波離), Ưu Ba Lợi (憂波利); ý dịch là cận chấp (近執), cận thủ (近取); là một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật; xuất thân xứ Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛) của Ấn Độ, thuộc dòng dõi giai cấp Thủ Đà La (s: śūdra, p: sudda, 首陀羅), vốn là người thợ hớt tóc trong cung đình. Sau khi thành đạo được 6 năm, nhóm 7 người gồm Bạt Đề (s:Bhadrika, p: Bhaddiya, 跋提), A Na Luật (阿那律, tức A Nậu Lâu Đà [s: Aniruddha, p: Anuruddha, 阿冕樓馱]), A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), v.v., phát tâm xuất gia; Ưu Ba Ly cũng theo nhóm nầy xin xuất gia. Chính tôn giả đã giúp Đức Phật mở rộng cánh cửa nhiếp hóa bình đẳng, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, giai cấp, v.v. Tôn giả là người tinh thông về giới luật, tu trì nghiêm cẩn, được xem như là “Trì Luật Đệ Nhất (持律第一, vâng giữ giới luật số một).” Cho nên, trong cuộc kết tập kinh điển lần đầu tiên, tôn giả đã tụng Luật Bộ. Về công đức lúc sinh tiền, nhân duyên xuất gia của tôn giả, có ký lục trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 53~55. Về phía Mật Giáo, tôn giả là một trong các vị Thanh Văn trong Thích Ca Viện thuộc Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅), ở bên trái đức Phật Thích Ca. Về hình tượng, hiện thân Tỳ Kheo, ngồi kiết già trên lá sen. Ngoài ra, Ưu Ba Ly hay Ưu Bà Ly (s, p: Upāli, 優婆離), còn là tên của vị tăng người Thái Lan sống vào khoảng thế kỷ 18, vâng mệnh đức vua Ba Long Khoa Tư (波隆科斯, Borom Kos) của vương triều Đại Thành (大城) tổ chức tăng đoàn, rồi sang Tích Lan truyền trao giới pháp theo phương thức Xiêm La. Vào năm 1753, theo nghi thức của tăng đoàn Thái Lan, sư truyền trao Tỳ Kheo giới cho Tát La Nan Ca La (薩羅難迦羅) và 5 vị Sa Di Tích Lan, bắt đầu khai sáng Phái Tích Lan Xiêm La (錫蘭暹羅派, Syāma-vaṃsa), và sau đó qua đời tại xứ nầy.
- Chơn cơ, chân cơ (眞機): lý huyền diệu, bí yếu. Như trong bài thơ Tống Đạm Công Quy Tung Sơn Long Đàm Tự Táng Bổn Sư (送淡公歸嵩山龍潭寺葬本師) của Dương Cự Nguyên (楊巨源, 755-?) nhà Đường có câu: “Dã yên thu hỏa thương mang viễn, Thiền cảnh chơn cơ khứ trú nhàn (野煙秋火蒼茫遠、禪境眞機去住閒, khói hoang thu lửa xanh xa tít, Thiền cảnh huyền cơ mặc sống nhàn).” Hay trong bài thơ Hòa Giả Vân Lão Xuân Vãn (和賈耘老春晚) của Trần Sư Đạo (陳師道, 1053-1101) nhà Tống cũng có câu: “Nhất ngọa hải thành xuân hựu vãn, bất phương nhàn xứ đắc chơn cơ (一臥海城春又晚、不妨閒處得眞機, nằm xuống biển thành xuân lại xế, ngại gì nhàn chốn được huyền cơ).” Hay trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 20, phần Khai Thị Kệ (開示偈), lại có câu: “Quế hoa hương xứ lộ chơn cơ, chánh thị tâm không cập đệ thời (桂花香處露眞機、正是心空及第時, quế hoa hương ngát lộ cơ duyên, đúng lúc tâm không thị đỗ về).” Hoặc trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) cũng có đoạn rằng: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật, thị dĩ cửu niên diện bích, độc khế chơn cơ, chích lý Tây quy (敎外別傳、不立文字、直指人心、見性成佛、是以九年面壁、獨契眞機、隻履西歸, ngoài giáo truyền riêng, không lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, vì vậy chín năm nhìn vách, riêng khế huyền cơ, một dép về Tây).”
- Tức A Bệ Bạt Trí, A Tì Bạt Trí (s: avaivart, 阿鞞跋致): còn gọi là A Tỳ Bạt Trí (阿毘跋致), A Duy Việt Trí (阿惟越致); ý dịch là bất thối chuyển (不退轉, không thối lui), tức là không thối lui trên con đường tiến lên thành Phật. Đây là tên gọi của giai vị Bồ Tát, trải qua tu hành một đại A Tăng Kỳ Kiếp mới có thể đạt đến địa vị nầy. Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 38, Vãng Sanh Phẩm (往生品), có đoạn rằng: “Cúng dường thập phương chư Phật, thông đạt Bồ Tát đạo, cố nhập Bồ Tát vị, tức thị A Bệ Bạt Trí địa (供養十方諸佛、通達菩薩道、故入菩薩位、卽是阿鞞跋致地, cúng dường mười phương chư Phật, thông đạt Bồ Tát đạo, nên nhập vào địa vị Bồ Tát, tức là cảnh địa Không Thối Chuyển).” Hay trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經, Taishō Vol. 12, No. 366) cũng có đoạn: “Cực Lạc quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị A Bệ Bạt Trí (極樂國土眾生生者、皆是阿鞞跋致, những chúng sanh nào sanh vào quốc độ Cực Lạc, đều là bực Không Thối Chuyển).”
- Thanh chúng (清眾): chúng thanh tịnh, tức chỉ giáo đoàn xuất gia thanh tịnh; còn gọi là thanh tịnh đại hải chúng(清淨大海眾), thanh tịnh chúng (清淨眾). Giống như bốn sông lớn đỗ vào biển cả, đều bỏ hết tên gọi ban đầu để trở thành nước biển; Tỳ Kheo xuất gia cũng bỏ đi tên họ, chủng tộc trước kia của mình, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, đều trở thành đại chúng thanh tịnh với chí cầu mong giải thoát. Như trong Nhị Bộ Tăng Thọ Giới Nghi Thức (二部僧授戒儀式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1134) có đoạn: “Thiện nữ nhân đẳng, khẩn thiết chí thành, ngưỡng bằng thanh chúng, cầu ai khất giới (善女人等、懇切至誠、仰憑清眾、求哀乞戒, các người thiện nữ, khẩn thiết chí thành, ngưỡng nhờ chúng thanh tịnh, cầu xin giới pháp).” Hay trong Nhập Chúng Tu Tri (入眾須知, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1247), phần Sa Di Thọ Giới Văn (沙彌受戒文), lại có đoạn: “Đường Đầu Hòa Thượng thường vi khổ hải tân lương, Chấp Sự cao nhân vĩnh tác pháp môn lương đống, hợp đường thanh chúng đồng thừa Bát Nhã chi chu, thế đầu Sa Di tốc chí Bồ Đề chi ngạn (堂頭和尚常爲苦海津梁、執事高人永作法門梁棟、合堂清眾同乘般若之舟、剃頭沙彌速至菩提之岸, Đường Đầu Hòa Thượng thường là biển khổ bến bờ, Chấp Sự cao nhân mãi làm pháp môn rường cột, hợp đường chúng tăng cùng lên Bát Nhã con thuyền, xuống tóc Sa Di mau đến Bồ Đề bờ giác).”
- Thốn tâm (寸心): tấc lòng, có 2 nghĩa chính. (1) Chỉ cho tâm. Xưa kia, người ta cho rằng tâm lớn nhỏ chỉ trong khoảng một tấc vuông; cho nên có tên gọi như vậy. Trong bài thơ Ngẫu Đề (偶題) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Văn chương thiên cổ sự, đắc thất thốn tâm tri (文章千古事、得失寸心知, văn chương thiên cổ việc, được mất tấc lòng hay).” Hay trong tác phẩm Phù Sanh Lục Ký (浮生六記), phần Khảm Khả Ký Sầu (坎坷記愁), của Thẩm Phú (沉覆, 1763-1825) nhà Thanh, có đoạn rằng: “Đương thị thời, cô đăng nhất trản, cử mục vô thị, lưỡng thủ không quyền, thốn tâm dục toái (當是時、孤燈一盞、舉目無親、兩手空拳、寸心欲碎, ngay lúc ấy, ánh đèn đơn một chén, dương mắt mà chẳng thấy, hai tay đấm không gian, tấc lòng muốn vỡ tan).” Hoặc trong Bát Nhã Tâm Kinh Chú Giải (般若心經註解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 575) quyển 2 lại có câu: “Thốn tâm bất muội, vạn pháp giai minh (寸心不昧、萬法皆明, tấc lòng không mê muội, vạn pháp thảy sáng trong).” (2) Chỉ cho tâm sự, tâm nguyện. Như trong bài thơ Phùng Hiệp Giả (逢俠者) của Tiền Khởi (錢起, 710-782) nhà Đường có câu: “Thốn tâm ngôn bất tận, tiền lộ nhật tương tà (寸心言不盡、前路日將斜, tấc lòng sao nói hết, nẻo trước ánh chiều tà).” Hay trong bài thơ Mậu Tuất Bát Nguyệt Cảm Sự (戊戌八月感事) của Nghiêm Phục (嚴復, 1854-1921) lại có câu: “Lâm hà minh độc thán, mạc khiển thốn tâm hôi (臨河鳴犢嘆、莫遣寸心灰, đến sông nghe nghé than thở, chớ để tấc lòng nát tan).”
- Huyền cơ (玄機): có hai nghĩa khác nhau. (1) Ý trời, thiên cơ. Như trong Trần Thư (陳書), chương Cao Tổ Kỷ Hạ (高祖紀下), có câu: “Cao Tổ nãi đạo huyền cơ nhi phủ mạt vận (高祖乃蹈玄機而撫末運, vua Cao Tổ bèn theo ý trời mà an ủi mạt vận).” Hay trong hồi thứ nhất của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) cũng có câu: “Thử nãi huyền cơ, bất khả dự tiết (此乃玄機、不可預泄, thiên cơ thế nầy, không thể tiết lộ).” (2) Nghĩa lý vi diệu, thâm áo. Như trong bài thứ 3 của Đạo Gia Tứ Thủ Phụng Sắc Soạn (道家四首奉敕撰) do Trương Thuyết (張說, 667-730) nhà Đường sáng tác có câu: “Kim lô thừa đạo quyết, ngọc điệp khải huyền cơ (金爐承道訣、玉牒啟玄機, lò vàng vâng bí quyết, điệp ngọc mở lý mầu).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 18, phần Đối Cơ Môn (對機門), Hàng Châu Phật Nhật Sơn Trí Tài Thiền Sư Pháp Từ (杭州佛日山智才禪師法嗣), lại có đoạn: “Bất tu biện vọng cầu chơn, bất dụng tị huyên thủ tĩnh, nhân nhân cảo nhật đương không, xứ xứ huyền cơ độc hồi (不須辨妄求眞、不用避喧取靜、人人杲日當空、處處玄機獨迴, chẳng nên bỏ vọng tìm chân, không cần lánh ồn lấy tĩnh, người người trời sáng trên không, chốn chốn huyền cơ hiện rõ).” Hoặc trong bài tựa của Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chú Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 1, cũng có câu: “Toát huyền cơ ư chưởng ác, phát diệu nghĩa ư ngôn tiền (撮玄機於掌握、發妙義於言前, nắm huyền cơ nơi bàn tay, phát diệu nghĩa nơi lời nói).”
- Phân phương (芬芳): có hai nghĩa. (1) Mùi hương, hương khí. Như trong Tuân Tử (荀子), phần Vinh Nhục (榮辱), có câu: “Khẩu biện toan hàm cam khổ, tỷ biện phân phương tinh tao (口辨酸鹹甘苦、鼻辨芬芳腥臊, miệng biết chua mặn cay đắng, mũi biết thơm tho tanh hôi).” Hay trong bài thơ Trùng Vân Lý Quán Tật Tặng Chi (重雲李觀疾贈之) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường cũng có câu: “Cùng đông bách thảo tử, u quế nãi phân phương (窮冬百草死、幽桂乃芬芳, cuối đông trăm cỏ chết, quế rậm vẫn ngát hương).” Hoặc trong Phật Thuyết Kim Diệu Đồng Tử Kinh (佛說金耀童子經, Taishō Vol. 14, No. 546) lại có đoạn: “Ư kỳ đình trung hốt sanh liên hoa, mãn thất thiên hương hằng thời phân phương, nhất thiết chúng sanh phổ giai ái nhạo (於其庭中忽生蓮華、滿室天香恆時芬芳、一切眾生普皆愛樂, ở trong sân vườn chợt sanh hoa sen, đầy nhà hương trời luôn luôn thơm ngát, hết thảy chúng sanh thảy đều vui thích).” (2) Tỷ dụ cho thanh danh và đức hạnh tốt đẹp. Như trong bài thơ Thái Vĩnh Tường (蔡永祥) của Quách Mạt Nhược (郭沫若, 1892-1978) có câu: “Nhất thuấn Thái Sơn trọng, bách đại tụng phân phương (一瞬泰山重、百代頌芬芳, chớp mắt Thái Sơn nặng, muôn đời ngợi tiếng thơm).”
- Cửu Như (九如): từ dùng để chúc tụng, vốn phát xuất từ trong Thi Kinh (詩經), chương Tiểu Nhã (小雅), Thiên Bảo (天保): “Như sơn như phụ, như cương như lăng; như xuyên chi phương chí, …, như nguyệt chi hằng, như nhật chi thăng, như Nam sơn chi thọ, bất khiên bất băng, như tùng bách chi mậu (如山如阜、如岡如陵、如川之方至、…如月之恆、如日之升、如南山之壽、不騫不崩、如松柏之茂, như núi như gò, như đồi như đống, như dòng sông lại đến …, như trăng còn đó, như trời lên cao, như thọ bằng núi Nam, không tan không rã, như tùng bách tươi tốt).”
- Tứ Nghiệp (四業): bốn nghiệp, có hai nghĩa. (1) Chỉ cho Thi (詩), Thư (書), Lễ (禮) và Nhạc (樂). Như trong Tấn Thư (晉書), chương Hậu Phi Truyện Hạ (后妃傳下), phần Hiếu Võ Định Vương Hoàng Hậu (孝武定王皇后), có câu: “Thiên tánh nhu thuận, Tứ Nghiệp doãn bị (天性柔順、四業允僃, tánh trời nhu thuận, Bốn Nghiệp đầy đủ).” (2) Chỉ cho 4 công việc của người dân là Sĩ (士), Nông (農), Công (工) và Thương (商).
- Ca Sa (s: kaṣāya, kāṣāya; p: kāsāya, kāsāva, 袈裟、毠㲚): theo nguyên ngữ nghĩa là y phục có màu sắc sần sùi như trái thị, người ta nhuộm y của tu sĩ Phật Giáo bằng màu sắc trái thị nên y đó được gọi là Ca Sa; ý dịch là hoàng y (黃衣, y vàng), hoại sắc (壞色). Nó còn được gọi là Tệ Y (弊衣, y xấu), Phấn Tảo Y (糞掃衣, y quét phân), Cát Tiệt Y (割截衣, y cắt ra từng mảnh), Nạp Y (衲衣, y nghèo nàn), Điền Tướng Y (田相衣, y có hình như ô ruộng), Phước Điền Y (福田衣, y ruộng phước), Công Đức Y (功德衣, y công đức), Giải Thoát Y (解脫衣, y giải thoát), v.v. Tệ Y và Phấn Tảo Y là loại nguyên lai người ta lượm những mảnh vải vứt bỏ ở các nghĩa trang hay đống rác, rồi đem giặt, nhuộm màu vàng và kết thành. Cát Tiệt Y và Nạp Y là loại được khâu lại từ nhiều mảnh vải vụn. Điền Tướng Y cũng như Phước Điền Y là loại được tạo theo hình dáng ô ruộng. Ca Sa là loại y phục có sắc màu xấu xí, không gây ấn tượng mạnh, nên không sợ bị mất cắp; vì thế vị Tỳ Kheo mang y nầy có thể xa lìa niệm trần tục mà chú tâm vào việc tu tập, đạt được giải thoát cho tự thân và có được công đức to lớn, nên nó được gọi là Công Đức Y hay Giải Thoát Y. Tùy theo số lượng mảnh vải được nối ráp lại, người ta phân ra làm nhiều loại như 5 điều, 7 điều, 9 điều, 13 điều, 15 điều, 25 điều, v.v. Y có từ 9 điều trở lên được gọi là Đại Y hay Tăng Già Lê (s: saṅgāṭī, 僧伽梨), y 7 điều là Thượng Y hay Uất Đa La Tăng (s:uttarasaṅga, 鬱多羅僧), y 5 điều là Nội Y hay An Đà Hội (s: antarvāsa, 安陀會). Đó gọi là Tam Y. Trong Thiền Tông, việc truyền trao pháp là truyền trao y bát, cho nên người ta rất tôn trọng y Ca Sa. Đặc biệt, ngài Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253), vị Tổ sáng lập ra Tào Động Tông Nhật Bản, đã nhấn mạnh rằng Ca Sa là ấn chứng của Phật pháp chánh truyền. Cùng với sự truyền bá của Phật Giáo, Ca Sa đã phát sanh ra rất nhiều thay đổi tùy theo sự khác nhau về khí hậu, phong thổ, y phục, tập quán, v.v. Tại Trung Quốc và Nhật Bản, Ca Sa được mặc trên Pháp Y; đặc biệt loại Ca Sa dùng trong các nghi thức trọng yếu đã trở thành loại trang sức rất hoa mỹ, có thêu các hoa văn. v.v. Trong Thập Tụng Luật (十誦律, Taishō Vol. 23, No. 1435), phần Thất Pháp Trung Thọ Cụ Túc Giới Pháp (七法中受具足戒法) thứ nhất, có dạy rõ rằng: “Tác Ca Sa y bất như pháp, trước y diệc bất như pháp, cập thân uy nghi giai bất như pháp (作袈裟衣不如法、著衣亦不如法、及身威儀皆不如法, làm y Ca Sa không đúng pháp, mang y cũng không đúng pháp, và oai nghi của thân cũng không đúng pháp).” Ngoài ra, trong Luật Học Phát Nhận (律學發軔, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1125) quyển Hạ còn dạy rằng: “Ưng khởi bát pháp tín trọng Ca Sa, nhất ưng khởi tháp tưởng, nhị ưng khởi tịch diệt tưởng, tam ưng khởi từ tưởng, tứ ưng khởi bi tưởng, ngũ ưng khởi như Phật tưởng, lục ưng khởi tàm tưởng, thất ưng khởi quý tưởng, bát ưng khởi linh ngã lai thế ly Tam Độc (應起八法信重袈裟、一應起塔想、二應起寂滅想、三應起慈想、四應起悲想、五應起如佛想、六應起慚想、七應起愧想、八應起令我來世離三毒, nên sinh khởi tám pháp tin trọng y Ca Sa, một là nên sinh khởi quán tưởng về tháp, hai là nên sinh khởi quán tưởng về sự vắng lặng, ba là nên sinh khởi quán tưởng về tâm từ, bốn là nên sinh khởi quán tưởng về tâm bi, năm là nên sinh khởi quán tưởng như đức Phật, sáu là nên sinh khởi quán tưởng về xấu xa, bảy là nên sinh khởi quán tưởng về hổ thẹn, tám là nên sinh khởi quán tưởng rằng ta đời tương lai sẽ xa lìa Ba Độc).”