4. Đồng Khánh Hoàng Đế Thỉnh Điệp

 

Nguyên văn:

同慶皇帝請牒

 

啟建資福道場大齋壇  爲牒奏請事。兹奉

大南國孝子嗣統皇帝阮福...法名...、建壇于純毅堅太王祠奉

佛修齋諷經資福酬恩事、維日虔僃齋儀、載陳菲禮、願焄蒿之默鑒、證芹曝之微誠、奏請于

皇帝徽號之金靈。

伏念、文武聖神、英明仁孝、中興默運

皇度如金、垂統貽謀、聖心若鏡、玄都而紫府卅年餘、想像如存、鶴駕而雲騈千載下、留徽若在、顧願追酬

昊德應須、仰達鴻恩。兹者時惟初夏、節屆清和、茂樹連陰、長風扇暑、莊嚴寶座、壇開三晝之連霄、瑞靄金爐、香滿十方之世界、諷誦大乘三寶尊經、地藏菩薩本願經、慈悲三昧水懺法、加持...諸本神咒、繼以...(如前)、頂禮鴻名寶號、集此良因、祈增福果。今則淨掃菩提之地、高轉法輪、弘開甘露之門、道迎神馭、和羅飯筵中默享、趙州茶案上潛馨、聞玉偈以逍遙、聽金經而自在、慶延家國、福及臣民。須至牒請者。

右牒

皇帝徽號金靈洞鑒。

 

Phiên âm:

ĐỒNG KHÁNH1 HOÀNG ĐẾ THỈNH ĐIỆP

 

Khải Kiến Tư Phước Đạo Tràng2 Đại Trai Đàn Vị điệp tấu thỉnh sự.

Tư phụng: Đại Nam Quốc hiếu tử Từ Thống Hoàng Đế Nguyễn Phúc …, pháp danh …, kiến đàn vu Thuần Nghị Kiên Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự; duy nhật kiền bị trai nghi, tải trần phỉ lễ; nguyện huân hao3 chi mặc giám, chứng cần bộc4 chi vi thành; tấu thỉnh vu

Hoàng Đế Huy Hiệu Chi Kim Linh.

Phục niệm: Văn Võ Thánh Thần, Anh Minh Nhân Hiếu, Trung Hưng mặc vận, Hoàng độ như kim, thùy thống di mưu; Thánh tâm nhược kính, Huyền Đô nhi Tử Phủ tạp niên dư, tưởng tượng như tồn; hạc giá nhi vân biền thiên tải hạ, lưu tình nhược tại, cố nguyện truy thù, hạo đức ưng tu, ngưỡng đạt hồng ân. Tư giả thời duy sơ Hạ, tiết giới thanh hòa; mậu thọ liên âm, trường phong phiến thử; trang nghiêm bảo tọa, đàn khai tam trú chi liên tiêu; thụy ải kim lô, hương mãn thập phương chi thế giới; phụng tụng Đại Thừa Tam Bảo Tôn Kinh, Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh, Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp; gia trì chư phẩm thần chú, kế dĩ … (như tiền), đảnh lễ hồng danh bảo hiệu, tập thử lương nhân, kỳ tăng phước quả. Kim tắc tịnh tảo Bồ Đề chi địa, cao chuyển pháp luân; hoằng khai Cam Lộ chi môn, đạo nghinh thần ngự; Hòa La Phạn5 diên trung mặc hưởng, Triệu Châu Trà6 án thượng tiềm hinh; văn ngọc kệ7 dĩ tiêu dao, thính kim kinh8 nhi tự tại;9 khánh diên gia quốc, phước cập thần dân. Tu chí10 điệp thỉnh giả.

Hữu11 Điệp Tấu Thỉnh

Hoàng Đế Huy Hiệu Kim Linh động giám.

 

Dịch nghĩa:

ĐIỆP THỈNH CÚNG HOÀNG ĐẾ ĐỒNG KHÁNH

 

Kiến Lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Cầu Phước Vì điệp tâu thỉnh.

Nay vâng: Việc hiếu tử Hoàng Đế kế vị Nguyễn Phúc … nước Đại Nam, pháp danh …, lập đàn tại Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn. Hôm nay thiết đủ nghi chay, kính bày lễ mọn; mong cúng tế thầm chứng giám, nhận lễ bạc với tâm thành; tâu thỉnh đến:

Kim linh Hoàng Đế huy hiệu …

Cúi nghĩ: Văn Võ Thánh Thần, Anh Minh Nhân Hiếu; trung hưng thầm vận, đức cả như vàng, ban truyền lời dạy; tâm Thánh như kính, Huyền Đô về Tử Phủ mấy mươi năm, tưởng tượng như còn; cỡi hạc mà nương mây nghìn năm xuống, bóng hình tồn tại; những nguyện đáp đền đức cả, mong sao đạt thấu hồng ân. Nay gặp đúng lúc đầu Hạ, tiết khí thanh hòa; cây tốt bóng râm, gió tươi quạt nóng; trang nghiêm tòa báu, đàn mở ba ngày suốt ba đêm; khói ngút lò vàng, hương khắp mười phương các thế giới; trì tụng tôn kinh Tam Bảo Đại Thừa, Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh, Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp; trì thêm các phẩm Thần Chú …; tiếp theo (như trước); đảnh lễ hồng danh hiệu Phật, lấy nhân tốt nầy, cầu tăng quả phước. Nay tất quét sạch Bồ Đề thánh địa, khắp chuyển pháp luân; rộng mở cửa lớn Cam Lộ, đón tiếp thần ngự; cơm Tự Tứ cỗ đầy trọn hưởng, trà Triệu Châu trên án ngát hương; nghe kệ báu được tiêu dao, thấm kinh vàng mà tự tại; vui khắp nhà nước, phước đến thần dân. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Tâu Thỉnh

Kim linh Hoàng Đế huy hiệu … chứng giám.

 

Chú thích:

  1. Hoàng Đế Đồng Khánh (同慶, tại vị 1885-1889): vị Hoàng Đế thứ 9 của triều Nguyễn; miếu hiệu là Nguyễn Cảnh Tông (阮景宗); thụy hiệu là Hoằng Liệt Thống Triết Mẫn Huệ Thuần Hoàng Đế (弘烈統哲敏惠純皇帝); Hoàng gia ca là Đăng Đàn Cung. Đức vua sinh ngày 12 tháng giêng năm Giáp Tý, nhằm ngày 19 tháng 2 năm 1864 tại Huế và băng hà ngày 28 tháng 1 năm 1889. Về tên húy của vua, các tài liệu ghi rất mâu thuẫn khác nhau như Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (阮福膺祺), Nguyễn Phúc Ưng Thị, Nguyễn Phúc Biện (阮福昪), Nguyễn Phúc Chánh Mông, hay Nguyễn Phúc Đường. Hoàng Đế là con trưởng của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai (堅太王阮福洪侅) và bà Bùi Thị Thanh. Vào năm 1865, Ưng Kỷ được vua Tự Đức (嗣德, tại vị 1847-1883) nhận làm con nuôi và giao cho bà Thiện Phi Nguyễn Thị Cẩm chăm sóc, dạy bảo. Ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Dậu, tức ngày 19 tháng 9 năm 1885, Nguyễn Phúc Ưng Kỷ phải thân hành sang bên Khâm Sứ Pháp làm lễ thụ phong, được tôn làm vua, lấy niên hiệu là Đồng Khánh. Vua Đồng Khánh ở ngôi được ba năm thì bệnh và băng hà vào ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tý, tức ngày 28 tháng năm 1889. Khi đó nhà vua 24 tuổi. Lăng của vua Đồng Khánh là Tư Lăng tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Ông được thờ tại Tả Tam Án ở Thế Miếu và Tả Tam Án điện Phụng Tiên trong Đại Nội kinh thành Huế. Đức vua có 6 hoàng tử và 3 công chúa, trong đó Hoàng tử Bửu Đảo (寶嶹) sau nầy trở thành vua Khải Định (啓定, tại vị 1916-1925).

(Theo nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/Đồng_Khánh)

  1. Đạo tràng (道塲, dōjō): nguyên nghĩa là nơi đức Thích Tôn ngồi trên tòa Kim Cang thành đạo, bên bờ sông Ni Liên Thuyền (s: Nairañjanā, p: Nerañjarā, 尼連禪河, hiện tại là sông Phalgu thuộc bang Bihar) thuộc nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀) ở Trung Ấn Độ. Từ đó, nó có nghĩa là nơi tu tập Phật đạo, hay tên gọi khác của tự viện. Trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474) quyển 1 có đoạn: “Giải vô thỉ dĩ lai tận pháp giới hư không giới vô lượng oan nghiệp, nguyện dữ Tứ Ân Tam Hữu pháp giới nhất thiết chúng sanh, tập vô thỉ dĩ lai tận pháp giới hư không giới vô lượng phước trí, đồng du Hoa Tạng trang nghiêm hải, cọng nhập Bồ Đề đại đạo tràng (解無始以來盡法界虛空界無量冤業、願與四恩三有法界一切眾生、集無始以來盡法界虛空界無量福智、同遊華藏莊嚴海、共入菩提大道塲, cởi hết vô lượng oan nghiệp từ ngàn xưa đến nay khắp cùng pháp giới hư không, nguyện cùng với hết thảy chúng sanh trong pháp giới Bốn Ơn Ba Cõi, tập trung vô lượng phước trí từ ngàn xưa đến nay khắp cùng pháp giới hư không, cùng chơi biển trang nghiêm Hoa Tạng, đều vào đạo tràng lớn Bồ Đề).” Hay như trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 8 có câu rằng: “Thị dạ phát từ bi tưởng, sanh lân mẫn tâm, đặc doanh Hương Tích chi tu, nghiêm khiết đạo tràng chi địa (是夜發慈悲想、生憐憫心、特營香積之羞、嚴潔道塲之地, đêm nay phát tưởng từ bi, sanh tâm thương xót, đặc biệt nấu món ăn Hương Tích, trang nghiêm trong sạch chốn đạo tràng).”
  2. Huân hao (焄蒿): hương vị xuất phát từ vật phẩm dâng cúng trong khi cúng tế, sau đó từ nầy cũng được dùng để chỉ cho việc cúng tế. Như trong bài thơ Trừ Dạ Cảm Hoài (除夜感懷) có câu: “Huân hao phụng từ sự, khổ lệ lạc tửu chi (焄蒿奉祠事、苦淚落酒巵, cúng tế phụng thờ việc, lệ đắng chén rượu rơi).” Hay trong bài thơ Long Môn (龍門) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh lại có câu: “Nhập miếu huân hao tiếp, lâm lưu tưởng tượng tồn (入廟焄蒿接、臨流想像存, vào miếu cúng tế tiếp, đến dòng tưởng tượng còn).” Trong Hoằng Minh Tập (弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2102) quyển 3, phần Thích Quân Thiện Nan (釋均善難), có đoạn: “Vi khuyến hóa chi bổn, diễn huân hao chi đáp, minh lai sanh chi nghiệm (爲勸化之本、演焄蒿之答、明來生之驗, lấy khuyến hóa làm gốc, bày cúng tế đáp đền, rõ đời sau ứng nghiệm).” Lại trong Tứ Minh Tôn Giả Giáo Hành Lục (四明尊者敎行錄, Taishō Vol. 46, No. 1937) quyển 7, phần Loa Khê Di Tháp Ký (螺谿移塔記), có câu: “Tuy nhiên học giả tín chi đốc, tư chi chí huân hao thê sảng (雖然學者信之篤、思之至焄蒿悽愴, tuy nhiên học giả dốc một lòng tin, nghĩ đến tận cùng cúng tế thật xót thương).”
  3. Cần bộc (芹曝): từ khiêm tốn, chỉ cho lễ vật dâng hiến nhỏ nhặt, ít ỏi, đạm bạc, không đầy đủ nhưng với cả tấm lòng chí thành. Từ nầy thường được dùng đồng nghĩa với cần hiến (芹獻), hiến bộc (獻曝). Trong bài Cư Hậu Đệ Hòa Thất Thập Tứ Ngâm Tái Phú (居厚弟和七十四吟再賦) của Lưu Khắc Trang (劉克莊, 1187-1269) nhà Tống có câu: “Phê đồ tằng cử từ thần chức, cần bộc chung hoài dã lão tâm (批塗曾舉詞臣職、芹曝終懷野老心, phê chuẩn từng cử chức quan lớn, lễ bạc còn lo lão quê lòng).” Hay như trong bài thơ Chân Châu Tiêu Nương Chế Cao Bính Tối Hữu Danh (眞州蕭娘制糕餅最有名) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh cũng có câu: “Quỹ tiết liêu đồng hiến bộc tình, cạnh yêu chuyên bút tứ bao vinh (饋節聊同獻曝情、競邀椽筆賜褒榮, quà biếu cũng như lễ mọn tình, tranh mời bút lực tặng hiển vinh).” Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, tục tạng kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 2, phần Anh Bệnh Dũ Hoàn Nguyện (嬰病愈還愿), lại có câu: “Tư tuần báo ân chi điển, nãi cần hiến bộc chi nghi (茲循報恩之典、乃勤獻曝之儀, nay nương báo ân kinh điển, mà bày lễ bạc khoa nghi).” Lại trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 17, phần Phúng Kinh Hộ Quốc Sớ (諷經護國疏), cũng có đoạn: “Chuy y ký nhược, đồ hoài hiến bộc chi thành; Phật đức khả bằng, cung tuyên hộ quốc chi điển (緇衣既弱、徒懷獻曝之誠、佛德可憑、恭宣護國之典, tăng thân đã yếu, chỉ lo lễ bạc lòng thành; đức Phật thể nương, kính tuyên hộ quốc kinh điển).”
  4. Hòa La Phạn (和羅飯): từ gọi tắt của Bát Hòa La Phạn (缽和羅飯). Bát Hòa La (缽和羅、鉢和羅、盋和羅) là âm dịch của từ Phạn ngữ pravāraā (s.) và pavāraā (p.); còn có một số âm dịch khác như Bát Lợi Bà Thích Noa (鉢利婆刺拏), Bát Hòa Lan (缽和蘭、鉢和蘭); ý dịch là đầy đủ, vui vẻ, việc tùy ý, tùy theo ý của người khác mà tự thân mình nêu ra những sai phạm, Tự Tứ (自恣). Theo Sa Môn Huyền Ứng (玄應, ?-?), nhân vật sống dưới thời nhà Đường, đệ tử của Huyền Trang (玄奘, 602-664), tu sĩ của Đại Tổng Trì Tự (大總持寺) ở Trường An (長安), người biên soạn bộ Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (一切經音義, 25 quyển), giải thích rằng sau An Cư là ngày Tự Tứ, tức nhằm vào Rằm tháng 7 (tại Việt Nam thường tổ chức vào ngày 16). Ngày nầy, món ăn cúng dường Tam Bảo được gọi là Hòa La Phạn, tức là món ăn Tự Tứ. Trong Vu Lan Bồn Kinh Tân Sớ (盂蘭盆經新疏, Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 377) giải thích rõ rằng: “Thọ Bát Hòa La Phạn giả, lân mẫn thí chủ, vô trước vô tham, mỹ thực ố thực, bất sanh tăng giảm, cố danh nhất tâm (受缽和羅飯者、憐愍施主、無著無貪、美食惡食、不生增減、故名一心, người thọ nhận cơm Tự Tứ, phải biết thương xót thí chủ, không chấp trước không tham lam, thức ăn ngon hay thức ăn dở, không sinh cũng không giảm, nên gọi là nhất tâm).” Trong Tông Môn Niêm Cổ Vị Tập (宗門拈古彙集, Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1296) quyển 37 có câu: “Trai thời nhất Bát Hòa La Phạn, Thiền đạo thị phi tổng bất tri (齋時一缽和羅飯、禪道是非總不知, khi ăn một bát cơm Tự Tứ, Thiền đạo đúng sai thảy không hay).” Hay trong bài Nữ Tử Xuất Định (女子出定) của Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 11 có đoạn: “Xuất định mạn vân đàn chỉ gian, không lao thần lực bất tương quan, nhi kim quán khiết Hòa La Phạn, nhất nhật tam xan bão tiện nhàn (出定謾云彈指間、空勞神力不相關、而今慣喫和羅飯、一日三餐飽便閒, xuất định dối cho [trong khoảng] khảy móng tay, nhọc gì thần lực liên quan đây, như nay quen ăn cơm Tự Tứ, ba bữa một ngày no ngủ say).”
  5. Triệu Châu Trà (趙州茶): tách trà của Thiền Sư Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗, 778-897). Ông xuất thân môn hạ của Nam Nhạc. Lúc còn nhỏ, ông xuất gia ở Hỗ Thông Viện (扈通院), rồi đến vùng Trì Dương (池陽), tham yết với Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), và được khế ngộ. Về sau, ông còn đến tham bái một số danh tăng đương thời như Hoàng Bá (黃檗), Bảo Thọ (寶壽), Diêm Quan (鹽官), Giáp Sơn (夾山), v.v.; và cuối cùng thể theo lời thỉnh cầu của đồ chúng, ông đến trú tại Quan Âm Viện (觀音院), vùng Triệu Châu (趙州, thuộc tỉnh Hà Bắc). Tại đây ông đã tuyên dương Thiền phong độc đáo trong suốt 40 năm. Thuật ngữ Triệu Châu Trà vốn phát xuất từ câu chuyện “Khiết trà khứ (喫茶去, uống trà đi)” được ký lục lại trong khá nhiều thư tịch Thiền Tông. Tỷ dụ như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 20 ghi như sau: “Triệu Châu vấn tân đáo: ‘Tằng đáo thử gian ma ?’ Đáp: ‘Tằng đáo.’ Sư viết: ‘Khiết trà khứ.’ Hựu vấn tăng, tăng viết: ‘Bất tằng đáo.’ Sư viết: ‘Khiết trà khứ.’ Hậu Viện Chủ vấn viết: ‘Vi thập ma, tằng đáo dã vân khiết trà khứ, bất tằng đáo dã vân khiết trà khứ. Sư chiêu Viện Chủ, Chủ ứng nặc, sư viết: ‘Khiết trà khứ.’ (趙州問新到、曾到此間麼、曰曾到、師曰、喫茶去、又問僧、僧曰、不曾到、師曰、喫茶去、後院主問曰、爲甚麼、曾到也云喫茶去、不曾到也云喫茶去、師召院主、主應喏、師曰、喫茶去, Triệu Châu hỏi người mới đến rằng: ‘Đã từng đến đây chưa ?’ Đáp: ‘Đã từng đến.’ Sư bảo: ‘Uống trà đi !’ Lại hỏi vị tăng khác, người ấy trả lời: ‘Chưa từng đến.’ Sư bảo: ‘Uống trà đi !’ Về sau, thầy Viện Chủ mới hỏi rằng: ‘Người đã từng đến ngài cũng bảo là uống trà đi, người chưa từng đến ngài cũng bảo là uống trà đi, vậy là thế nào ?’ [Khi ấy] sư gọi thầy Viện Chủ, thầy đáp: ‘Dạ.’ Sư bảo: ‘Uống trà đi !’).” “Khiết trà khứ” đã trở thành một công án Thiền đặc sắc, được tìm thấy trong khá nhiều ngữ lục Thiền; cũng như trong điển tịch trên, Phần Dương Thiện Chiêu (汾陽善昭, 947-1024) có làm bài tụng về công án đó là: “Triệu Châu hữu ngữ khiết trà khứ, thiên hạ nạp tăng tổng đáo lai, bất thị thạch kiều nguyên để hoạt, hoán tha đa thiểu nạp tăng hồi (趙州有語喫茶去、天下衲僧總到來、不是石橋元底滑、喚他多少衲僧回, Triệu Châu có câu uống trà đi, thiên hạ chúng tăng thảy đến đây, chẳng phải cầu đá nguyên bóng mượt, cuối cùng nhiều ít có kẻ về).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 97, phần Ích Châu Tung Sơn Dã Trúc Phước Tuệ Thiền Sư (益州嵩山野竹福慧禪師), có câu: “Trượng thượng vô tiền cô tự tửu, thả khuynh nhất oản Triệu Châu Trà (杖上無錢沽白酒、且傾一碗趙州茶, trên gậy không tiền mua tự uống, còn nốc một chén Triệu Châu Trà).” Cũng trong thư tịch trên, quyển 98 lại có câu: “Khiết tận Triệu Châu Trà, thiêu khước Huệ Lâm Phật (吃盡趙州茶、燒卻慧林佛, uống sạch Triệu Châu Trà, đốt tiêu Huệ Lâm Phật).” Trong nghi Cúng Chung Thất Trai Tuần cho chư vị cao tăng viên tịch, cũng có câu kệ liên quan đến Triệu Châu Trà: “Sơ hiến Triệu Châu Trà, phanh lai thật hinh hoa, tấn hiến giác linh tòa, tảo vãng pháp vương gia (初獻趙州茶、烹來寔馨花、進獻覺靈座、早往法王家, mới cúng Triệu Châu Trà, nấu sôi thật thơm tho, dâng cúng giác linh ngự, sớm lên pháp vương nhà).”
  6. Ngọc kệ (玉偈): câu kệ tụng quý giá như vàng ngọc. Kệ (s, p: gāthā, ): âm dịch là Già Đà (伽陀), Già Tha (伽他), Kệ Đà (偈佗); ý dịch là phúng tụng (諷誦、諷頌), tạo tụng (造頌), kệ tụng (偈頌), tụng (), cô khởi tụng(孤起頌), bất trùng tụng kệ (不重頌偈). Về nghĩa rộng, Già Đà chỉ cho ca dao, thánh ca; nghĩa hẹp chỉ cho đoạn cuối hay phần chót của kinh văn; nội dung không nhất định và có quan hệ với mạch văn trước sau. Như trong Khai Phước Đạo Ninh Thiền Sư Ngữ Lục (開福道寧禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1353) quyển 1 có câu: “Lang hàm ngọc kệ biến mãn Long Cung, hải giác thiên nhai tiềm phu áo nghĩa, hoặc chiêm hoặc lễ huýnh thoát căn trần, nhược kiến nhược văn câu thành chủng trí (琅函玉偈遍滿龍宮、海角天涯潛敷奧義、或瞻或禮迥脫根塵、若見若聞俱成種智, hòm báu kệ ngọc cùng khắp Long Cung, góc biển bờ trời thầm tuyên áo nghĩa, hoặc nhìn hoặc lễ mau thoát bụi trần, nếu thấy nếu nghe đều thành chủng trí).” Hay trong Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám (廬山蓮宗寶鑑, Taishō Vol. 47, No. 1973) quyển 9, phần Niệm Phật Chánh Báo Thuyết (念佛正報說), lại có câu: “Thần yết từ nhan đắc pháp ấn nhi hoàn quốc, mộ du kim sát thính ngọc kệ dĩ tiêu dao (晨謁慈顏得法印而還國、暮遊金剎聽玉偈以逍遙, sáng viếng tôn sư được pháp ấn mà về nước, chiều chơi tự viện nghe kệ ngọc bỗng tiêu dao).”
  7. Kim kinh (金經): kinh điển vàng ngọc. Kinh (s: sūtra, p: sutta, ), âm dịch là Tu Đa La (修多羅), ý dịch là Khế Kinh (契經), Chánh Kinh (正經), Quán Kinh (貫經); là từ gọi chung cho tất cả Phật pháp, hay chỉ cho một loại trong 9 hoặc 12 phần giáo. Từ nầy còn dùng để chỉ cho các kinh điển của Đạo Giáo. Như trong bài thơ Thù Điền Dật Nhân Du Nham Kiến Tầm Bất Ngộ (酬田逸人遊岩見尋不遇) của thi nhân Trần Tử Ngang (陳子昂, 661-702) nhà Đường có câu: “Thạch tủy không doanh ác, kim kinh bí bất văn (石髓空盈握、金經祕不聞, nhũ đá rỗng nắm trọn, kinh vàng linh chẳng nghe).” Hay trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 26, bài thơ Đề Sư Tử Am (題獅子菴), có đoạn: “Sát can cao thụ thạch khê đông, bán yểm tùng vân thúy sắc nồng, nhật ngọ kim kinh phương bãi độc, nhất thanh sư hống bạch vân trung (剎竿高豎石溪東、半掩松雲翠色濃、日午金經方讀罷、一聲獅吼白雲中, đầu sào cao vút khe đá đông, xanh biếc sắc màu che mây tùng, quá trưa kinh vàng vừa đọc hết, tiếng gầm sư tử mây trắng trong).” Hoặc trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) lại có câu: “Quá khứ hiện tại cập vị lai, nhất thiết hữu tình Tam Giới biến, ngã kim thích huyết tả kim kinh, cúng phụng từ vương khất thùy giám, phù đồ thất cấp tánh trung quang, Di Đà nhất cú tâm đầu niệm, đồng sanh Cực Lạc ly khổ luân(過去現在及未來、一切有情三界遍、我今刺血寫金經、供奉慈王乞垂鑒、浮圖七級性中光、彌陀一句心頭念、同生極樂離苦輪, quá khứ hiện tại và tương lai, hết thảy hữu tình Ba Cõi khắp, con nay chích máu viết kinh vàng, dâng cúng đức từ xin chứng giám, bảy tầng tháp báu hiện hào quang, Di Đà một câu trong tâm niệm, cùng sanh Cực Lạc thoát luân hồi).”
  8. Tự Tại (s: vaśitā, vaśitva, 自在): vaśitā có nghĩa là năng lực thuận theo ý một cách tự nhiên; trong khi đó, vaśitvathuận theo ý một cách tự nhiên; thế nhưng, về mặt ngữ nguyên thì cả hai không khác nhau. Từ Hán ngữ “tự tại” cũng có nghĩa là thuận theo ý một cách tự nhiên, đồng nghĩa với tự do (自由), là sự hoạt dụng của thân tâm xa lìa hết thảy mọi ràng buộc, được tự do tự tại. Trong kinh điển Phật Giáo, từ nầy được dùng để chỉ cảnh giới cũng như năng lực vô ngại của chư Phật và Bồ Tát vốn đã xa lìa sự ràng buộc của phiền não. Về năng lực tự tại, có nhiều thuyết khác nhau như 2 loại tự tại, 4 loại tự tại, 5 loại tự tại, 8 loại tự tại, 10 loại tự tại, v.v. Trong Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvatasaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) quyển 26 có đề cập đến 10 loại năng lực tự tại được trang bị đầy đủ nơi vị Bồ Tát từ địa thứ 8 trở lên, gồm Mạng Tự Tại (命自在), Tâm Tự Tại (心自在), Tài Tự Tại (財自在), Nghiệp Tự Tại (業自在), Sanh Tự Tại (生自在), Nguyện Tự Tại (願自在), Tín Giải Tự Tại (信解自在), Như Ý Tự Tại (如意自在), Trí Tự Tại (智自在) và Pháp Tự Tại (法自在). Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經) quyển 68 liệt kê 5 loại năng lực tự tại của vị Bồ Tát có Pháp Thân là Thọ Mạng Tự Tại (壽命自在), Sanh Tự Tại, Nghiệp Tự Tại, Giác Quan Tự Tại (覺觀自在), và Chúng Cụ Quả Báo Tự Tại (眾具果報自在). Bồ Tát Quán Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) còn có tên gọi khác là Quán Tự Tại (觀自在) hay Quán Thế Tự Tại (觀世自在). Tại Trúc Khê Tự (竹溪寺) ở phố Đài Nam (臺南市), Đài Loan (臺灣) có câu đối rằng: “Trúc mậu thành lâm quán tự tại, khê trừng vọng nguyệt ức cô viên (竹茂成林觀自在、溪澄望月憶孤園, trúc rậm thành rừng nhìn tự tại, khe trong trăng tỏ nhớ vườn xưa).” Hay tại Lý An Tự (理安寺) ở Hàng Châu (杭州), tỉnh Triết Giang (浙江省) cũng có câu đối diễn tả tâm cảnh tự tại thoát tục của đất trời như sau: “Sơn gian nhật nguyệt tự lai khứ, thiên tế phù vân vô thị phi (山間日月自來去、天際浮雲無是非, trong núi trời trăng tự đi đến, bên trời mây nổi chẳng thị phi).” Trong Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh (自在王菩薩經, Taishō Vol. 13, No. 420) quyển Thượng có giải thích rằng: “Ư Đại Thừa pháp trung đắc tự tại hạnh, nhi năng vi nhân diễn thuyết thử pháp, dĩ tự tại lực, tồi phục chư ma tăng thượng mạn giả, cập chư ngoại đạo hữu sở kiến đắc chư tham trước giả, linh trú Đại Thừa cụ túc đại nguyện thành tựu giới hạnh (於大乘法中得自在行、而能爲人演說此法、以自在力、摧伏諸魔增上慢者、及諸外道有所見得諸貪著者、令住大乘具足大願成就戒行, đối với trong pháp của Đại Thừa đặt được hạnh tự tại, mà có thể vì người diễn thuyết pháp nầy, lấy năng lực tự tại, hàng phục những người tà ma tăng thượng mạn, và những người ngoại đạo có cái thấy chấp tham trước, khiến cho họ trú vào đại nguyện đầy đủ của Đại Thừa, thành tựu giới hạnh).”
  9. Tu chí (須至): có 2 nghĩa. (1) Cần phải, nhất định. Như trong bài Nhân Vật Ngâm (人物吟) của Thiệu Ung (邵雍, 1011-1077) nhà Tống có câu: “Nhân phá tu chí hộ, vật phá tu chí bổ (人破須至護、物破須至補, người phá cần phải giúp đỡ, vật phá cần phải tu bổ).” (2) Thời xưa, đây là từ được dùng theo tập quán ở câu kết của các công văn cũng như chấp chiếu. Như trong bài Giảm Mộc Thán Tiền Hiểu Dụ (減木炭錢曉諭) của Chu Hy (朱熹, 1130-1200) nhà Tống có câu: “Thiết khủng hương thôn nhân hộ vị năng thông tri, tu chí tán bảng hiểu thị giả(竊恐鄉村人戶未能通知、須至散榜曉示者, e rằng người trong thôn làng chưa được thông báo, cho nên dán bảng khắp nơi thông báo rõ).” Trong tác phẩm Thông Tục Biên (通俗編), phần Chính Trị (政治), Trạch Hạo (翟灝, ?-?) nhà Thanh giải thích rõ rằng: “Tu chí, kim công văn trung tập vi định thức, vấn kỳ nghĩa, tắc vô năng ngôn chi (須至、今公文中習爲定式、問其義、則無能言之, từ ‘tu chí’, nay trong công văn đã quen thành thể thức nhất định, nếu hỏi nghĩa của nó, thì không thể nói được).” Như vậy, trong công văn, thuật ngữ “tu chí” nầy đôi khi được dùng như thói quen và không có nghĩa gì cả. Trong lòng văn điệp trên, từ “tu chí” trong “tu chí điệp thỉnh giả (須至牒請者)” cũng không có ý nghĩa nhất định nào.

Hữu (): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Bên phải, bên tay phải, phía hữu; đối nghĩa với tả (, bên trái). (2) Thời cổ đại thường tôn sùng bên phải, nên lấy bên phải là bên trên, là cao quý. Như trong Sử Ký (史記), phần Liêm Pha Lận Tương Như Liệt Truyện (廉頗藺相如列傳), có câu: “Vị tại Liêm Pha chi hữu (位在廉頗之右, vị trí ở phía trên Liêm Pha).” Hay trong tác phẩm Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), chương Tróc Chức (促織) lại có câu: “Vô xuất kỳ hữu giả (無出其右者, không còn ai trên nữa).” Hay một số từ khác như: hữu thích (右戚, dòng họ thân thích cao quý của hoàng đế), hữu tánh (右姓, họ hào tộc), hữu khách (右客, vị khách tôn quý), hữu liệt (右列, chư vị tiền bối, tiền hiền có tài đức), v.v. Như vậy, từ “hữu điệp (右牒)” trong văn điệp trên cũng có nghĩa là “điệp văn cao quý, cung kính”.