55. Đương Kim Chúc Thọ Thù Nguyện Sớ
Nguyên văn:
當今祝壽酬願疏
伏以
慈雲靉靆
大南國皇城內長寧宮奉
佛修香獻供酬願祝壽保安集福迎祥事。今齋主...、維日香燃柏子、花獻曼陀、仰干大覺之尊、俯鑒微誠之懇、恭祝當今皇帝聖壽萬歲。
言念、生逢顯世、位正金門、福基固集禎祥、毎賴天慈(洪恩)之保定、命座康强廸吉、全資佛力以扶持、欲冀延齡、必蒙加祐、曩因告許、今遂從心、蒙恩啟敢亡恩、有願須當還願。兹者辰惟...月、節屆夏天、晴日摧榴火呈祥、南風引荷香獻瑞、載陳素悃、虔具齋儀、諷誦某經某咒、頂禮佛聖寶號、集此良因、祈增壽算。今則經功完滿、上供疏章、和南拜奏(三寶)
南無釋迦牟尼佛、消災熾盛光王佛、消災延壽藥師佛。佛光主炤本命元宸眞君。玉皇、準提、觀音、天地水岳四府公同大帝、天地水岳四府公同諸位聖母。
筵奉、護法、伽藍、諸位善神、同垂鑒格。
伏願、佛垂護佑、聖降吉祥、俾當今皇帝...高壽比如山如阜、永膺立五福之箕疇、厚祉延而子而孫、長享億年之寶祚、慶延家國、澤及臣民、凡居四序之中、必獲萬全之庇。仰賴佛聖扶持之大力也。謹疏。
Phiên âm:
ĐƯƠNG KIM CHÚC THỌ THÙ NGUYỆN SỚ
Phục dĩ:
Từ vân ái đãi.
Đại Nam Quốc Hoàng Thành Nội Trường Ninh Cung phụng Phật tu hương hiến cúng thù nguyện chúc thọ bảo an tập phước nghênh tường sự. Kim trai chủ … duy nhật hương nhiên Bách Tử,1 hoa hiến Mạn Đà; ngưỡng can Đại Giác chi tôn, phủ giám vi thành chi khẩn.
Cung chúc Đương Kim Hoàng Đế thánh thọ vạn tuế.
Ngôn niệm: Sanh phùng hiển thế, vị chánh kim môn; phước cơ cố tập trinh tường, mỗi lại thiên từ (hồng ân) chi bảo định; mạng tọa khang cường địch cát, toàn tư Phật lực dĩ phò trì; dục kí diên linh, tất mông gia hựu; nẵng nhân cáo hứa, kim toại tùng tâm; mông ân khởi cảm vong ân, hữu nguyện tu đương hoàn nguyện. Tư giả thần duy … nguyệt, tiết giới Hạ thiên, tình nhật thôi lựu hỏa trình tường, nam phong dẫn hà hương hiến thụy; tải trần tố khổn, kiền cụ trai nghi; phúng tụng mỗ kinh mỗ chú, đảnh lễ Phật Thánh bảo hiệu, tập thử lương nhân, kỳ tăng thọ toán.2 Kim tắc kinh công hoàn mãn, thượng cúng sớ chương, hòa nam thượng tấu (Tam Bảo).
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật, Tiêu Tai Xí Thạnh Quang Vương Phật,3 Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật,4 Phật Quang Chủ Chiếu Bổn Mạng Nguyên Thần Chơn Quân, Ngọc Hoàng,5 Chuẩn Đề,6Quan Âm, Thiên Địa Thủy Nhạc Tứ Phủ Công Đồng Đại Đế, Thiên Địa Thủy Nhạc Tứ Phủ Công Đồng chư vị Thánh Mẫu.
Diên phụng: Hộ Pháp, Già Lam chư vị thiện thần, đồng thùy giám cách.
Phục nguyện: Phật thùy hộ hựu, Thánh giáng cát tường; tỷ đương kim Hoàng Đế … cao thọ tỷ như sơn nhu phụ, vĩnh ưng lập Ngũ Phước7 chi cơ trù; hậu chỉ diên nhi tử nhi tôn, trường hưởng ức niên chi bảo tộ; khánh diên gia quốc, trạch cập thần dân; phàm cư Tứ Tự8 chi trung, tất hoạch vạn toàn chi tí. Ngưỡng lại Phật Thánh phò trì chi đại lực giả. Cẩn sớ.
Dịch nghĩa:
SỚ CÚNG HOÀN NGUYỆN CHÚC THỌ
ĐƯƠNG KIM HOÀNG ĐẾ
Cúi nghĩ:
Mây từ ngùn ngụt
Việc Trường Ninh Cung Hoàng Thành Nội, nước Đại Nam, thờ Phật, dâng hương, hiến cúng đáp nguyện chúc thọ gom phước đón lành. Nay trai chủ … hôm nay hương xông Bách Tử, hoa cúng Mạn Đà; ngưỡng trông Đại Giác chí tôn, cúi chứng lòng thành khẩn thiết.
Cung chúc Đương Kim Hoàng Đế thánh thọ vạn tuế.
Nép nghĩ: Sanh đời vinh hiển, ngôi vị vàng son; nền phước kiên cố tốt lành, lại mong trời thương (hồng ân) ấy giữ vững; mạng tọa hùng cường phúc tới, đều nhờ lực Phật thảy đỡ nâng; muốn được sống lâu, tất mong trợ giúp; vì trước đã hứa, nay lại tùy tâm; mang ơn nào dám quên ơn, có nguyện phải nên hoàn nguyện. Nay lúc thời vào tháng …, tiết thuộc trời Hè, ngày tạnh thúc Lựu đỏ điều lành, gió Nam dẫn hương sen điềm tốt; trãi bày tấc dạ, dâng đủ nghi chay; trì tụng kinh … chú …, đảnh lễ Phật Thánh danh hiệu; gom nhân tốt nầy, cầu tăng tuổi thọ. Nay tất kinh văn hoàn mãn, dâng cúng Sớ chương, kính thành tâu lên (Tam Bảo):
Kính lạy Thích Ca Mâu Ni Phật, Tiêu Tai Xí Thạnh Quang Vương Phật, Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật, Phật Quang Chủ Chiếu Bổn Mạng Nguyên Thần Chơn Quân, Ngọc Hoàng, Chuẩn Đề, Quan Âm, Thiên Địa Thủy Nhạc Tứ Phủ Công Đồng Đại Đế, Thiên Địa Thủy Nhạc Tứ Phủ Công Đồng các vị Thánh Mẫu.
Cùng xin: Hộ Pháp, Già Lam các vị thiện thần, cùng thương chứng giám.
Cúi mong: Phật thương giúp đỡ, Thánh ban cát tường; khiến đương kim Hoàng Đế … thọ cao sánh bằng non bằng núi, mãi dựng lập Năm Phước ấy lâu dài; phúc dày bền với cháu với con, lâu hưởng ức năm ấy ngôi báu; vui khắp nhà nước, phước đến thần dân; bốn mùa thường sống an vui, tất được vẹn toàn che chở. Ngưỡng lạy Phật Thánh phò trì năng lực lớn. Kính dâng Sớ.
Chú thích:
- Bách Tử, Bá Tử (柏子): tức Bá Tử Hương (柏子香), tên một loại hương. Như trong Tú Nhu Ký (繡襦記), bài Trúc Lâm Kỳ Từ (竹林祈嗣), của Từ Lâm (徐霖, 1462-1538) nhà Minh có đoạn: “Thụy thảo mãn dao giai, bạch hạc phi lai, hương phần bá tử bích vân khai (瑞草滿瑤階、白鶴飛來、香焚柏子碧雲開, cỏ lành đầy thềm ngọc, hạc trắng về đây, đốt hương Bá Tử mây xanh bày).” Hay trong bài thơ Túc Giới Đường Phật Từ (宿芥塘佛祠) của Hạ Chú (賀鑄, 1052-1125) nhà Tống cũng có đoạn: “Khai môn vị tảo mai hoa vũ, đãi vãn tiên thiêu Bá Tử hương (開門未掃梅花雨、待晚先燒柏子香, mở cửa mưa hoa mai chưa quét, đợi tối mới xông Bá Tử hương).” Hoặc trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) lại có câu: “Lô thiêu Bá Tử đoan nhiên tọa, đối nguyệt tàn kinh hựu triển khai (爐燒柏子端然坐、對月殘經又展開, lò xông Bá Tử an nhiên tọa, trăng dưới hết kinh lại mở xem).”
- Thọ toán (壽算): tuổi thọ, thọ số. Như trong Huyền Quái Lục (玄怪錄), phần Tề Suy Nữ (齊推女), của Ngưu Tăng Nhụ (牛僧孺, 779-848) nhà Đường, có đoạn: “Lý thị thọ toán trường, nhược bất tái sinh, nghị vô áp phục(李氏壽算長、若不再生、議無厭伏, họ Lý tuổi thọ lâu, nếu không sống lại, bàn luận chẳng ai nể phục).” Hay trong Tục Thanh Lương Truyện (續清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2100) quyển Hạ, phần Hậu Tự (後序), lại có đoạn: “Trợ duyên thí chủ, tăng thiêm thọ toán, pháp giới hữu tình, đồng đăng giác ngạn (助緣施主、增添壽算、法界有情、同登覺岸, trợ duyên thí chủ, tăng thêm tuổi thọ, pháp giới hữu tình, cùng lên bờ giác).” Hoặc trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 4, phần Vãng Sanh Trưng Tín Lục Hạ (往生徵信錄下), cũng có đoạn rằng: “Quang âm dị quá, thọ toán nan tăng, tiền trình tốc biện, mạc ngộ nhân thân, trì trai niệm Phật, quảng độ chúng sanh, lưỡng vong nhân ngã, tức chứng Vô Sanh (光陰易過、壽算難增、前程速辦、莫誤人身、持齋念佛、廣度眾生、兩忘人我、卽證無生, thời gian dễ qua, tuổi thọ khó tăng, tính mau nẻo trước, chớ lỡ thân người, ăn chay niệm Phật, rộng độ chúng sanh, ta người quên hết, liền chứng Vô Sanh).”
- Tức Xí Thạnh Quang Phật Đảnh (s: Prajvaloṣṇīṣaḥ, 熾盛光佛頂): là Giáo Lịnh Luân Thân (敎令輪身) của đức Phật Thích Ca, ngọn lửa tỏa sáng hừng hực từ lỗ chân lông lưu xuất ra. Chủng tử là bhrū (悖嚕吽, bột rô hồng). Hình Tam Muội Da là 12 vòng tròn xe, hoặc 3 cây chày. Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 4, phần Thiên Thu Tuế (千秋歲), có đoạn: “Chí tâm tín lễ Xí Thạnh Quang Như Lai, Tự Tại Thiên trung xuất hiện, đại uy đức thần thông biến, hồng liên đài thượng tử kim dung (志心信禮熾盛光如來、自在天中出現、大威德神通變、紅蓮臺上紫金容, một lòng kính lạy Xí Thạnh Quang Như Lai, xuất hiện trên cõi Trời Tự Tại, oai đức lớn thần thông biến, sen hồng trên đài vàng tía thân).” Hay trong Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết (禪林寶訓筆說, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1266) quyển Trung lại có đoạn rằng: “Toại linh phần hương trai giới, trì Xí Thạnh Quang Vương thần chú kỳ chi, vị cập thất nhật, dạ mộng lão nhân trước bạch y kỵ ngưu hãm địa toàn một nhi khứ, lạp nhật toàn gia tật dũ hĩ (遂令焚香齋戒、持熾盛光王神咒祈之、未及七日、夜夢老人著白衣騎牛陷地旋沒而去、翌日全家疾愈矣, bèn sai đốt hương ăn chay giữ giới, trì tụng thần chú Xí Thạnh Quang Vương để cầu nguyện, chưa được bảy ngày, đêm mộng thấy một ông lão mặc áo trắng cỡi trâu đi xuống đất trong thoáng chốc rồi biến mất; hôm sau cả nhà lành bệnh hết).”
- Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師): nói rõ là Dược Sư Lưu Ly Quang (s: Bhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabha, 藥師瑠璃光), Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật (藥師琉璃光王佛), Dược Sư Như Lai (藥師如來), Đại Y Vương Phật (大醫王佛), Y Vương Thiện Thệ (醫王善誓), Thập Nhị Nguyện Vương (十二願王); âm dịch là Bệ Sát Xã Lũ Lô (鞞殺社窶嚕). Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (s: Bhaiṣajya-guruvaiḍūrya-prabhāsa-pūryapraṇidhāna, 藥師瑠璃光如來本願功德經, Taishō Vol. 14, No. 450), ngoài 10 hằng hà sa Phật độ có thế giới gọi là Tịnh Lưu Ly (淨瑠璃) và giáo chủ của thế giới đó là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Thế giới nầy được gọi là cõi Tịnh Độ ở phương Đông, cũng trang nghiêm như cõi nước Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂) của Đức Phật A Di Đà ở phương Tây. Trong thời gian hành Bồ Tát đạo, vị Phật nầy có phát 12 lời nguyện lớn và nhờ lời nguyện nầy mà hiện tại ngài thành Phật ở thế giới Tịnh Lưu Ly, có hai vị Bồ Tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) và Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光) thường xuyên hộ trì hai bên. Thệ nguyện của Đức Phật nầy không thể nghĩ bàn và sự linh nghiệm của Ngài cũng rất rộng lớn. Nếu có người thân mạng bệnh nặng, hiện tướng sắp chết, bà con quyến thuộc của người ấy tận tâm, chí thành cúng dường, lễ bái Phật Dược Sư, đọc tụng Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh 49 biến, thắp 49 ngọn đèn, tạo tràng phan 5 sắc màu của 49 cõi trời, thì người sắp lâm chung ấy sẽ được sống lại và kéo dài sinh mạng thêm. Cho nên, tín ngưỡng Phật Dược Sư đã thịnh hành từ xa xưa. Về hình tượng của Ngài, theo Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Vol. 19, No. 926) cho biết rằng tay trái Ngài cầm dược khí (còn gọi là Vô Giá Châu [無價珠]), tay phải kết Tam Giới Ấn (三界印), mặc áo Ca Sa (s: kaṣāya, p: kāsāya, 袈裟), ngồi kiết già trên đài hoa sen và dưới đài có 12 vị thần tướng. Các vị thần tướng nầy thệ nguyện hộ trì pháp môn Dược Sư, mỗi vị thống lãnh 7.000 quyến thuộc Dược Xoa (藥叉), tại các nơi hộ trì cho chúng sanh nào thọ trì danh hiệu Phật Dược Sư. Bên cạnh đó, hình tượng được lưu truyền phổ biến nhất về Đức Phật nầy là hình có mái tóc xoăn hình trôn ốc, tay trái cầm bình thuốc, tay phải bắt Thí Vô Úy Ấn (施無畏印, hay Dữ Nguyện Ấn [與願印]); có 2 Bồ Tát Nhật Quang Biến Chiếu (日光遍照) và Nguyệt Quang Biến Chiếu (月光遍照) hầu hai bên, được gọi là Dược Sư Tam Tôn (藥師三尊). Hai vị Bồ Tát nầy là thượng thủ trong vô lượng chúng ở cõi Tịnh Độ của Phật Dược Sư. Ngoài ra còn có 8 Bồ Tát khác hầu cận bên Ngài như Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利), Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音), Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至), Bảo Đàn Hoa (寶壇華), Vô Tận Ý (無盡意), Dược Vương (s: Bhaiṣajyarāja, 藥王), Dược Thượng (s: Bhaiṣajyasamudgata, 藥上), Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師琉璃光七佛本願功德經, Taishō Vol. 14, No. 451) do Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) nhà Đường dịch có nêu tên 7 vị Phật Dược Sư, gồm: Thiện Xưng Danh Cát Tường Vương Như Lai (善稱名吉祥王如來), Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Như Lai (寶月智嚴光音自在王如來), Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai (金色寶光妙行成就如來), Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Như Lai (無憂最勝吉祥如來), Pháp Hải Lôi Âm Như Lai (法海雷音如來), Pháp Hải Tuệ Du Hý Thần Thông Như Lai (法海慧遊戲神通如來) và Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai (藥師琉璃光如來). Trong số đó, 6 vị đầu là phân thân của Dược Sư Như Lai. Đức Phật nầy cùng với Thích Ca Mâu Ni Như Lai (釋迦牟尼佛), A Di Đà Phật (阿彌陀佛) được gọi là Hoành Tam Thế Phật (橫三世佛), hay Tam Bảo Phật (三寶佛). Trong Phật Giáo, Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật ở phương Đông và A Di Đà Phật ở phương Tây được xem như là hai đấng tối cao giải quyết vấn đề sanh và tử của chúng sanh. Trong Từ Bi Dược Sư Bảo Sám (慈悲藥師寶懺, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1484) có bài tán về đức Phật nầy rằng: “Dược Sư Phật, Xí Thạnh Quang Vương, bát đại Bồ Tát giáng cát tường, Thất Phật trợ tuyên dương, nhật nguyệt hồi quang, phước thọ vĩnh an khang, Dược Sư Phật, Dược Sư Phật, Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật (藥師海會、熾盛光王、八大菩薩降吉祥、七佛助宣揚、日月迴光、福壽永安康、藥師佛、藥師佛、消災延壽藥師佛、南無消災延壽藥師佛, Phật Dược Sư, Xí Thạnh Quang Vương, tám đại Bồ Tát giáng cát tường, Bảy Phật giúp tuyên dương, nhật nguyệt tỏa sáng, phước thọ mãi an khang, Phật Dược Sư, Phật Dược Sư, Phật Dược Sư Tiêu Tai Tăng Tuổi Thọ. Kính lễ Phật Dược Sư Tiêu Tai Tăng Tuổi Thọ).”
- Tức Ngọc Hoàng Thượng Đế (玉皇上帝): tên gọi của vị vua tối cao của bầu trời, là chủ của Thiên Đình, với nhiều tôn xưng khác nhau như Hạo Thiên Thượng Đế (昊天上帝), Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝), Ngọc Đế (玉帝), Ngọc Hoàng (玉皇), Hạo Thiên Kim Khuyết Chí Tôn Ngọc Hoàng Đại Đế (昊天金闕至尊玉皇大帝), Huyền Khung Cao Thượng Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế (玄穹高上玉皇大天帝), Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế (玉皇大天尊玄靈高上帝), hay dân gian thường gọi là Thiên Công (天公, Ông Trời). Dưới thời nhà Tống, vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) cũng như Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) đều có ban Thánh hiệu cho Ngọc Hoàng Đại Đế. Vua Chơn Tông ban cho Thánh hiệu là Thái Thượng Khai Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế (太上開天執符御歷含眞體道玉皇大天帝). Vua Huy Tông là Thái Thượng Khai Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Hạo Thiên Ngọc Hoàng Thượng Đế (太上開天執符御歷含眞體道昊天玉皇上帝). Trong các kinh điển của Đạo Giáo tôn xưng là Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Chí Chơn Ngọc Hoàng Đại Đế (昊天金闕無上至尊自然妙有彌羅至眞玉皇大帝). Ngài được xem như là một vị thần minh tối cao của Đạo Giáo, địa vị chỉ dưới Tam Thanh Tôn Thần (三清尊神) mà thôi. Dưới con mắt thế tục, Ngài được kính ngưỡng như vị thần tối vĩ đại, là vua trong các vị thần. Theo truyền thuyết dân gian, Ngọc Hoàng Thượng Đế không những thọ mạng Thiên Tử thống trị con người, mà còn cai quản cả Tam Giáo Nho, Lão, Thích, cùng với chư vị thần tiên của ba đạo nầy, cũng như các thiên thần, địa kỳ, người, quỷ đều thuộc quyền thống quản của Ngài. Ngoài việc quản lý ba cõi Thiên, Địa, Nhân, Ngọc Hoàng Đại Đế còn trông coi về sự hưng long, suy bại, tốt xấu, phước họa của vũ trụ vạn vật. Thuộc hạ quản lý về học vụ có Văn Xương Đế Quân (文昌帝君); về thương vụ có Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君); về công vụ có Công Thánh Tiên Sư (巧聖先師); về nông vụ có Thần Nông Tiên Đế (神農先帝); về việc địa phương có Đông Nhạc Đại Đế (東岳大帝), Thanh Sơn Vương (青山王), Thành Hoàng Da (城隍爺), Cảnh Chủ Công (境主公), Thổ Địa Công (土地公), Địa Cơ Chủ (地基主); về cõi âm có Phong Đô Đại Đế (酆都大帝) và Thập Điện Diêm Vương (十殿閻王). Theo lý luận của Đạo Giáo, Trời có 13 tầng, mỗi tầng có 3 vạn dặm, địa phương bên ngoài Trời gọi là Vô Cực (無極), cõi trong Trời là Thái Cực (太極). Ngọc Hoàng Đại Đế là thần linh tối cao vô thượng trong vũ trụ, hết thảy chư thần linh đều phải vâng lịnh Ngài. Cõi Trời Thái Cực chia thành 5 cõi Trời khác nhau: Trung Thiên (中天) có Ngọc Hoàng Đại Đế an ngự, trên chưởng quản 36 cõi trời, ba ngàn thế giới, dưới trông coi 72 cõi, hết thảy sinh linh. Đông Thiên (東天) có Tam Quan Đại Đế (三官大帝), chủ quản ban phước, kéo dài tuổi thọ, giải trừ tai ách, xá tội, tiêu nạn. Nam Thiên (南天) có Văn Hành Thánh Đế (文衡聖帝), chủ quản việc ủy nhiệm chư thần linh, lên xuống, khảo sát, xem xét công tội của các thần. Tây Thiên (西天) có Thích Ca Mâu Ni (釋迦牟尼), chủ quản việc tín ngưỡng, quy y của con người. Bắc Thiên (北天) có Tử Vi Đại Đế (紫微大帝), chủ quản việc ban phước, tiêu tai, ban bố tài lộc. Về lai lịch của Ngài, theo Cao Thượng Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập Kinh (高上玉皇本行集經) của Đạo Giáo cho rằng vào thời xa xưa có một trú xứ tên Quang Nghiêm Diệu Lạc Quốc (光嚴妙樂國); quốc vương xứ nầy là Tịnh Đức Vương (淨德王), hoàng hậu là Bảo Nguyệt Quang (寶月光). Cả hai đều lớn tuổi nhưng không có con nối dõi. Bỗng một đêm nọ, bà mộng thấy Thái Thượng Lão Quân (太上老君) ẵm một đứa hài nhi đưa vào trong bào thai của hoàng hậu. Bà cung kính đón nhận, đến khi tỉnh dậy mới hay rằng mình đã có thai. Mang thai tròn 12 tháng, rồi đến ngày mồng 9 tháng giêng năm Bính Ngọ thì hạ sinh thái tử. Ngay từ lúc nhỏ, thái tử đã thông tuệ, đến khi lớn lên phụ tá cho quốc vương rất đắc lực, thương dân, làm việc thiện, cứu người nghèo khổ. Sau khi vua cha băng hà, thái tử từ bỏ ngôi vị, vào trong Phổ Minh Hương Nham Sơn (普明香岩山) tu đạo, trãi qua 3.200 kiếp, mới chứng được Kim Tiên, hiệu là Tự Nhiên Giác Hoàng. Sau đó, lại trãi qua cả ức kiếp mới chứng thành Ngọc Đế, hy sinh thân mạng để cứu độ chúng sanh. Từ đó, mồng 9 tháng giêng hằng năm được xem như là ngày khánh đản của Ngọc Hoàng Đại Đế. Tại các Đạo Quán đều có thiết lễ dâng cúng, gọi là Ngọc Hoàng Hội (玉皇會) để cầu nguyện phước quả, sống lâu. Tại tỉnh Phúc Kiến của Trung quốc cũng như Đài Loan, ngày nầy được gọi là ngày Bái Thiên Công (拜天公, Lạy Ông Trời); cho nên cả gia đình lớn nhỏ, già trẻ đều giữ gìn trai giới, tắm rửa sạch sẽ, dâng hương hành lễ, vái lạy, tụng kinh. Thời xưa, ở phương Bắc của Trung quốc có tục lệ tế lễ Ngọc Hoàng, rước tượng Ngài đi cùng khắp thôn xóm. Tương truyền 25 tháng 12 là ngày Ngọc Hoàng Đại Đế hạ phàm tuần tra nhân gian; cho nên các Đạo Quán cũng như trong dân gian đều có thắp hương, tụng kinh để nghênh đón Ngài. Trong Đạo Mẫu của Việt Nam, Ngọc Hoàng được gọi là Vua Cha Ngọc Hoàng, là cha của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Trong bài Mộng Tiên (夢仙), Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) có đoạn thơ xưng tán Ngọc Hoàng Đại Đế rằng: “An kỳ tiện môn bối, liệt thị như công khanh, ngưỡng yết Ngọc Hoàng Đế, khể thủ tiền trí thành (安期羨門輩、列侍如公卿、仰謁玉皇帝、稽首前致誠, mong sao lòng kẻ mọn, hầu hạ như công khanh, ngưỡng tâu Ngọc Hoàng Đế, cúi đầu tâm chí thành). Trong Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修設瑜伽集要施食壇儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1081) có đoạn: “Trung gian nhất phong danh Đao Lợi Thiên, Đế Thích sở cư, tức Ngọc Hoàng thị (中間一峰名忉利天、帝釋所居、卽玉皇是, một đỉnh núi ở giữa tên Đao Lợi Thiên, là nơi ở của Trời Đế Thích, tức chính là Ngọc Hoàng).”
- Chuẩn Đề (s: Cundi, t: bskul-bye-kma, 準提): âm dịch là Chuẩn Đề (准提、准胝), Chuẩn Nê (准泥), ý dịch là thanh tịnh, còn gọi là Chuẩn Đề Quan Âm (准提觀音), Chuẩn Đề Phật Mẫu (准提佛母), Phật Mẫu Chuẩn Đề (佛母准提), Thiên Nhân Trượng Phu Quan Âm (天人丈夫觀音), Thất Câu Chi Chuẩn Đề Đại Phật Mẫu (七俱胝準提大佛母); là vị Bồ Tát thường xuyên hộ trì Phật pháp, hộ mạng và làm cho những người đoản mạng được sống lâu; có sự cảm ứng rất lớn, trí tuệ cũng như phước đức của Ngài thì vô lượng. Bên cạnh đó, Ngài còn được sùng tín để cầu tiêu trừ tai nạn, cầu con, trừ tật bệnh, v.v., tùy duyên hóa hiện để cứu độ chúng sanh, làm cho thế gian và xuất thế gian tròn đầy hết thảy sự cầu nguyện. Trong Thiền Tông của Trung Quốc và Nhật Bản, Ngài được xem như là một trong những đấng chủ tôn của Quan Âm Bộ. Đặc biệt Thai Mật của Nhật Bản lấy Chuẩn Đề nhập vào Phật Mẫu, trở thành một trong những đối tượng tôn thờ của Phật bộ. Còn Đông Mật của Nhật Bản xem Chuẩn Đề là một trong 6 Quan Âm (Thiên Thủ Quan Âm, Thánh Quan Âm, Mã Đầu Quan Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm, Chuẩn Đề Quan Âm, Như Ý Luân Quan Âm) của Liên Hoa Bộ. Ngài là thân ứng hóa của Quan Âm, phân nhập vào trong Sáu Đường để cứu độ chúng sanh. Ngài được an trí tại Biến Tri Viện (遍知院) của Hiện Đồ Thai Tạng Giới, hình tượng thường có 3 mắt với 2 tay, 4 tay, 6 tay, 8 tay, hay 18 tay, v.v. Trong Phật Thuyết Thất Câu Chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh (佛說七俱胝佛母心大准提陀羅尼經) có thuật lại rằng khi ở tại Vườn Cấp Cô Độc (給孤獨園), thuộc nước Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), đức Phật tư duy quán sát, thương tưởng các chúng sanh trong đời tương lai, nên tuyên thuyết “Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Chuẩn Đề Đà La Ni Pháp (七俱胝佛母心准提陀羅尼法)”, tức là Chuẩn Đề Chú (準提咒) được các tín đồ Phật Giáo thường trì tụng. Bản tiếng Sanskrit của thần chú nầy là: “Namaḥ saptānāṃ samyaksaṃbuddha-koṭīnāṃ tad yathā. Oṃ cale cule cundi svāhā.”; âm Hán dịch theo bản Thất Câu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh (七倶胝佛母所說准提陀羅尼經) của Bất Không (不空) dịch là: “Na mạc tát đa nam tam miệu tam một đà cu chi nam đát nhĩ dã tha, án, giả lễ chủ lễ chuẩn nê ta phạ ha (娜莫颯多南三藐三没駄倶胝南怛儞也他唵者禮主禮准泥娑嚩訶)”; nghĩa là “Con xin quy y theo đức Phật Chánh Đẳng Giác Thất Câu Chi (vạn ức). Tức là, Oṃ (Án). Hỡi đấng chuyển động quanh ! Hỡi đấng trên đảnh đầu ! Hỡi đức Chuẩn Đề ! Svāhā (ta phạ ha) !” Thần chú nầy được xem như là vua trong các thần chú, vì uy lực gia trì của nó không thể nghĩ bàn, sự cảm ứng của nó thì rất nhanh và mãnh liệt. Người trì tụng thần chú nầy có thể cầu được thông minh, trí tuệ, biện luận lanh lợi; chồng vợ thương kính nhau, khiến cho người khác sanh tâm kính mến; cầu được con nối dõi, kéo dài mạng sống, trị lành các bệnh tật, diệt trừ tội chướng; cầu được trời mưa, rời xa giam cầm, thoát khỏi nạn ác quỷ, ác tặc, v.v. Chuẩn Đề Phật Mẫu còn có 8 vị Bồ Tát là quyến thuộc, như Quán Tự Tại Bồ Tát (觀自在菩薩), Di Lặc Bồ Tát (彌勒菩薩), Hư Không Tạng Bồ Tát (虛空藏菩薩), Phổ Hiền Bồ Tát (普賢菩薩), Kim Cang Thủ Bồ Tát (金剛手菩薩), Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (文殊師利菩薩), Trừ Cái Chướng Bồ Tát (除蓋障菩薩) và Địa Tạng Bồ Tát (地藏菩薩). Trong Thiền môn có bài tán về Bồ Tát Chuẩn Đề rằng: “Chuẩn Đề Đại Sĩ, vô thượng năng nhân, Nhị Thập Tứ Tý hiện kim thân, túc hạ bộ tường vân, công đức nan luân, khẩn đảo hộ quần sanh. Nam Mô Chuẩn Đề Vương Bồ Tát (準提大士、無上能仁、二十四臂現金身、足下歩祥雲、功德難倫、懇禱護羣生。南無準提王菩薩, Chuẩn Đề Đại Sĩ, vô thượng năng nhân, Hai Mươi Bốn Tay hiện vàng thân, dưới chân bước mây lành, công đức khó lường, cầu đảo giúp quần sanh. Kính lễ Bồ Tát Chuẩn Đề Vương).” Hay trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 3 cũng có đoạn tán thán rằng: “Đại tai Phật Mẫu, hồng hiệu Chuẩn Đề, diễn thuyết Tam Mật Đà La Ni, diệu ứng tại thành kỳ, công đức hy kỳ, đế tín vĩnh vô nghi. Nam Mô Thất Câu Chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề Bồ Tát (大哉佛母、洪號準提、演說三密陀羅尼、妙應在誠祈、功德希奇、諦信永無疑。南無七俱胝佛母大準提菩薩, Lớn thay Phật Mẫu, danh hiệu Chuẩn Đề, diễn nói Tam Mật Đà La Ni, cảm ứng ở thành cầu, công đức lạ kỳ, tin chắc mãi không nghi. Kính lễ Bồ Tát Thất Câu Chi Phật Mẫu Đại Chuẩn Đề).”
- Ngũ Phước (五福): 5 thứ phước đức, gồm: sống lâu, giàu sang, sức khỏe, đạo đức và được ơn trời ban. Ngoài ra, trong dân gian cũng rất thông dụng câu “ngũ phước biền trăn (五福駢臻, năm phước cùng đến)”. Câu nầy vốn phát xuất từ câu chuyện của Đậu Vũ Quân (竇禹鈞), xuất thân là vị quan dưới thời Hậu Chu, Ngũ Đại, làm quan đến chức Gián Nghị Đại Phu (諫議大夫), tánh tình thuần hậu, thích giúp người. Lúc nhỏ ông đã để tang cha, rất chí hiếu, hết lòng cung phụng mẫu thân. Năm lên 30 tuổi, ông vẫn chưa có đứa con nào. Một hôm nọ, ông nằm mộng thấy cha mình bảo rằng: “Mạng con không có con nối dõi, lại thêm đoản mạng, nên hãy mau nỗ lực làm việc thiện”. Nghe lời cha dạy, từ đó ông bắt đầu phát nguyện làm việc thiện. Về sau, ông lại thấy cha về báo mộng cho biết rằng: “Vì con có âm đức nên trên trời ban cho con được tăng thêm 3 kỷ (36 năm) tuổi thọ, tặng cho con 5 đứa con, đứa nào cũng sẽ được phú quý, vinh hiển; và sau khi qua đời thì sẽ được sanh lên cõi Trời.” Nhờ tích tập phước đức do làm việc thiện, sau nầy cả 5 người con của Vũ Quân đều đỗ đến Tiến Sĩ, thảy đều làm quan lớn cho triều đình. Tên của họ là Nghi (儀), Nghiễm (儼), Khản (侃), Xứng (偁) và Hy (僖). Đương thời, họ được gọi là “Yến Sơn Đậu Thị Ngũ Long (燕山竇氏五龍, năm con rồng của nhà họ Đậu ở Yến Sơn).” Năm người con do trời ban của Vũ Quân được xem như là 5 điều phước; từ đó xuất hiện câu “ngũ phước biền trăn (五福駢臻, năm phước cùng đến)” và phổ cập cho đến ngày nay.
- Tứ Tự (四序): tức bốn mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông. Như trong bài thơ Đăng Nam Thần Quang Tự Tháp Viện (登南神光寺塔院) của Hàn Ốc (韓偓, 844-923) nhà Đường có câu: “Tứ Tự hữu hoa trường kiến vũ, nhất Đông vô tuyết khước văn lôi (四序有花長見雨、一冬無雪卻聞雷, bốn mùa có hoa mưa lâu gặp, Đông về chẳng tuyết lại sấm vang).” Hay như trong Thập Môn Biện Hoặc Luận (十門辯惑論, Taishō Vol. 52, No. 2111) quyển Trung, có đoạn: “Phù Nhị Nghi phú tải, Tứ Tự sanh thành, Hạ khí trường luy, Lũng mạch dĩ chi tiều tụy; Thu phong thê khẩn, nham quế dĩ chi phương phi; Xuân nhật trì trì, vị khả sử cúc hoa vinh diệu; Đông sương lẫm lẫm, cự năng khiển tùng trinh diêu lạc (夫二儀覆載、四序生成、夏氣長羸、隴麥以之憔悴、秋風凄緊、巖桂以之芳菲、春日遲遲、未可使菊華榮曜、冬霜凜凜、詎能遣松貞搖落, phàm trời đất che chở, bốn mùa sinh thành; khí Hè yếu lâu, lúa Lũng theo đó tiều tụy; gió Thu thê thảm, quế núi nhờ vậy tốt tươi; ngày Xuân chầm chậm, chưa đủ khiến hoa cúc vươn mạnh; sương Đông buốt giá, sao lại khiến hoa tùng rơi rụng).”