18. Đức Cố Điệp
Nguyên văn:
德故牒
啟建資度道場大齋壇 爲牒請事。兹據
大南國尊人府右尊卿...建壇于太王祠奉
佛修齋諷經資福酬恩事、維日虔僃齋儀、載陳菲禮、恭請于
德故徽號...
竊念、蘭蕙芳姿、珩璜雅範、克閑內治、懿德流彤史之輝、表正閨儀、貞靜重樓庭之價、蓬萊日月、長隔音容、仙禁簪環、猶餘態度。兹者...
Phiên âm:
ĐỨC CỐ ĐIỆP
Khải Kiến Tư Phước Đạo Tràng Đại Trai Đàn Vị điệp thỉnh sự.
Tư cứ: Đại Nam Quốc Tôn Nhân Phủ Hữu Tôn Khanh …, kiến đàn vu Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự; duy nhật kiền bị trai nghi, tải trần phỉ lễ; cung thỉnh vu: Đức Cố Huy Hiệu...
Thiết niệm: Lan huệ1 phương tư, hành hoàng nhã phạm;2 khắc nhàn nội trị,3 ý đức4 lưu đồng sử chi huy; biểu chánh khuê nghi, trinh tĩnh trọng lâu đình chi giá; bồng lai5 nhật nguyệt, trường cách âm dung;6 tiên cấm7 trâm hoàn,8 do dư thái độ. Tư giả …
Dịch nghĩa:
ĐIỆP CÚNG ĐỨC CỐ
Kiến Lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Cầu Phước Vì điệp thỉnh.
Nay căn cứ: Việc Hữu Tôn Khanh của Tôn Nhân Phủ … nước Đại Nam, lập đàn tại Từ Đường Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn. Hôm nay thiết đủ nghi chay, kính bày lễ mọn; tâu thỉnh đến:
Huy hiệu Đức Cố …
Nép nghĩ: Lan huệ dáng thơm, phẩm cách cao thượng; khắc kỷ tu thân, đức lớn lưu sử sách sáng ngời; thể hiện phong nghi, trầm tĩnh chốn lầu vàng phẩm giá; bồng lai ngày tháng, mãi cách bóng hình; cung cấm trâm cài, tăng thêm phong độ. Nay lúc …
Chú thích:
- Lan huệ (蘭蕙): chỉ cho Lan và Huệ, đều thuộc loại cỏ thơm; phần lớn được dùng để dụ cho người hiền. Như trong Hán Thư (漢書), truyện Dương Hùng (揚雄傳) có câu: “Bài ngọc hộ nhi dương kim phố hề, phát Lan Huệ dữ Khung Cùng (排玉戶而颺金鋪兮、發蘭蕙與穹窮, bỏ cửa ngọc mà bày tiệm vàng chừ, tốt Lan Huệ với Khung Cùng).” Hay trong bài thơ Tật Tà (疾邪) của Triệu Nhất (趙壹, ?-?) nhà Hán lại có câu: “Bị hạt hoài kim ngọc, lan huệ hóa vi sô (被褐懷金玉、蘭蕙化爲芻, kẻ nghèo nhớ vàng ngọc, người hiền hóa thành rơm).” Hoặc trong bài thơ Tống Lý Sanh Nam Quy Ký Tải Lạp Vương Tích Xiển Nhị Cao Sĩ (送李生南歸寄戴笠王錫闡二高士) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh cũng có câu: “Phong xuy Lan Huệ sắc, nhất dạ lạc Quan Trung (風吹蘭蕙色、一夜落關中, gió thổi màu Lan Huệ, một đêm xuống Quan Trung).”
- Nhã phạm (雅範): chỉ phong độ thoát tục, phẩm cách cao thượng. Như trong bài Thù Đức Phú (酬德賦) của Tạ Thiếu (謝朓, 464-499) nhà Tề thời Nam Triều có câu: “Viên nhã phạm dĩ tự tuy, ý tiền tu chi sở úc (援雅範以自綏、懿前修之所勖, nương phong độ để tự yên, đức tu trước nên cố gắng).” Hay trong tác phẩm Quế Lâm Sương (桂林霜), phần Hoàn Trung (完忠), của Tưởng Sĩ Thuyên (蔣士銓, 1725-1784) nhà Thanh lại có câu: “Cửu ngưỡng hồng danh, hạnh chiêm nhã phạm (久仰鴻名、幸瞻雅範, lâu ngưỡng tiếng thơm, may nhìn phong cách).”
- Nội trị (內治): có mấy nghĩa. (1) Xưa kia chỉ cho việc tiến hành giáo dục đối với phụ nữ. (2) Chính trị trong nước. Như trong Quản Tử (管子), phần Bát Quán (八觀), có đoạn: “Hào kiệt tài nhân, bất vụ kiệt năng, tắc nội trị bất biệt hỉ (豪桀材人、不務竭能、則內治不別矣, người tài hào kiệt, không siêng năng tận hết năng lực, thì chính trị trong nước chẳng gì khác lạ cả).” (3) Chỉ việc nhà. Như trong bài Tiên Du Huyện Thái Quân La Thị Mộ Chí Minh (仙游縣太君羅氏墓志銘) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống có câu: “Kinh kỷ nội trị, năng cần bất giải (經紀內治、能勤不懈, chăm lo việc nhà, siêng năng không biếng).” (4) Tu thân, hứa hẹn sửa đổi tự thân. Như trong Liệt Nữ Truyện (列女傳), phần Hữu Ngu Nhị Phi (有虞二妃), của Lưu Hướng (劉向, 77-6 ttl.) nhà Hán có đoạn: “Mẫu tăng Thuấn nhi ái Tượng, Thuấn do nội trị, mĩ hữu gian ý (母憎舜而愛象、舜猶內治、靡有姦意, mẹ ghét Thuấn mà thương Tượng, Thuấn còn biết tu thân, không có ý gian xảo).”
- Ý đức (懿德): đức tốt, đức đẹp; đặc biệt chỉ cho đức hạnh cao quý của người phụ nữ. Như trong Trinh Quán Chính Yếu (貞觀政要), thiên Luận Sùng Nho Học (論崇儒學), của Ngô Căng (吳兢, 670-749) nhà Đường có đoạn: “Lễ vân: ‘Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo’; sở dĩ cổ nhân cần ư học vấn, vị chi ý đức(禮云、玉不琢不成器、人不學不知道、所以古人勤於學問、謂之懿德, Lễ Ký dạy rằng: ‘Ngọc không mài không thành đồ dùng, người không học không biết đạo lý’; vì vậy người xưa siêng năng học vấn, cho đó là đức tốt).” Hay trong tác phẩm Phần Hương Ký (焚香記), phần Biện Phi (辨非), của Vương Ngọc Phong (王玉峰, ?-?) nhà Minh lại có đoạn: “Quế Anh kiên chí, tử bất cải tiết, ý đức khả gia, tước lộc nghi vĩnh (桂英堅志、死不改節、懿德可嘉、爵祿宜永, Quế Anh vững chí, chết vẫn thủ tiết, đức đẹp khá khen, tước lộc mãi hoài).” Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 6, phần Tiến Bà (薦婆) có câu: “Phu nhân ý đức phối vu môn, cần kiệm nghi gia chúng sở tôn (夫人懿德配于門、勤儉宜家眾所尊, phu nhân đức đẹp xứng môn đường, cần kiệm hợp nhà người kính thương).”
- Bồng lai (蓬萊): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ Bồng Lai Sơn (蓬萊山), tên ngọn núi thần trong truyền thuyết cổ đại, cũng thường chỉ chung cho cảnh tiên. Như trong Sử Ký (史記), thiên Phong Thiền Thư (封禪書), có ghi lại rằng: “Tự Uy, Tuyên, Yến Chiêu sử nhân nhập hải cầu Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu, thử tam thần sơn giả, kỳ phó tại Bột Hải trung (自威、宣、燕昭使人入海求蓬萊、方丈、瀛洲、此三神山者、其傅在勃海中, từ thời vua Uy [Tề Uy Vương, 378-320 ttl.], Tuyên [Tề Tuyên Vương, 350-301 ttl.], Yến Chiêu [tức Tương Vương, ?-279] đã cho người vào biển tìm Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu; ba ngọn núi thần nầy, gắn liền nhau ở trong Bột Hải).” Hay trong tác phẩm Xuân Vu Ký (春蕪記), phần Thuyết Kiếm (說劍), của Vương Lăng (王錂, ?-?) nhà Minh có câu: “Tha bổn Bồng Lai tiên chủng, ngẫu nhiên ký tích nhân gian (他本蓬萊仙種、偶然寄跡人間, người ấy vốn hạt giống tiên ở chốn Bồng Lai, ngẫu nhiên lưu dấu chốn nhân gian).” Trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ Chú (華嚴經疏注, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 7, No. 234) cũng khẳng định rằng: “Tiên nhân sơn giả, tương truyền thị Đông Hải Bồng Lai Sơn (仙人山者、相傳是東海蓬萊山, núi tiên nhân tương truyền là Bồng Lai Sơn ở biển Đông).” (2) Trong Hậu Hán Thư (後漢書), truyện Đậu Chương (竇章傳), có đoạn rằng: “Thị thời học giả xưng Đông Quán vi Lão Thị tàng thất, Đạo gia Bồng Lai Sơn (是時學者稱東觀爲老氏臧室、道家蓬萊山, học giả lúc bấy giờ gọi Đông Quán là nhà tàng ẩn của Lão Tử, là Bồng Lai Sơn của Đạo gia).” Cho nên, sau nầy người ta dùng từ bồng lai để chỉ cho nhà bí mật. Như trong bài Đăng Bí Thư Tỉnh Các Thi Tự (登秘書省閣詩序) của Dương Quýnh (楊炯, 650-692) nhà Đường có câu: “Chu vương quần ngọc chi sơn, Hán đế bồng lai chi thất (周王群玉之山、漢帝蓬萊之室, núi đủ thứ ngọc của Chu vương, nhà bí mật của Hán đế).” (3) Chỉ cho Bồng Lai Cung. Như trong bài thơ Túc Tích (宿昔) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Túc tích thanh môn lí, Bồng Lai trượng sổ di (宿昔青門裏、蓬萊仗數移, xưa kia cổng xanh biếc, Bồng Lai muôn trượng xa).”
- Âm dung (音容): có hai nghĩa. (1) Âm thanh và hình bóng. Như trong bài thơ Thù Tùng Đệ Huệ Vận (酬從弟惠連) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống có câu: “Nham hác ngụ nhĩ mục, hoan ái cách âm dung (巖壑寓耳目、歡愛隔音容, hõm núi gởi tai mắt, yêu thương cách bóng hình).” Hay trong bài Trường Hận Ca (長恨歌) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường cũng có câu: “Hàm tình ngưng đệ tạ quân vương, nhất biệt âm dung lưỡng diểu mang (含情凝睇謝君王、一別音容兩渺茫, ngậm tình liếc trộm tạ quân vương, cách biệt bóng hình muôn dặm trường).” (2) Trong thư tín, từ nầy được dùng để thay thế cho đối phương. Như trong tập 3 của tác phẩm Tây Sương Ký (西廂記) do Vương Thật Phủ (王實甫, 1260-1336) nhà Nguyên sáng tác, có đoạn: “Tự âm dung khứ hậu, bất giác hứa thời, ngưỡng kính chi tâm, vị thường thiểu đãi (自音容去後、不覺許時、仰敬之心、未嘗少怠, từ khi người ra đi về sau, chẳng biết lúc nào, tâm thường kính ngưỡng, chưa từng chút chểnh mảng).” Trong bài thỉnh cúng linh cũng có đoạn: “Kim ô tợ tiễn, ngọc thố như thoan, tưởng cốt nhục dĩ phân ly, đỗ âm dung nhi hà tại (金烏似箭、玉兔如梭、想骨肉已分離、睹音容而何在, quạ vàng [mặt trời] tên bắn, thỏ ngọc [mặt trăng] thoi đưa, nhớ cốt nhục đã chia ly, tìm bóng hình đâu còn nữa).”
- Tiên cấm (仙禁): chỉ cho hoàng cung; do vì canh phòng nghiêm mật, cấm vệ chặt chẽ, ngay cả các quan cũng không được tự ý ra vào, nên có tên gọi như vậy. Như trong bài Phụng Hòa Thánh Chế Tống Thượng Thư Yến Quốc Công Thuyết Phó Sóc Phương Quân (奉和聖制送尚書燕國公說赴朔方軍) của Trương Cửu Linh (張九齡, 678-740) nhà Đường có câu: “Sủng tích tùng tiên cấm, quang hoa xuất Hán Kinh (寵錫從仙禁、光華出漢京, ân sủng từ cung cấm, vinh quang ra Hán Kinh).” Hay trong Ngọc Quyết Ký (玉玦記), phần Đối Sách (對策), của Trịnh Nhược Dung (鄭若庸, khoảng thế kỷ 16) nhà Minh, có đoạn: “Bào tứ tiêu cung, lư truyền kim điện, danh đề tiên cấm (袍賜椒宮、臚傳金殿、名題仙禁, áo bào ban ở tiêu cung, bảng vàng truyền nơi kim điện, tên đề chốn cấm cung).”
Trâm hoàn (簪環): tức cây trâm cài trên tóc và vòng tròn đeo ở tai, chỉ cho đồ trang sức của phụ nữ. Như trong hồi thứ 33 của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) có đoạn: “Vương phu nhân hoán thượng Kim Xuyến nhi đích mẫu thân lai, nã liễu kỉ kiện trâm hoàn, đương diện thưởng liễu (王夫人喚上金釧兒的母親來、拿了幾件簪環、當面賞了, Vương phu nhân cho gọi mẫu thân của bé Kim Xuyến đến, cầm sẵn mấy cây trâm và vòng đeo tai, giáp mặt thưởng cho bà ấy).”