VI. Các Lòng Văn Sớ
祥雲寺和尚、天姥寺僧綱、妙諦寺僧綱、報國寺住持、妙諦寺住持奉欽命官在報國寺、傳敕訂以肆月中旬、建齋在太王祠、郡公祠、兹炤官山諸寺合同分補應事、及預先演習齋儀、要得詳悉愼重、所有何人所行何事、列于後、計。
1. Hoàng Đế Nhị Tôn Khai Kinh Sớ
Nguyên văn:
皇帝二尊開經疏
伏以
梵相巍巍、覺道闡無邊之妙理、齋壇濟濟、法門開不二之玄文、香炷金爐、誠通寶座。拜疏爲
大南國嗣統皇帝阮福...法名澄意、字如惠、蠲吉日建壇于純毅堅太王祠奉
佛修齋諷經資福酬恩事、維日香焚戒定、花獻曼陀、仰干
大覺之尊、俯鑒微誠之懇。伏惟
二尊皇帝徽號、文武聖神英明仁孝中興默運
皇度如金、垂統貽謀、聖心似鏡、玄都而紫府卅年餘、想像如存、鶴駕而雲騈千載下、留徽若在、顧願追酬
昊德、應須迎達鴻恩。兹者時惟初夏、節屆清和、茂樹連陰、長風扇暑、莊嚴海會、壇開三晝之連霄、瑞靄雲烟、香滿十方之世界、諷誦大乘三寶尊經一部、地藏菩薩本願經一部、慈悲三昧水懺法一部、加持...諸品神咒、繼以開闢一壇、六供一壇、放生一壇、賑濟一壇、頂禮鴻名佛號、集此良因、以資福果。今則上供開啟疏章、和南拜奏。
南無道塲敎主本師釋迦牟尼文佛金蓮座下。
南無樂邦敎主阿彌陀佛金蓮座下。
南無龍華敎主當來彌勒尊佛金蓮座下。
南無十方盡虛空徧法界微塵刹土中過現未來佛法僧三寶座下。
筵奉、三乘聖哲、四府王官、護法龍天、善權眞宰、同垂鑒格。
伏願、鑒臨不遠、庇佑孔弘、軒馭逍遙、妙證眞如之域、聖靈伴奐、齊登極樂之天、尤祈寶祚以增隆、普及臣民之康泰、寔賴
諸佛扶持之大力也。謹疏。
啟定五年歲次庚申四月十日。弟子沙門清泰和南上疏。
Phiên âm:
Tường Vân Tự Hòa Thượng,1 Thiên Mụ Tự2 Tăng Cang,3 Diệu Đế Tự4 Tăng Cang,5 Báo Quốc Tự Trú Trì,6 Diệu Đế Tự Trú Trì,7 phụng khâm mạng quan tại Báo Quốc Tự, truyền sắc đính dĩ tứ nguyệt trung tuần, kiến trai tại Thái Vương Từ, Quận Công Từ; tư chiếu quan sơn chư tự, hợp đồng phân bổ ứng sự, cập dự tiên diễn tập trai nghi, yếu đắc tường tất thận trọng, sở hữu hà nhân sở hành hà sự, liệt vu hậu, kế.
HOÀNG ĐẾ NHỊ TÔN KHAI KINH SỚ
Phục dĩ
Phạm tướng8 nguy nguy, giác đạo xiển vô biên chi diệu lý;9 trai đàn10 tể tể, pháp môn11 khai Bất Nhị chi huyền văn;12 hương chú kim lô,13 thành thông bảo tọa.14
Bái sớ vị: Đại Nam15 Quốc Từ Thống Hoàng Đế Nguyễn Phúc16 …, pháp danh Trừng Ý, tự Như Huệ, quyên cát nhật kiến đàn vu Thuần Nghị17 Kiên Thái Vương Từ18 phụng Phật tu trai19 phúng kinh20 tư phước21 thù ân sự; duy nhật hương phần Giới Định, hoa hiến Mạn Đà;22 ngưỡng can Đại Giác chi tôn, phủ giám vi thành chi khẩn.
Phục duy: Nhị Tôn Hoàng Đế huy hiệu, Văn Võ Thánh Thần Anh Minh Nhân Hiếu Trung Hưng mặc vận Hoàng độ23 như kim, thùy thống di mưu,24 Thánh tâm tợ kính; Huyền Đô25 nhi Tử Phủ26tạp niên dư, tưởng tượng như tồn, hạc giá27 nhi vân biền28 thiên tải hạ, lưu huy nhược tại, cố nguyện truy thù; hạo đức ưng tu, ngưỡng đạt hồng ân. Tư giả thời duy sơ Hạ, tiết giới thanh hòa; mậu thọ liên âm, trường phong phiến thử; trang nghiêm hải hội, đàn khai tam trú chi liên tiêu; thụy ái29 vân yên, hương mãn thập phương chi thế giới; phúng tụng Đại Thừa Tam Bảo Tôn Kinh nhất bộ, Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh30 nhất bộ, Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp31 nhất bộ; gia trì chư phẩm Thần Chú, kế dĩ Khai Tịch32 nhất đàn, Lục Cúng33 nhất đàn, Phóng Sanh34 nhất đàn, Chẩn Tế nhất đàn; đảnh lễ hồng danh35 Phật hiệu, tập thử lương nhân, dĩ tư phước quả. Kim tắc thượng cúng khai khải sớ chương, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Đạo Tràng Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật kim liên tòa hạ.36
Nam Mô Lạc Bang Giáo Chủ A Di Đà Phật kim liên tòa hạ.
Nam Mô Long Hoa Giáo Chủ Đương Lai Di Lặc Tôn Phật kim liên tòa hạ.
Nam Mô Thập Phương Tận Hư Không Biến Pháp Giới Vi Trần Sát Độ Trung Quá Hiện Vị Lai Phật Pháp Tăng Tam Bảo tòa hạ.
Diên phụng: Tam Thừa37 Thánh triết, Tứ Phủ38 vương quan; Hộ Pháp39 long thiên, thiện quyền chơn tể, đồng thùy giám cách.
Phục nguyện: Giám lâm bất viễn, tí hựu khổng hoằng; hiên ngự40 tiêu dao, diệu chứng chơn như chi vức; Thánh linh bạn hoán,41 tề đăng Cực Lạc chi thiên; vưu kỳ bảo tộ dĩ tăng long, phổ cập thần dân chi khang thái. Thật lại chư Phật phò trì chi đại lực dã. Cẩn sớ.
Khải Định ngũ niên, tuế thứ Canh Thân tứ nguyệt thập nhật. Đệ tử Sa Môn42 Thanh Thái hòa nam thượng sớ.43
Dịch nghĩa:
Hòa Thượng Thanh Thái Phước Chỉ Chùa Tường Vân; Tăng Cang Chùa Thiên Mụ; Hòa Thượng Thích Tâm Tịnh, Tăng Cang Chùa Diệu Đế; Hòa Thượng Thích Tâm Khoan, Trú Trì Chùa Báo Quốc; và Hòa Thượng Thích Tuệ Pháp, Trú Trì Chùa Diệu Đế, vâng mạng quan tại Chùa Báo Quốc, truyền sắc mệnh đúng vào trung tuần tháng Tư, kiến lập trai đàn tại Từ Đường Thái Vương, Từ Đường Quận Công. Nay chiếu theo các chùa quan, cùng nhau phân chia công việc cho thích hợp, và diễn tập các nghi thức cúng trước, chủ yếu cần phải rõ ràng, thận trọng, những người nào làm việc gì, xin liệt kê sau đây:
SỚ KHAI KINH CÚNG HAI VỊ HOÀNG ĐẾ
Cúi nghĩ:
Tướng Phật nguy nga, nẻo giác diễn vô biên ấy diệu lý; trai đàn long trọng, pháp môn bày Bất Nhị ấy văn mầu; hương ngút lò vàng, xông lên tòa báu.
Sớ tâu: Việc Hoàng Đế kế vị Nguyễn Phúc … nước Đại Nam, pháp danh Trừng Ý, tự Như Huệ; chọn ngày tốt, lập đàn tại Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn. Hôm nay đốt hương Giới Định, hoa cúng Mạn Đà; ngưỡng mong Đại Giác chí tôn, chứng giám tấc thành khẩn thiết.
Cúi xin: Hai đấng Hoàng Đế huy hiệu Văn Võ Thánh Thần Anh Minh Nhân Hiếu Trung Hưng, thầm vận đức cả như vàng, ban truyền lời dạy; tâm Thánh như kính, Huyền Đô về Tử Phủ mấy mươi năm, tưởng tượng như còn; cỡi hạc mà nương mây nghìn năm xuống, bóng hình tồn tại; những nguyện đáp đền đức cả, mong sao đạt thấu hồng ân. Nay gặp đúng lúc đầu Hạ, tiết khí thanh hòa; cây tốt bóng râm, gió tươi quạt nóng; trang nghiêm hải hội, đàn mở ba ngày với ba đêm; mây tỏa điềm lành, hương xông mười phương các thế giới; trì tụng tôn kinh Tam Bảo Đại Thừa một bộ, Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh một bộ, Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp một bộ; trì thêm các phẩm Thần Chú …; tiếp theo lập một đàn Khai Tịch, một đàn Lục Cúng, một đàn Chẩn Tế; đảnh lễ hồng danh hiệu Phật, lấy nhân tốt nầy, để cầu quả phước. Nay tất dâng cúng khai mở sớ chương, kính thành tâu lạy:
Kính lạy đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, giáo chủ Đạo Tràng, trên tòa sen vàng chứng giám cho.
Kính lạy đức A Di Đà Phật, giáo chủ cõi Lạc Bang, trên tòa sen vàng chứng giám cho.
Kính lạy đức Đương Lai Di Lặc Tôn Phật, giáo chủ Hội Long Hoa, trên tòa sen vàng chứng giám cho.
Kính lạy Ba Ngôi Báu Phật Pháp Tăng của quá khứ, hiện tại, tương lai trong cõi nước như vi trần khắp pháp giới cùng tận mười phương hư không.
Cùng xin: Chư Thánh trong Ba Thừa, vương quan của Bốn Phủ; Hộ Pháp trời rồng, chấp quyền chơn tể, cùng thương chứng giám.
Cúi mong: Giáng lâm gần đó, phò trợ âm thầm; hồn vua tiêu dao, chứng đắc chơn như cõi tịnh; linh Thánh tự tại, cùng lên Cực Lạc cung trời; lại cầu ngôi báu mãi dài lâu, khắp chốn thần dân được khang thái. Ngưỡng lạy chư Phật phò giúp năng lực lớn. Kính dâng sớ.
Ngày mồng 10 tháng 4 năm Canh Thân (nhằm ngày 27 tháng 5 năm 1920), niên hiệu Khải Định thứ 5, đệ tử Sa Môn Thanh Thái kính thành dâng sớ.
Chú thích:
- Tức Hòa Thượng Thanh Thái Phước Chỉ (清泰福祉, 1858-1921), Chùa Tường Vân. Ngài họ Nguyễn, thế danh Huấn, quê quán vùng Đa Nghi, Quảng Trị. Ngài hạ sinh vào giờ Ngọ ngày mồng 5 tháng 5 năm Mậu Ngọ (1858, Tự Đức thứ 11). Năm lên 14 tuổi, ngài đến xuất gia với Hòa Thượng Diệu Giác (tức ngài Hải Thuận Lương Duyên) ở Chùa Diệu Đế. Sau đó, theo lời dạy của Thầy, Ngài lên sơn am hầu hạ Hòa Thượng Hải Toàn Linh Cơ (海全靈機). Đến ngày mồng 8 tháng 4 năm Nhâm Ngọ (1882, Tự Đức thứ 35), ngài cầu bổn sư xuống tóc, được ban cho pháp danh là Thanh Thái (清泰), hiệu Phước Chỉ (福祉), và được cử làm Tri Sự Chùa Tường Vân. Tháng 5 cùng năm ấy, ngài thọ Cụ Túc giới với Hòa Thượng Giác Tánh (覺性) ở Chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi. Vào sáng mồng 1 Tết Nguyên Đán năm Giáp Ngọ (1894, Thành Thái thứ 6), Hòa Thượng Hải Toàn Linh Cơ ban cho Ngài bài kệ phú pháp: “Phước Chỉ định tâm tịnh an nhiên, xử thế tùy cơ liễu mục tiền, đạo niệm tinh tu tình niệm đoạn, như kim phú pháp vĩnh lưu truyền (福祉定心淨安然、處世隨機了目前、道念精修情念斷、如今付法永留傳, Phước Chỉ định tâm lắng an nhiên, xử thế tùy cơ trước mắt mình, đạo niệm chuyên tu tình niệm dứt, như nay truyền pháp mãi lưu truyền).” Đến tháng 4 cùng năm nầy, tại Giới Đàn Báo Quốc, Hòa Thượng Hải Toàn Linh Cơ làm Giáo Thọ, còn ngài thì được cử làm Tôn Chứng thứ tư. Vào năm 1906 (Bính Ngọ, Thành Thái thứ 18), tại Sắc Tứ Từ Quang Tự (慈光寺) ở Bạch Thạch Sơn (白石山), Phú An, Hòa Thượng Pháp Hỷ (法喜) mở Đại Giới Đàn, cung thỉnh ngài làm Hòa Thượng Yết Ma. Khi Hòa Thượng Hải Toàn Linh Cơ viên tịch (1896), ngài được tông môn công cử lên kế thế Trú Trì Chùa Tường Vân. Ngài đã trùng tu chùa và làm thêm ngôi Tiền Đường, tạo cho cảnh Chùa Tường Vân thêm khang trang rực rỡ. Giờ Ngọ ngày mồng 5 Tết năm Tân Dậu (1921, Khải Định thứ 6), ngài an nhiên thâu thần thị tịch, hưởng thọ 64 tuổi đời, và 53 Hạ Lạp. Đệ tử của ngài có những vị cao tăng như các Hòa Thượng Tịnh Nhãn, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết; trong đó, Hòa Thượng Tịnh Khiết sau nầy là Đệ Nhất Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (Theo bản Tường Vân Tự Yết Ma Hòa Thượng Tháp Bi Ký [祥雲寺羯摩和尚塔碑記] hiện an trí tại Chùa Tường Vân, Huế. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế. Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 411~413). Về tiểu sử của ngài, bản Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế có vài điểm ghi sai như: “Ngay vào sáng mồng 1 Tết Nguyên Đán năm Bính Thân, Thành Thái thứ 6 (1894), Hòa Thượng Hải Toàn Linh Cơ ban kệ phú pháp cho người đệ tử xuất sắc của mình.” (tr. 412) Năm 1894, Thành Thái thứ 6, là Giáp Ngọ chứ không phải Bính Thân. Hay “giờ Ngọ ngày mồng 5 Tết năm Tân Dậu, Khải Định năm thứ 6 (1926), ngài viên tịch, thọ 68 tuổi đời, có 44 Hạ lạp.” Tuy nhiên, Khải Định năm thứ 6 là 1921 (Tân Dậu), chứ không phải 1926. Hơn nữa, trong bản Tường Vân Tự Yết Ma Hòa Thượng Tháp Bi Ký thì ghi là “Sư thế thọ lục thập tứ, tăng lạp ngũ thập tam (師世壽六十四、僧臘五十三, Đại Sư hưởng thọ 64 tuổi đời và 53 Hạ Lạp).” Ngay trong bộ Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam Thế Kỷ XX, tập II (2002, tr. 101), phần tiểu sử Hòa Thượng Thích Phước Chữ, của tác giả Thích Đồng Bổn, cũng ghi nhầm Phước Chỉ thành Phước Chữ; và năm viên tịch 1921 thành 1940. Ngoài ra, nếu so sánh bài kệ phú pháp của ngài trong bộ Hàm Long Sơn Chí (含龍山志) quyển 1, phần Tường Vân Tự Giáo Thọ Hòa Thượng Pháp Từ (祥雲寺敎授和上法嗣): “Phó Thanh Thái Phước Chỉ Đại Sư kệ (付清泰福祉大師偈, kệ phó chúc cho Đại Sư Thanh Thái hiệu Phước Chỉ)” và bài kệ nguyên văn có khác với bài trên: “Định tâm Phước Chỉ tĩnh an nhiên, xử thế tùy cơ liễu mục tiền, đạo niệm tinh tu tình niệm đoạn, như kim phú pháp vĩnh lưu truyền (定心福祉靜安然、處世隨機了目前、道念精修情念斷、如今付法永留傳).” Nếu xét về thứ tự, Ngài là đệ tử đầu của Hòa Thượng Hải Toàn Linh Cơ, Giáo Thọ Chùa Tường Vân. Sau Ngài có các vị như Thanh Kim Quang Diễm (清金光琰), Thanh Quang Thường Doanh (清光常盈), Thanh Phong Sung Dật (清豐充溢), Thanh Tín Ứng Nghiệm (清信應騐), Thanh Nhàn Quảng Lãm (清閒廣覧), Thanh Lương Tổng Quy (清涼總歸), Thanh Tâm Diệu Ứng (清心妙應), Thanh Phước Như Lâm (清福如林), Hải Trân Thụy Uyển (海珍瑞琬), Hải An Bảo Thuận (海安寶順), Thanh Nguyên Tiên Giảng (清源先講), và Hải Từ Tâm Chánh (海慈心正). Đại Trai Đàn nầy diễn ra 1 năm trước khi Ngài viên tịch (1921).
- Chùa Thiên Mụ (天姥寺): Huế vốn là nơi qui tụ nhiều di tích thắng cảnh, nhiều ngôi chùa cổ kính nổi tiếng của Việt Nam. Nhưng ngôi chùa xưa nhất phải kể đến có lẽ là Chùa Thiên Mụ, nơi có sự tích ra đời gắn liền với bước chân mở đường của vị chúa Nguyễn đầu tiên xứ Đàng Trong. Truyền thuyết kể rằng, khi Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa, ông đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này. Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương ngược lên phía đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại. Hỏi ra mới biết, ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê. Người dân địa phương cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi, nói với mọi người rằng: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng mạnh.” Vì thế, nơi đây còn được gọi là Thiên Mụ Sơn (núi Thiên Mụ). Tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường như cùng bắt nhịp được với ý nguyện của dân chúng. Ông cho dựng một ngôi chùa trên đồi, ngoảnh mặt ra sông Hương, đặt tên là Thiên Mụ Tự. Trong thực tế, ở đây đã từng tồn tại một ngôi chùa của người Chàm, di tích được nhắc đến trong sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An vào năm 1553 (Quý Sửu, Cảnh Lịch [景曆] thứ 6). Nhưng phải đến năm 1601 (Tân Sửu, Càn Thống [乾統] thứ 9), với quyết định của chúa Nguyễn Hoàng, chùa mới chính thức được xây dựng. Theo đà phát triển và hưng thịnh của Phật Giáo Xứ Đàng Trong, chùa được xây dựng lại quy mô hơn dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (阮福淍, tại vị 1691-1725). Năm 1710 (Canh Dần, Vĩnh Thạnh [永盛] thứ 6), chúa cho đúc một chiếc chuông lớn có khắc một bài minh trên đó. Đến năm 1714 (Giáp Ngọ, Vĩnh Thạnh thứ 10), chúa lại cho đại trùng tu chùa với hàng chục công trình kiến trúc hết sức quy mô như Điện Thiên Vương, Điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh, phòng Tăng, nhà Thiền; trong số đó, nhiều công trình ngày nay không còn nữa. Ông còn đích thân viết bài văn bia nói về việc xây dựng các công trình kiến trúc ở đây, ca tụng triết lý của đạo Phật, ghi rõ sự tích Hòa Thượng Thạch Liêm (石濂, 1633-1702), người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn chấn hưng Phật Giáo ở Đàng Trong. Bia được đặt trên lưng một con rùa đá rất lớn, trang trí đơn sơ nhưng tuyệt đẹp. Với quy mô được mở rộng và cảnh đẹp tự nhiên, ngay từ thời đó, Chùa Thiên Mụ đã trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứ Đàng Trong. Trải qua bao biến cố lịch sử, Chùa Thiên Mụ đã từng được dùng làm đàn Tế Đất dưới triều Tây Sơn (khoảng năm 1788), rồi được trùng tu tái thiết nhiều lần dưới triều các vua nhà Nguyễn. Năm 1844 (Giáp Thìn, Thiệu Trị thứ 4), nhân dịp lễ “bát thọ” (mừng sinh nhật thứ 80) của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (vợ vua Gia Long, bà nội của vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị kiến trúc lại ngôi chùa một cách quy mô hơn: xây thêm tháp Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên), đình Hương Nguyện và dựng 2 tấm bia ghi chép thơ văn của nhà vua. Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với Chùa Thiên Mụ. Tháp cao 21m, gồm bảy tầng, được xây dựng ở phía trước chùa. Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật. Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng, nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng. Phía trước tháp là Đình Hương Nguyện. Chùa Thiên Mụ được xếp vào hai mươi thắng cảnh đất Thần Kinh với bài thơ Thiên Mụ Chung Thanh do đích thân vua Thiệu Trị sáng tác và được ghi vào bia đá dựng gần cổng chùa. Năm 1862 (Nhâm Tuất, Tự Đức thứ 15), dưới thời vua Tự Đức, để cầu mong có con nối dõi, nhà vua sợ chữ “Thiên (天)” phạm đến Trời nên cho đổi từ “Thiên Mụ (天姥)” thành “Linh Mụ (靈姥)” (Bà mụ linh thiêng). Mãi đến năm 1869 (Kỷ Tỵ, Tự Đức thứ 22), vua mới cho dùng lại tên Thiên Mụ như trước. Bởi vậy trong dân gian, người ta vẫn dùng cả hai tên khi muốn nhắc đến chùa này. Trận bão khủng khiếp năm 1904 (Giáp Thìn, Thành Thái 16) đã tàn phá chùa nặng nề. Nhiều công trình bị hư hỏng, trong đó đình Hương Nguyện bị sụp đổ hoàn toàn. Qua nhiều đợt trùng tu lớn nhỏ, ngoài những công trình kiến trúc như Tháp Phước Duyên, Điện Đại Hùng, Điện Địa Tạng, Điện Quan Âm, v.v., cùng bia đá, chuông đồng, Chùa Thiên Mụ ngày nay còn là nơi có nhiều cổ vật quí giá không chỉ về mặt lịch sử mà còn cả về nghệ thuật. Những bức tượng Hộ Pháp, tượng Thập Vương, tượng Phật Di Lặc, tượng Tam Thế Phật, v.v., hay những hoành phi, câu đối ở đây đều ghi dấu những thời kỳ lịch sử vàng son của Chùa Thiên Mụ. Trong khuôn viên của chùa là cả một vườn hoa cỏ được chăm sóc vun trồng hàng ngày. Ở đó, hòn non bộ của vị tổ nghề hát tuồng Việt Nam là Đào Tấn (1845-1907) được đặt gần chiếc xe ô tô, di vật của cố Hòa Thượng Thích Quảng Đức để lại trước khi châm lửa tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp Phật Giáo của chế độ Ngô Đình Diệm vào năm 1963. Cuối khu vườn là khu mộ tháp của cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, vị trụ trì nổi tiếng của Chùa Thiên Mụ, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho những hoạt động ích đạo giúp đời. Tọa lạc bên bờ sông Hương thơ mộng của miền Trung, Chùa Thiên Mụ với kiến trúc cổ kính đã góp phần điểm tô cho bức tranh thiên nhiên nơi đây càng thêm duyên dáng, thi vị. Tiếng chuông chùa như linh hồn của Huế, vang vọng mãi theo dòng nước sông Hương chảy qua trước Kinh Thành, xuôi về cửa biển, đọng lại trong lòng khách phương xa đến Huế một nỗi niềm vương vấn chốn Thần Kinh. (Theo nguồn Trung Tâm Bảo Tồn Di Sản Huế)
- Tăng Cang (僧綱): tên gọi một chức tăng quan chuyên giám sát quy luật của Tăng Ni cũng như quản lý các ngôi chùa lớn nổi tiếng. Ở Trung Quốc, một số danh xưng khác được dùng như Sa Môn Thống (沙門統), Tăng Thống (僧統), Tăng Chánh (僧正), Tăng Chủ (僧主), v.v.; riêng ở Nhật Bản thì chia thành Tam Cang gồm Tăng Chánh (僧正), Tăng Đô (僧都) và Luật Sư (律師). Như trong Nhật Bản Tam Đại Thật Lục (日本三代實錄) quyển 10, có ghi rằng: “Trinh Quán thất niên, chánh nguyệt thập tứ nhật Bính Thân, địa chấn, Đại Cực Điện Trai Giảng cánh, Tăng Cang dĩ hạ phụng tham nội điện, luận nghĩa như thường (貞觀七年正月十四日丙申、地震、大極殿齋講竟、僧綱以下奉參內殿、論義如常, vào ngày mồng 14 Bính Thân tháng Giêng năm Trinh Quán thứ 7 [865] có động đất, tại Đại Cực Điện, sau khi hội Trai Giảng xong, từ Tăng Cang trở xuống đều vào tham yết trong nội điện, vẫn luận nghị như thường).” Hay trong Tây Du Ký (西遊記) hồi thứ 11 có câu: “Thái Tông hỷ đạo: ‘Quả nhiên cử chi bất thố, thành vi hữu đức hạnh hữu Thiền tâm đích Hòa Thượng, Trẫm tứ nhĩ Tả Tăng Cang, Hữu Tăng Cang’ (太宗喜道、果然舉之不錯、誠爲有德行有禪心的和尚、朕賜你左僧綱、右僧綱, vua Thái Tông vui vẻ bảo rằng: ‘Quả nhiên khen ngợi cũng không sai, thật đúng là Hòa Thượng có đức hạnh, có Thiền tâm; Trẫm ban tặng nhà ngươi chức Tả Tăng Cang, Hữu Tăng Cang’).” Trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 21 có đoạn: “Nãi lập quan dĩ cương lãnh chi, lưỡng kinh thiết Tăng Lục, dĩ thống chư quận ấp, quận ấp các thiết Tăng Cang (乃立官以綱領之、兩京設僧錄、以統諸郡邑、郡邑各設僧綱, bèn lập chức quan để quản lý; cả hai kinh đô đều thiết lập chức Tăng Lục, để quản lý các quận ấp, mỗi quận ấp đều thiết lập chức Tăng Cang).”
- Chùa Diệu Đế (妙諦寺): tọa lạc bên bờ sông Hộ Thành (dân gian gọi là sông Gia Hội, hoặc sông Đông Ba), số 100B đường Bạch Đằng, phường Phú Cát, gần cầu Gia Hội, thành phố Huế. Chùa có một vị trí quan trọng trong lịch sử Phật Giáo xứ Huế. Chùa nguyên là phủ của vua Thiệu Trị trước khi lên ngôi nên đã có cảnh quan rất đẹp, với vườn tược rộng rãi, cây cối xanh tươi. Năm 1844 (Giáp Thìn, Thiệu Trị thứ 4), nhà vua đã cho tôn tạo và sắc phong làm Quốc Tự. Chùa trở thành một danh lam của đất kinh kỳ. Tuy nhiên, chùa cũng trải qua nhiều biến động lịch sử cho nên đã không còn như ngày xưa. Năm 1885 (Ất Dậu, Đồng Khánh thứ 1), lúc vua Hàm Nghi đánh Pháp và phải bỏ Kinh Thành xuất bôn ra Quảng Trị, cung điện bị Pháp chiếm đóng, chính phủ Nam Triều phải trú ngụ và làm việc ở đây. Nhà cửa bị trưng dụng cho nhiều mục đích như Trí Tuệ Tịnh Xá làm phủ đường Thừa Thiên, Tường Từ Thất làm thành ngân khố và sở đúc tiền, một tăng xá biến thành nhà lao, một tăng xá khác thành đài quan trọng. Năm 1887 (Đinh Hợi, Đồng Khánh thứ 3), hầu hết các công trình kiến trúc của chùa bị triệt hạ và sang thế kỷ 20 mới được phục hồi. Vào những năm 1960, Chùa Diệu Đế là nơi xuất phát của đám rước tượng Phật, với các xe hoa và hàng vạn Phật tử của Thành Phố Huế lên Chùa Từ Đàm vào dịp lễ Phật Đản hằng năm. Chùa cũng là nơi diễn ra những cuộc đấu tranh của Phật Giáo chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm và các chính quyền của miền Nam sau đó. Ngày nay nét huy hoàng cũ chỉ còn thấy ở Chánh Điện, ở các bức phướn lớn rất đẹp rũ từ trên trần xuống, ở hoa văn trang trí trên trần và các bức họa về cuộc đời đức Phật. (Theo Dư Địa Chí Thừa Thiên Huế)
- Tức Hòa Thượng Thích Tâm Tịnh (釋心靜, 1868-1928) Tổ Đình Tây Thiên. Ngài người họ Hồ, thế danh là Hữu Vĩnh, sinh vào giờ Tỵ, ngày 18 tháng 5 năm Mậu Thìn (1868, Tự Đức thứ 21); quê quán làng Trung Kiên, Tổng Bích La, Huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Ngài xuất gia tại Chùa Báo Quốc, đến năm 13 tuổi thì thờ Hòa Thượng Diệu Giác (妙覺) làm Thầy. Vào năm Đinh Hợi (1887, Đồng Khánh thứ 3), ngài thọ Sa Di; và đến năm Giáp Ngọ (1894, Thành Thái thứ 6), thì thọ Cụ Túc giới. Năm ấy, ngài được bổn sư trao kệ phú pháp, húy là Thanh Ninh (清寧), tự Hữu Vĩnh (有永), hiệu Tâm Tịnh (心靜, hay Tâm Tĩnh). Kệ rằng: “Hà Thanh Ninh mật tứ phương an, hữu vĩnh tâm tâm đạo tức nhàn, tâm tợ Bồ Đề khai tuệ nhật, bao hàm thế giới như thị quan (河清寧謐四方安、有永心心道卽閑、心似菩提開慧日、包含世界如是觀, sông Thanh Ninh [trong vắng] lặng bốn phương an, Hữu Vĩnh [có mãi] tâm tâm đạo ấy nhàn, tâm tựa Bồ Đề bày trời tuệ, bao trùm thế giới như vậy xem).” Sau đó, ngài được Bổn Sư cho lên Chùa Từ Hiếu để tham học với Hòa Thượng Cương Kỷ (綱紀), và sau khi Hòa Thượng viên tịch, ngài được cử làm trú trì chùa nầy. Đến năm Nhâm Dần (1902, Thành Thái thứ 14), ngài xin thôi chức trú trì, lui về ấp Thuận Hòa thuộc Dương Xuân để lập am tĩnh tu, gọi là Thiếu Lâm Trượng Thất. Vào ngày mồng 6 tháng 3 năm Mậu Thìn (1928, Bảo Đại thứ 3), ngài thị tịch, hưởng thọ 59 tuổi đời và 39 Hạ lạp. Đệ tử đắc pháp của ngài có đến 39 người, có 9 vị cao tăng thuộc chữ Giác; trong đó ngài Giác Tiên là nhân vật quan trọng trong phong trào chấn hưng Phật Giáo xứ Huế (Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế. Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 416~418). Bài kệ phú pháp ở trên được tìm thấy trong bộ Hàm Long Sơn Chí (含龍山志) quyển 1, phần Diệu Giác Hòa Thượng Pháp Từ (妙覺和上法嗣), với câu: “Phó Thanh Ninh tự Hữu Vĩnh hiệu Tâm Tịnh kệ (付清寧字有永號心靜偈, bài kệ truyền trao cho [Đại Sư] Thanh Ninh tự Hữu Vĩnh hiệu Tâm Tịnh).” Tuy nhiên, trong Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế (trang 417) lại ghi nhầm chữ “mật (謐, yên lặng)” thành “mật (密, bí mật, thân thiết).” Xét về thứ tự, Ngài là đệ tử thứ 5 của Hòa Thượng Diệu Giác, sau các vị (1) Thanh Nhàn (清閑), tự Hải Khoát (海闊), hiệu Tâm Quảng (心廣); (2) Thanh Tịnh (清淨), tự An Lạc (安樂), hiệu Tâm Thể (心體); (3) Thanh Minh (清明), tự Huệ Vân (慧雲), hiệu Tâm Truyền (心傳) và (4) Thanh Phước (清福), tự Vĩnh Hộ (永祜), hiệu Tâm An (心安). Sau Ngài có các vị khác như Thanh Vân (清雲), tự Tường Thụy (祥瑞), hiệu Tâm Thành (心誠); Thanh Liêm (清濂), tự Hy Hữu (希有), hiệu Tâm Thiền (心禪); Thanh Đức (清德), tự Gia Khánh (嘉慶), hiệu Tâm Khoan (心寛); Như Thuật (如述), tự Đức Tuyển (德選), hiệu Minh Tâm (明心), v.v. Cũng trong tác phẩm trên có ghi rõ các vị đệ tử của Ngài kèm theo thời gian xuất gia là “Thành Thái Canh Tý niên tứ nguyệt thế độ tự sơ bát nhật dĩ hạ (成泰庚子年四月剃度自初八日以下, xuất gia vào tháng 4 năm Canh Tý [1900], đời vua Thành Thái thứ 12, từ ngày mồng 8 trở về sau)”, gồm: (1) Nguyễn Đình Huệ (阮廷惠), pháp danh Trừng Văn (澄聞), tự Chí Ngộ (至悟); (2) Nguyễn Duy Trinh (阮維楨), pháp danh Trừng Thành (澄誠), tự Chí Thông (至通); (3) Nguyễn Quang Pháp (阮光法), pháp danh Trừng Đoan (澄端), tự Chí Khiết (至潔); (4) Dương Phước Lệ (楊福棣), pháp danh Trừng Phát (澄發), tự Chí Tâm (至心); (5) Đỗ Khắc Dụng (杜克用), pháp danh Trừng Tuệ (澄慧), tự Chí Lâm (至臨); (6) Lê Hữu Nguyện (黎有願), pháp danh Trừng Tín (澄信), tự Chí Hạnh (至行); (7) Nguyễn Văn Đàm (阮文曇), pháp danh Trừng Hoa (澄花), tự Chí Quả (至果); (8) Nguyễn Đình Viên (阮廷圓), pháp danh Trừng Ba (澄波), tự Chí Tân (至津); (9) Nguyễn Văn Tú (阮文繡), pháp danh Trừng Nhã (澄雅), tự Chí Thanh (至清); (10) Lê Thiên Huyên (黎千烜), pháp danh Trừng Ý (澄意), tự Chí Duyệt (至悅); (11) Trần Đình Thiện (陳廷善), pháp danh Trừng Tịch (澄寂), tự Chí Kiên (至堅); (12) Võ Văn Tử (武文子), pháp danh Trừng Thủy (澄水), tự Chí Thâm (至深); (13) Dương Phước Chước (楊福灼), pháp danh Trừng Quang (澄光), tự Chí Hòa (至和); (14) Dương Phước Đường (楊福榶), pháp danh Trừng Ngoạn (澄玩), tự Quang … (光); (15) Nguyễn Xuân Tuyển (阮春譔), pháp danh Trừng Nguyên (澄元), tự Quang Hợp (光合); (16) Hoàng Hữu Giải (黃有解), pháp danh Trừng Châu (澄珠), tự Quang Lưu (光流). Theo tác phẩm Châu Bản Triều Nguyễn do Lý Kim Hoa sưu khảo và biên dịch (Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 2003, tr. 921-924) cho biết rằng vào ngày mồng 8 tháng 7 năm Khải Định thứ 3 (1918, Mậu Ngọ), Bộ Lễ có dâng tờ tâu xin cho Ngài Tâm Tịnh làm Tăng Cang Chùa Diệu Đế rằng: “Tư cứ chư quan tự Tăng Cang Trú Trì đẳng bẩm tự bản niên ngũ nguyệt sơ thập nhật Diệu Đế Tự Tăng Cang Hồ Văn Hựu bệnh cố, y đăng hội lân y tự Trú Trì Hồ Hữu Vĩnh kham sung Tăng Cang, tồn Trú Trì chi khuyết lân đắc y Tri Sự Đặng Hy Hữu kham sung bẩm hành Trú Trì đẳng ngữ. Thần Bộ phụng chiếu bẩm tự các lý y đẳng quân hệ đồng niên xuất gia, khoa phạm am tường, tính hạnh thuần cẩn, khả kham thị khuyết. Kỳ Hồ Hữu Vĩnh thỉnh sung vi y tự Tăng Cang, Đặng Hy Hữu sung vi y tự Trú Trì (玆據諸官寺僧綱住持等稟敘伊寺本年五月初拾日妙諦寺僧綱胡文佑病故、伊等會遴伊寺住持胡有永堪充僧綱、存住持之缺遴得伊寺知事鄧希有堪充住持稟行等語、臣部奉照稟敘各理伊等均係童年出家、科範諳詳、性行純謹、可堪是缺、其胡有永請充爲伊寺僧綱、鄧希有充爲伊寺住持, nay căn cứ các Tăng Cang, Trú Trì chùa quan bẩm nói ngày 10 tháng 5 năm nay Tăng Cang Hồ Văn Hựu bệnh mất, họ đã họp cử Trú Trì chùa ấy là Hồ Hữu Vĩnh sung làm Tăng Cang, còn Trú Trì khuyết thì cử Tri Sự chùa ấy là Đặng Hy Hữu [tức Ngài Tâm Thiền, tự Thanh Liêm, hiệu Hy Hữu] sung làm Trú Trì, v.v. Thần Bộ phụng chiếu lời bẩm các lẽ thì những người này đều đồng niên xuất gia, am tường khoa phạm, tính hạnh thuần cẩn, có thể điền khuyết. Vậy xin cho Hồ Hữu Vĩnh sung làm Tăng Cang, Đặng Hy Hữu sung làm Trú Trì chùa ấy).” Như vậy, trước đó (1911) Ngài đã từng làm Trú Trì Chùa Diệu Đế, và đến năm 1918 thì được sắc phong làm Tăng Cang chùa nầy.
- Tức Hòa Thượng Thích Tâm Khoan (釋心寬, 1874-1937): thế danh của ngài là Phạm Văn Phổ, tức Phạm Xuân Khiêm; sinh ngài 11 tháng 9 năm Giáp Tuất (1874, Tự Đức thứ 27); xuất thân Thôn Trung Kiên, Bích La, Đăng Xương, Quảng Trị. Thân phụ là Phạm Văn Huấn, thân mẫu là cụ Lê Thị Mẹ. Ngài là người đồng niên xuất gia, đầu sư với Hòa Thượng Hải Thuận Chùa Báo Quốc, có pháp danh là Thanh Đức (清德), tự là Gia Khánh (嘉慶), hiệu Tâm Khoan (心寛), thuộc đời thứ 41 dòng Lâm Tế Pháp Phái Liễu Quán. Năm lên 20 tuổi, ngài được Bổn Sư cho thọ giới Cụ Túc tại Giới Đàn Báo Quốc vào năm 1894 (Giáp Ngọ, Thành Thái thứ 6), do ngài Hải Thuận làm Đàn Đầu Hòa Thượng. Sau đó, ngài được bổn sư ban cho bài kệ phú pháp: “Thanh nhi hữu đức tấn tâm Thiền, Gia Khánh hy nhiên đạo vĩnh truyền, đắc pháp tu bằng vi diệu pháp, hà lao biệt ngoại pháp tầm huyền (清而有德進心禪、嘉慶熙然道永傳、得法須憑微妙法、何勞別外法尋玄, trong mà có đức tiến tu Thiền, Gia Khánh [rạng rỡ] vui thay đạo mãi truyền, đắc pháp nên nương vi diệu pháp, nhọc gì ngoài khác pháp tìm huyền).” Đến năm 1911 (Tân Hợi, Duy Tân thứ 5), ngài được sơn môn suy cử làm Trú Trì Chùa Báo Quốc, sau đó lại được cử kiêm nhiệm Trú Trì Chùa Thiền Tôn, Chùa Kim Tiên và Chùa Quang Bảo. Đến năm 1937 (Đinh Sửu, Bảo Đại thứ 12), ngài thị tịch, thọ 64 tuổi; nhập tháp ở phía Nam Chùa Thiền Tôn (theo Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế, tr. 428~430). Về bài kệ phú pháp nêu trên được tìm thấy trong bộ Hàm Long Sơn Chí (含龍山志) quyển 1, phần Diệu Giác Hòa Thượng Pháp Từ (妙覺和上法嗣), với câu: “Phó Thanh Đức tự Gia Khánh hiệu Tâm Khoan kệ (付清德字嘉慶號心寛偈, bài kệ truyền trao cho [Đại Sư] Thanh Đức tự Gia Khánh hiệu Tâm Khoan).” Tuy nhiên, trong Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế (trang 429) lại ghi nhầm là “Hà lao biệt ngoại pháp tâm huyền (何勞別外法心玄).” Nếu xét về thứ tự, Ngài là đệ tử thứ 8 của Hòa Thượng Diệu Giác, sau các vị (1) Thanh Nhàn (清閑), tự Hải Khoát (海闊), hiệu Tâm Quảng (心廣); (2) Thanh Tịnh (清淨), tự An Lạc (安樂), hiệu Tâm Thể (心體); (3) Thanh Minh (清明), tự Huệ Vân (慧雲), hiệu Tâm Truyền (心傳); (4) Thanh Phước (清福), tự Vĩnh Hộ (永祜), hiệu Tâm An (心安); (5) Thanh Ninh (清寧), tự Hữu Vĩnh (有永), hiệu Tâm Tĩnh (心靜); (6) Thanh Vân (清雲), tự Tường Thụy (祥瑞), hiệu Tâm Thành (心誠); và (7) Thanh Liêm (清濂), tự Hy Hữu (希有), hiệu Tâm Thiền (心禪).
- Tức Hòa Thượng Thích Tuệ [Huệ] Pháp (釋慧法, 1871-1927), Chùa Thiên Hưng.
- Phạm tướng (梵相): (1) Chỉ cho tướng trang nghiêm, thanh tịnh của chư Phật, Bồ Tát, v.v. Như trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 85 có thâu lục bài thơ Võ Túc Vương Hữu Chỉ Thạch Kiều Thiết Trai Hội Tấn Nhất Thi (武肅王有旨石橋設齋會進一詩) của một vị tăng ở Ngô Việt, có câu: “La Hán phàn chi trình Phạm tướng, nham tăng ỷ thọ hiện chơn hình (羅漢攀枝呈梵相、巖僧倚樹現眞形, La Hán vin cành bày tướng hảo, tựa cây tăng núi hiện chơn hình).” Hay trong Năng Cải Trai Mạn Lục (能改齋漫錄), chương Sự Thỉ (事始) 2 của Ngô Tằng (吳曾, khoảng thế kỷ 12) nhà Tống có đoạn: “Thiên hạ tự lập Quan Âm tượng, cái bổn ư Đường Văn Tông hảo thị cáp lị; nhất nhật, ngự soạn trung hữu phách bất khai giả, đế dĩ vi dị, nhân phần hương chúc chi, nãi khai, tức kiến Bồ Tát hình, Phạm tướng cụ túc (天下寺立觀音像、蓋本於唐文宗好嗜蛤蜊、一日、禦饌中有擘不開者、帝以爲異、因焚香祝之、乃開、卽見菩薩形、梵相具足, các chùa trong thiên hạ đều dựng tượng Quan Âm, vốn xuất phát từ việc vua Văn Tông [tại vị 826-840] nhà Đường thích ăn con sò; một hôm nọ, trong cỗ ăn của nhà vua có con sò bị nạy mà vẫn không mở ra; nhà vua lấy làm lạ, nhân đó thắp hương cầu khấn, con sò liền mở miệng ra, tức thấy hình Bồ Tát, tướng hảo đầy đủ).” (2) Chỉ chung cho tượng Phật. Như trong bài thơ Tam Nguyệt Thập Nhật Quán Nam An Triệu Sứ Quân Sở Tang Thư Họa Cổ Khí Vật (三月十日觀南安趙使君所藏書畫古器物) của Liễu Quán (柳貫, 1270-1342) nhà Nguyên có câu: “Đình quang cổ Phật xuất Phạm tướng, mãn nguyệt tại thủy liên sanh phu (庭光古佛出梵相、滿月在水蓮生趺, hào quang cổ Phật bày tướng hảo, trăng tròn mặt nước sen ngồi Thiền).” Trong Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1541) quyển Hạ có câu: “Tống Thích Nghĩa Thông, tánh Duẫn, Cao Lệ quốc tộc, Phạm tướng dị thường, mi trường ngũ thốn dư, ấu xuất gia Quy Sơn Viện (宋釋義通、姓尹、高麗國族、梵相異常、眉長五寸餘、幼出家龜山院, Thích Nghĩa Thông nhà Tống, họ là Duẫn, dòng họ nước Cao Lệ [Triều Tiên], tướng hảo khác thường, lông mày dài hơn 5 tấc, lúc nhỏ xuất gia ở Quy Sơn Viện).” Hay trong Bổ Tục Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1524) quyển 19 có đoạn: “Ngôn Pháp Hoa giả, mạc tri kỳ sở tùng lai, Phạm tướng kỳ cổ, ngữ ngôn vô kỵ, xuất một bất trắc, đa hành thị lí, khiên thường nhi xu, hoặc cử chỉ họa không, trữ lập lương cửu, dữ đồ cổ giả du, ẩm đạm vô sở trạch, đạo tục cọng mục vi cuồng tăng (言法華者、莫知其所從來、梵相奇古、語言無忌、出沒不測、多行市里、褰裳而趨、或舉指畫空、佇立良久、與屠沽者游、飲啖無所擇、道俗共目爲狂僧, Ngôn Pháp Hoa, chẳng biết ông từ đâu đến, tướng hảo cổ quái, nói năng chẳng kiêng kỵ, ẩn hiện khôn lường, phần nhiều xuất hiện nơi chợ búa, làng xóm, vén quần mà đi, hoặc có khi đưa ngón tay lên vẽ trên không trung, rồi đứng yên một hồi lâu, cùng với hạng bán rượu thịt giao du, ăn uống đủ thứ, cả đạo lẫn đời đều xem ông là tu sĩ điên).”
- Diệu lý (妙理): (1) Đạo lý thâm áo, siêu tuyệt. (2) Chân lý không thể nghĩ bàn mà người thường tình chẳng luận suy thấu được. (3) Lý huyền diệu. Như trong bài thơ Mai Nhật Tầm Thôi Tập Lý Phong (晦日尋崔戢李封) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Trọc dao hữu diệu lý, thứ dụng úy trầm phù (濁醪有妙理、庶用慰沉浮, rượu đục có đạo lý, dùng nhiều sợ chẳng hay).” Hay trong bài Ấp Thúy Hiên Phú (揖翠軒賦) của Vương Nhược Hư (王若虛, 1174-1243) nhà Kim có câu: “Vật chi tại thiên hạ, giai diệu lý chi sở ngụ dã (物之在天下、皆妙理之所寓也, muôn vật trong thiên hạ, đều bao hàm đạo lý siêu tuyệt).” Hay trong Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh (大乘入楞伽經, Taishō Vol. 16, No. 672) lại có đoạn rằng: “Hiểu danh tướng chi tinh giả, khư vọng tưởng chi mê câm, y chánh trí dĩ hội chân như, ngộ Duyên Khởi nhi quy diệu lý, cảnh phong ký tức, thức lãng phương trừng, tam Tự Tánh giai không, nhị Vô Ngã câu mẫn, nhập Như Lai chi tạng, du giải thoát chi môn (曉名相之幷假、祛妄想之迷衿、依正智以會眞如、悟緣起而歸妙理、境風旣息、識浪方澄、三自性皆空、二無我俱泯、入如來之藏、遊解脫之門, rõ danh tướng đều giả tạm, bỏ vọng tưởng ấy áo mê, nương chánh trí để tỏ chân như, ngộ duyên khởi mà về diệu lý, gió cảnh đã dứt, sóng biết lắng trong, ba Tự Tánh đều không, hai Vô Ngã thảy hết, vào Như Lai kho tạng, chơi giải thoát cửa Thiền).” Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Huyền Nghĩa (大般涅槃經玄義, Taishō Vol. 38, No. 1765) quyển Thượng có giải thích rằng: “Phù chánh đạo u tịch vô thỉ vô chung, diệu lý hư huyền phi tân phi cố (夫正道幽寂無始無終、妙理虛玄非新非故, phàm chánh đạo thì vắng lặng không đầu không cuối, lý mầu huyền nhiệm chẳng mới chẳng cũ).”
- Trai đàn (齋壇): (1) Chỉ cho nơi cúng tế trời đất của đế vương thời cổ đại. Như trong bài thơ Tặng Trần Thương (贈陳商) của Lý Hạ (李賀, 790-816) nhà Đường có câu: “Phong tuyết trực trai đàn, mặc kinh quán đồng thụ (風雪直齋壇、墨經貫銅綬, gió tuyết thẳng đến trai đàn, chỉ đen xuyên suốt dây đồng).” (2) Nơi các Đạo sĩ tụng kinh, lễ bái thần linh. Như trong bài thơ Đề Chu Luyện Sư Sơn Phòng (題朱煉師山房) của Vương Xương Linh (王昌齡, 698-756) nhà Đường có câu: “Khấu xỉ phần hương xuất thế trần, trai đàn minh khánh bộ hư nhân (叩齒焚香出世塵、齋壇鳴磬步虛人, đánh răng xông hương thoát bụi trần, trai đàn tiếng khánh vọng người âm).” Theo như nghi lễ của Đạo Giáo, lúc ban đầu không chuyên thiết lập trai đàn. Theo các tư liệu cho biết rằng, thời xưa người ta thiết lập ngoài lộ thiên một đài cao bằng đất hình vuông, trên ấy đặt lò hương, cúng tế rượu, và các Đạo sĩ trong núi hành lễ trên đài đó. Đến thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589), nghi lễ Đạo Giáo bắt đầu phát triển mạnh. Theo bản Động Huyền Linh Bảo Ngũ Cảm Văn (洞玄靈寶五感文) của Đạo sĩ Lục Tu Tĩnh (陸修靜, 406-477) nhà Lưu Tống (劉宋), lễ Kim Lục Trai (金籙齋) và Hoàng Lục Trai (黃籙齋) thì cần phải thiết đàn, và đàn có nhiều tầng. Từ thời nhà Đường (唐, 618-907) và Tống (宋, 960-1279) trở về sau, nghi lễ Đạo Giáo lại càng phong phú, phức tạp hơn; cho nên đàn tràng thiết trí lại càng phồn hoa hơn. Sau thời nhà Nguyên (元, 1206-1368) và Minh (明, 1368-1662), do vì nghi lễ cúng tế rượu của Đạo Giáo dần dần thay thế cho nghi lễ cúng chay, nên trai đàn còn gọi là tiếu đàn (醮壇). Phật Giáo cũng lấy hình thức trai đàn nầy để thiết lập những đàn tràng Giải Oan Bạt Độ, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, v.v. Trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 17, truyện Thích Trí Khải (釋智顗, 538-597) có đoạn: “Khải hựu suất lữ kiến trai thất nhật, hành Kim Quang Minh Sám chí đệ lục tịch, hốt giáng dị điểu phi nhập trai đàn, uyển chuyển nhi tử, tu du phi khứ, hựu văn thỉ ngâm chi thanh, chúng tinh đồng chúc (顗又率侶建齋七日、行金光明懺至第六夕、忽降異鳥飛入齋壇、宛轉而死、須臾飛去、又聞豕吟之聲、眾幷同矚, Trí Khải lại cùng bạn bè thiết lập trai đàn trong bảy ngày, tiến hành pháp sám hối Kim Quang Minh đến đêm thứ sáu, chợt có một con chim lạ bay vào trong trai đàn, lượn quanh mà chết, thoáng chốc bay đi mất, rồi lại nghe tiếng lợn rên rỉ, mọi người đều trố mắt nhìn).”
- Pháp môn (s: dharmaparyāya, p: dhammaparyāya, 法門): nghĩa là cửa pháp, là cánh cửa thông nhập vào tín tâm để đạt được Thánh trí, là cửa thoát ly sanh tử, dẫn vào Niết Bàn; còn gọi là Phật pháp, giáo pháp. Như trong kinh dạy rằng pháp môn của Phật có bốn vạn tám ngàn loại khác nhau. Pháp môn có thể vô tận, vô lượng, nên được ví như biển lớn sâu rộng không thể nào đo lường được. Như trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 2 có câu: “Phật sát vi trần pháp môn hải, nhất ngôn diễn thuyết tận vô dư (佛剎微塵法門海、一言演說盡無餘, biển pháp môn trong hạt bụi Phật quốc độ, một lời diễn nói khắp cùng không sót).” Hay trong Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (禪林僧寶傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1560) quyển 12 có câu: “Chư Phật dĩ thử pháp môn, độ thoát pháp giới chúng sanh, giai linh thành Phật, kim nhân khước ngôn, Tam Huyền thị Lâm Tế môn phong (諸佛以此法門、度脫法界眾生、皆令成佛、今人卻言、三玄是臨濟門風, chư Phật lấy pháp môn nầy, độ thoát chúng sanh trong pháp giới, đều khiến cho thành Phật; người thời nay lại bảo rằng Tam Huyền là tông phong của Lâm Tế).” Trong Tiếu Ẩn Đại Hân Thiền Sư Ngữ Lục (笑隱大訢禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1367) quyển 2 cũng có câu: “Thu nhiếp tam thiên sát hải ư nhất ấn trung, cụ túc bát vạn pháp môn ư nhất hào thượng (收攝三千剎海於一印中、具足八萬法門於一毫上, thu trọn ba ngàn biển lớn chỉ trong một ấn, đầy đủ tám vạn pháp môn ở trên sợi lông).”
- Huyền văn (玄文): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho loại hoa văn có màu đen huyền. Như trong Sở Từ (楚辭), chương 9, phần Hoài Sa (懷沙) có câu: “Huyền văn xử u hề, mông tẩu vị chi bất chương (玄文處幽兮、矇瞍謂之不章, hoa văn đen chỗ tối chừ, mắt mờ bảo chẳng thấy rõ).” Nhà ngôn ngữ học Khương Lượng Phu (姜亮夫, 1902-1995) chú thích rằng: “Huyền văn, hắc văn dã (玄文、黑文也, huyền văn là hoa văn màu đen).” (2) Chỉ cho chiếu lịnh hay Thánh chỉ của triều đình. Như trong bài Tiêu Bái Thái Úy Dương Châu Mục Biểu (蕭拜太尉揚州牧表) của Giang Yêm (江淹, 444-505) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Huyền văn ký giáng, điêu điệp tăng huy (玄文旣降,雕牒增輝, chiếu chỉ ban xuống, điệp khắc rạng ngời).” (3) Chỉ cho văn từ thâm áo. Như trong bài Vị Long Tuyền Tự Mộ Tạo Tàng Kinh Lâu Khải (爲龍泉寺募造藏經樓啟) của Cung Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh có đoạn rằng: “Minh chi sĩ đại phu, tịch thừa bình chi thanh hà, vãng vãng thám bí điển, vấn huyền văn, Chi Na thạnh hữu thuật tác (明之士大夫、席承平之清暇、往往探祕典、問玄文、支那盛有述作, các nhà sĩ đại phu nhà Minh, nhân những lúc nhàn rỗi thời thái bình, học hỏi văn từ thâm áo, nên Trung Hoa có rất nhiều trước tác).” Trong Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán (修華嚴奧旨妄盡還源觀, Taishō Vol. 45, No. 1876) có đoạn: “Bị Tam Tạng chi huyền văn, bằng Ngũ Thừa chi diệu chỉ, phồn từ tất tước, khuyết nghĩa phục toàn (備三藏之玄文、憑五乘之妙旨、繁辭必削、缺義復全, đủ Ba Tạng ấy huyền văn, nương Năm Thừa ý diệu, từ nhiều bỏ bớt, nghĩa thiếu lại tròn).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2cũng có đoạn rằng: “Đại Giác di ngôn, quần sanh pháp lạc, thậm thâm áo nghĩa, bí mật huyền văn, Long Vương kính nhi hải tạng thu, Đế Thích khâm nhi thiên thần phủng (大覺遺言、群生法樂、甚深奧義、秘密玄文、龍王敬而海藏收、帝釋欽而天神捧, đấng Đại Giác dặn dò, chúng sanh hưởng pháp lạc, thâm sâu áo nghĩa, bí mật huyền văn, Long Vương kính trọng mà biển cả thu giữ, Đế Thích khâm phục mà thiên thần trân trọng).”
- Kim Lô (金爐): lò vàng dùng để đốt giấy tiền vàng bạc khi dân chúng đến tham bái. Tạo hình bên ngoài Kim Lô ở Miếu Thành Hoàng (城隍廟) lấy màu hồng làm chính. Trên đỉnh lò có tòa nhà lục giác ba tầng: tầng thứ nhất lên đến đỉnh lò, mỗi góc đều có hình con rồng bay; tầng thứ hai lên đến đỉnh lò, mỗi góc có hình con chim phụng bay; tầng thứ ba, mỗi góc đều có hình hoa. Kim Lô và Hương Lô (香爐, lò hương) hoàn toàn khác nhau về chức năng. Lò Hương chủ yếu để cắm hương. Lò Hương cỡ lớn thì có điêu khắc hình con rồng trên đó và được đúc bằng đồng. Trong khi đó, Kim Lô chủ yếu dùng để đốt các loại giấy tiền vàng mã và hầu hết mỗi đền miếu đều có. Loại Kim Lô ở các đền miếu được chế tạo bằng gốm sứ. Như trong Phật Mẫu Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Thức (佛母孔雀尊經科式, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1479) có đoạn: “Giới Định chơn hương, phần khí xung thiên thượng, thí chủ kiền thành, nhiệt tại kim lô phóng, khoảnh khắc phân nhân, tức biến mãn thập phương, tích nhật Da Du, miễn nạn trừ tai chướng (戒定眞香、焚氣衝天上、施主虔誠、爇在金爐放、頃刻氛氤、卽遍滿十方、昔日耶輸、免難除災障, Giới Định chơn hương, khí đốt xông trời đất, thí chủ lòng thành, hơi nóng trong lò tỏa, khoảnh khắc hòa hài, tức biến khắp mười phương, xưa kia Da Du, hết nạn trừ tai chướng).” Hay trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1248) lại có đoạn: “Thần minh chi sum vệ, tuyên Phật Đảnh chi bí thuyên, tường yên tiêu cổ triện ư kim lô, bảo diệm thổ Đàm Hoa ư ngọc chúc (神明之森衛、宣佛頂之秘詮、祥煙銷古篆於金爐、寶燄吐曇花於玉燭, thần minh ấy hộ vệ, tuyên Phật Đảnh bao bí ngữ, mây lành nung triện cổ nơi lò vàng, lửa báu tuôn hoa Đàm nơi nến ngọc).” Trong Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1541) quyển Hạ, phần Tống Thích Ngộ Ân (宋釋晤恩) có đoạn rằng: “Ung Hy tam niên bát nguyệt, mộng ủng nạp Sa Môn, chấp kim lô phần hương, tam nhiễu kỳ thất, tự ngôn Tổ sư Quán Đảnh, lai thử tương nghênh, mộng giác do văn dị hương, diện Tây hiệp chưởng nhi hóa (雍熙三年八月、夢擁衲沙門、執金爐焚香、三遶其室、自言祖師灌頂、來此相迎、夢覺猶聞異香、面西合掌而化, vào tháng 8 niên hiệu Ung Hy thứ 3 [986], Ngộ Ân mơ thấy vị Sa Môn ôm y bá nạp, tay cầm lò vàng xông hương, ba lần nhiễu quanh thất của ông, tự bảo là Tổ sư Quán Đảnh, đến đây nghinh đón, khi tỉnh mộng mà vẫn nghe có mùi hương lạ, ông xoay mặt hướng về phương Tây chấp tay mà đi).”
- Bảo tòa (寶座): tòa báu, là loại tọa cụ (đồ dùng để ngồi) chuyên dùng cho đế vương, còn gọi là bảo ỷ (寶椅, ghế báu). Đây là một dạng ghế ngồi cỡ lớn, có trang sức văn hoa rực rỡ, trang nghiêm để hiển thị sự tôn quý đối với đấng thống trị. Nó còn được dùng để chỉ cho chỗ ngồi của các đấng linh thiêng như Thần, Phật, Bồ Tát, v.v. Về sau, từ nầy được dùng chỉ chung cho chỗ ngồi của những nhân vật có địa vị tôn quý, quan trọng. Như trong Hoa Nghiêm Cương Yếu (華嚴綱要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 240) quyển 79 có đoạn: “Huyền A Tăng Kỳ bảo kính, nhiên A Tăng Kỳ bảo đăng, bố A Tăng Kỳ bảo y, liệt A Tăng Kỳ bảo trướng, thiết A Tăng Kỳ bảo tòa (懸阿僧祇寶鏡、然阿僧祇寶燈、布阿僧祇寶衣、列阿僧祇寶帳、設阿僧祇寶座, treo A Tăng Kỳ kính báu, đốt A Tăng Kỳ đèn báu, trải A Tăng Kỳ y báu, bày A Tăng Kỳ màn báu, thiết A Tăng Kỳ tòa báu).” Hay trong Phật Tổ Cương Mục (佛祖綱目, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1594) quyển 8, phần Lục Tổ Di Giá Ca Truyền Pháp Bà Tu Mật (六祖彌遮迦傳法婆須蜜) có câu: “Ngã tư vãng kiếp, thường tác Đàn Na, hiến nhất Như Lai bảo tòa (我思往劫、嘗作檀那、獻一如來寶座, ta nhớ kiếp xưa kia, thường làm thí chủ, dâng cúng tòa báu cho một đấng Như Lai).” Trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1553) quyển 3, phần Đệ Thập Tổ Hiếp Tôn Giả (第十祖脅尊者), lại có đoạn rằng: “Trung Ấn Độ nhân dã, bổn danh Nan Sanh, sơ Tôn giả tương đản, phụ mộng nhất bạch tượng, bối hữu bảo tòa, tòa thượng an nhất minh châu, tùng môn nhi nhập, quang chiếu tứ chúng (中印土人也、本名難生、初尊者將誕、父夢一白象、背有寶座、座上安一明珠、從門而入、光照四眾, Tôn giả xuất thân người miền Trung Ấn Độ, tên thật là Nan Sanh; ban đầu khi Tôn giả vừa mới ra đời, phụ thân mơ thấy một con voi trắng, trên lưng có tòa báu, trên tòa ấy có viên ngọc sáng, từ cửa lớn đi vào, ánh sáng chiếu khắp bốn chúng).”
- Đại Nam (大南): Năm 1820 (Canh Thìn), vua Minh Mạng (明命, tại vị 1820-1841) lên ngôi, xin nhà Thanh (清, 1616-1911) cho phép đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam, ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Tuy nhiên, nhà Thanh đã không chấp thuận. Khi nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng đã chính thức đơn phương công bố quốc hiệu mới Đại Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 1839 (Kỷ Hợi, Minh Mạng thứ 20). Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945 (Ất Dậu, Bảo Đại thứ 20).
- Nguyễn Phúc hay Nguyễn Phước (阮福): Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (阮福源, tại vị 1614-1635) là người đầu tiên trong dòng họ mang họ Nguyễn Phúc. Tương truyền lúc mẹ ngài có thai, chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ “phúc (福)”. Lúc kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là “Phúc”. Nhưng bà bảo rằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót. Và khi thế tử ra đời, bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên. Từ đó, các vị chúa kế tiếp cũng có họ Nguyễn Phúc như Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (阮福瀾, tại vị 1635-1648), Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (阮福瀕, tại vị 1648-1687), Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái (阮福溱, tại vị 1687-1691), Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (阮福淍, tại vị 1691-1725), Chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú (阮福澍, tại vị 1725-1738), Chúa Vũ Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊, tại vị 1738-1765), Chúa Định Nguyễn Phúc Thuần (阮福淳, tại vị 1765-1777), v.v. Từ Nguyễn Phúc Nguyên xuống đến vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại đều mang họ Nguyễn Phúc như vua Gia Long (嘉隆, tại vị 1802-1820) là Nguyễn Phúc Ánh (阮福暎), vua Minh Mạng (明命, tại vị 1820-1841) là Nguyễn Phúc Đảm (阮福膽), vua Thiệu Trị (紹治, tại vị 1841-1847) là Nguyễn Phúc Miên Tông (阮福綿宗), vua Tự Đức (嗣德, tại vị 1847-1883) là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (阮福洪任), vua Dục Đức (育德, tại vị 1883) là Nguyễn Phúc Ưng Chân (阮福膺禛), vua Hiệp Hòa (協和, tại vị 1883) là Nguyễn Phúc Hồng Dật (阮福洪佚), vua Kiến Phúc (建福, tại vị 1883-1884) là Nguyễn Phúc Ưng Đăng (阮福膺登), vua Hàm Nghi (咸宜, tại vị 1884-1885) là Nguyễn Phúc Ưng Lịch (阮福膺皪), vua Đồng Khánh (同慶, tại vị 1885-1889) là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (阮福膺祺), vua Thành Thái (成泰, tại vị 1889-1907) là Nguyễn Phúc Bửu Lân (阮福寶嶙), vua Duy Tân (維新, tại vị 1907-1916) là Nguyễn Phúc Vĩnh San (阮福永珊), vua Khải Định (啟定, tại vị 1916-1925) là Nguyễn Phúc Bửu Đảo (阮福寶嶹), và vua Bảo Đại (保大, tại vị 1925-1945) là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (阮福永瑞). Những hậu duệ của chín đời Chúa cùng họ Nguyễn Phúc với vua Minh Mạng, được nhà vua đặt là Tôn Thất (宗室). Con gái của Tôn Thất là Tôn Nữ (宗女). Trong khi đó, một số thân tộc thuộc dòng những con trai khác của Nguyễn Hoàng còn ở lại đất Bắc (như dạng làm con tin) thì đổi ra họ Nguyễn Hựu.
- Thuần Nghị (純毅): thụy hiệu của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai (1845-1876), em vua Tự Đức.
- Kiên Thái Vương Từ (堅太王祠): Phủ Thờ Kiên Thái Vương (hay Nội Từ), tọa lạc tại số 179 Phan Đình Phùng, Thành Phố Huế. Phủ thờ nầy do Kiên Thái Vương Hồng Cai (1845-1876), con trai thứ 26 vua Thiệu Trị, em vua Tự Đức, là thân phụ của ba vua Đồng Khánh, Kiến Phúc và Hàm Nghi, được xây dựng vào tháng 3 năm 1888 (Mậu Tý, Đồng Khánh thứ 4). Ở Huế, Kiên Thái Vương là phủ duy nhất đặt áng thờ 5 vị vua triều Nguyễn: Đồng Khánh, Kiến Phúc, Hàm Nghi và Khải Định; năm 1997 thì thêm áng thờ vua Bảo Đại. Nơi đây vẫn còn lưu giữ được phần nào nếp sống của vị Hoàng thái hậu cuối cùng của Việt Nam. Dòng Kiên Thái có một chiếc đỉnh lớn đúc từ thời Minh Mạng (trên thân đỉnh có ghi rõ Minh Mạng niên chú). Năm 1888, dưới thời vua Đồng Khánh, chiếc đỉnh này được dâng tặng Kiên Thái Vương. Hiện nay, chiếc đỉnh trên được đặt trong phủ Kiên Thái Vương, ngay phía sau chiếc bình phong tiền của nhà thờ chính. Điều đáng chú ý là trên thân đỉnh có khắc những dòng chữ giống hệt các dòng chữ trên chiếc bia đá đặt ở phía trước, bên tả Thiên Thành Cục, tức lăng của Kiên Thái Vương. Nguyên văn là: “Sùng đức báo ân Đồng Khánh, Kiến Phúc, Hàm Nghi tam đế cung tặng Kiên Thái Vương, thụy Thuần Nghị Vạn Niên Thiên Thành Cục. Thượng tuế thứ Mậu Tý quý Xuân phụng chỉ khâm khắc.”
- Tu trai (修齋): tập trung tu sĩ Phật Giáo hay đạo sĩ của Đạo Giáo để cúng dường cơm chay. Như trong bài thơ Đăng Linh Sơn Thủy Các Di Điếu Giả (登靈山水閣貽釣者) của thi nhân Đỗ Tuần Hạc (杜荀鶴, 846-904) nhà Đường có câu: “Giang thượng kiến tăng thùy thị liễu, tu trai bổ nạp nhật lao thân (江上見僧誰是了、修齋補衲日勞身, trên sông gặp tăng là ai nhỉ, cúng chay lão nạp bớt nhọc thân).” Hay trong kịch bản Đào Hoa Phiến (桃花扇), phần Nhập Đạo (入道), của Khổng Thượng Nhiệm (孔尚任, 1648-1718) nhà Thanh có đoạn: “Quảng diên đạo chúng, đại kiến kinh đàn, yếu dữ tiên đế tu trai truy tiến (廣延道眾、大建經壇、要與先帝修齋追薦, rước khắp các đạo sĩ, kiến lập đàn tràng lớn, chủ yếu dâng cúng cỗ chay để cầu siêu độ cho tiên đế).” Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 1 cũng có đoạn: “Giác Hoàng mẫn Diệm Khẩu chi đồ, sơ linh phụng hộc; Lương Đế cảm thần tăng chi mộng, toại khải tu trai (覺皇憫燄口之徒、初令奉斛、梁帝感神僧之夢、遂啟修齋, Giác Hoàng thương Diệm Khẩu [miệng bốc lửa] muôn loài, mới bày hộc thực; Lương Đế cảm thần tăng ứng mộng, bèn cúng cỗ chay).” Hoặc như trong Phật Thuyết Dự Tu Thập Vương Sanh Thất Kinh (佛說預修十王生七經, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 21) lại có đoạn: “Nhất thân Lục Đạo khổ mang mang, Thập Ác Tam Đồ bất dị đương, nỗ lực tu trai công đức cụ, hằng sa chư tội tự tiêu vong (一身六道苦茫茫、十惡三塗不易當、努力修齋功德具、恆沙諸罪自銷亡, một thân sáu nẻo khổ mênh mang, mười ác ba đường khó thoát nàn, tận lực cúng chay công đức đủ, hằng sa tội chướng tự tiêu vong).”
- Phúng kinh (諷經): tụng kinh, đọc kinh văn theo âm điệu trầm bổng, lên xuống. Nguyên lai là pháp của Bà La Môn giáo, sau đó đức Phật hứa khả cho các Tỳ Kheo được sử dụng pháp nầy, tức là Phạn Bối (梵唄). Người có khả năng về khoa nầy được gọi là kinh sư (經師). Trong bài Lễ Tụng Dược Sư Cáo Văn (禮誦藥師告文) của Lý Chí (李贄, 1527-1602) nhà Minh có câu: “Sấn thử nhất bách nhị thập nhật kỳ hội, phúng kinh bái sám đạo tràng(趁此一百二十日期會、諷經拜懺道塲, nhân dịp 120 ngày nầy, tụng kinh lạy sám hối đạo tràng).” Hay trong tác phẩm Tô Châu Phong Tục (蘇州風俗), chương Hôn Tang Lễ Tục (婚喪禮俗), của Chu Chấn Hạc (周振鶴) có đoạn: “Tử hậu mỗi thất nhật, tất diên tăng lữ hoặc vũ sĩ lễ sám phúng kinh (死後每七日、必延僧侶或羽士禮懺諷經, sau khi chết vào mỗi tuần bảy ngày, phải mời tăng sĩ hay đạo sĩ đến lạy sám hối, tụng kinh).” Trong Phật Thuyết Di Nhật Ma Ni Bảo Kinh (佛說遺日摩尼寶經, Taishō Vol. 12, No. 350) có nêu lên tầm quan trọng của việc tụng kinh, trì giới như sau: “Tuy đa phúng kinh nhi bất trì giới, thí như nhân bệnh đắc vương gia dược, bất tự hộ tọa tử, tuy đa phúng kinh nhi bất trì giới như thị, thí như Ma Ni châu đọa ư thỉ trung (雖多諷經而不持戒、譬如人病得王家藥、不自護坐死、雖多諷經而不持戒如是、譬如摩尼珠墮於屎中, tuy tụng kinh nhiều mà không giữ giới, giống như người bị bệnh có được thuốc nhà vua, nhưng không thoát khỏi chết ngồi, tuy tụng kinh nhiều mà không giữ giới như vậy, giống như ngọc báu Ma Ni rơi trong đống phân).”
- Tư phước (資福): lấy phước, cầu phước. Như trong Cân Sương Thuyết (巾箱說) của Kim Thực (金埴, 1663-1740) nhà Thanh có câu: “Nhiên vãng vãng nghiệm chi, niên phong gia cấp, tương dữ các kỳ dư tài dĩ tư phước(然往往驗之、年豐家給、相與榷其餘財以資福, nhưng thường thường suy nghiệm thấy, năm được mùa, nhà nhà no đủ, bèn đánh thuế tài sản dư để cầu phước).” Hay trong Lịch Triều Thích Thị Tư Giám (歷朝釋氏資鑑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 76, No. 1517) quyển 8 có đoạn: “Giáp Thìn tứ niên, Quán Sát Sứ Vương Trí Hưng, dĩ thượng thập nhị nguyệt sanh nhật, thỉnh ư Tứ Châu trí Giới Đàn độ tăng ni dĩ tư phước (甲辰四年、觀察使王智興、以上十二月生日、請於泗州置戒壇度僧尼以資福, vào năm Giáp Thìn [824], niên hiệu Khánh Trường thứ 4 nhà Đường, Quán Sát Sứ Vương Trí Hưng [758-836], nhân ngày sinh nhật tháng 12, thỉnh đến Tứ Châu thiết lập Giới Đàn độ tăng ni để cầu phước).”
- Mạn Đà (曼陀): tên một loài hoa, gọi đủ là Mạn Đà La (s: māndāra, māndārava, māndāraka, 曼陀羅), ý dịch là thiên diệu (天妙), duyệt ý (悅意), thích ý (適意), bạch (白). Nó còn được gọi là Mạn Đà Lặc Hoa (曼陀勒華), Mạn Na La Hoa (曼那羅華), Mạn Đà La Phạn Hoa (曼陀羅梵華), Mạn Đà La Phàm Hoa (曼陀羅帆華). Đây là một trong 4 loại hoa trời và là tên loài hoa trên thiên giới. Hoa có màu đỏ, rất đẹp làm cho người nhìn thấy sanh tâm vui mừng. Cây của nó giống như cây Ba Lợi Chất Đa (s: pārijāta, pārijātaka, pāriyātraka, p: pāricchattaka,波利質多, tên loại cây trên cung trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利]). Tên khoa học của loài hoa nầy là Erythrina indica (Coral tree), sanh sản ở Ấn Độ, nở hoa vào mùa hè, đến khoảng tháng 6, 7 thì kết trái, lá rất sum sê. Bên cạnh đó, nó còn có tên khoa học khác là Calotropis gigantean, là loài thực vật thuộc Mã Lợi Cân (馬利筋), cũng được gọi là Mạn Đà La, thường dùng để dâng cúng cho thần Thấp Bà (s: Śiva, p: Siva, 濕婆). Tại Bồ Tát Đảnh Văn Thù Điện (菩薩頂文殊殿) ở Ngũ Đài Sơn (五臺山), tỉnh Sơn Tây (山西省), Trung Quốc có câu đối: “Bách đạo tuyền phi giản lưu công đức thủy, ngũ phong vân dũng thiên vũ Mạn Đà hoa (百道泉飛澗流功德水、五峰雲湧天雨曼陀花, trăm lối khe bay suối chảy nước công đức, năm núi mây tuôn trời mưa hoa Mạn Đà).” Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (s: Mahāparinirvāṇasūtra, 大般涅槃經, Taishō No. 374) có đoạn: “Thiện Kiến Thái Tử kiến dĩ, tức sanh ái tâm, hỷ tâm, kính tín chi tâm, vi thị sự cố nghiêm thiết chủng chủng cúng dường chi cụ nhi cúng dường chi; hựu phục bạch ngôn: ‘Đại Sư thánh nhân, ngã kim dục kiến Mạn Đà La hoa.’ Thời Điều Bà Đạt Đa tức tiện vãng chí Tam Thập Tam Thiên, tùng bỉ thiên nhân cầu tác chi (善見太子見已、卽生愛心、喜心、敬信之心、爲是事故嚴設種種供養之具而供養之、又復白言、大師聖人、我今欲見曼陀羅花、時調婆達多卽便徃至三十三天、從彼天人而求索之, Thái Tử Thiện Kiến thấy xong, tức sanh tâm yêu thích, tâm vui mừng, tâm kính tín, vì việc nầy nên trang nghiêm thiết bày các vật phẩm cúng dường để cúng dường; rồi lại thưa rằng: ‘Thưa Đại Sư thánh nhân, con nay muốn thấy hoa Mạn Đà La.’ Khi ấy Điều Bà Đạt Đa bèn qua đến cõi Trời Ba Mươi Ba, theo thiên nhân ở đó mà cầu xin hoa).” Hay trong Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Thiên Kinh (佛說觀彌勒菩薩上生兜率天經, Taishō No. 452) cũng có đoạn: “Bách thiên thiên tử tác thiên kỷ nhạc, trì thiên Mạn Đà La hoa, Ma Ha Mạn Đà La hoa, dĩ tán kỳ thượng, tán ngôn: ‘Thiện tai ! Thiện tai ! Thiện nam tử, nhữ ư Diêm Phù Đề quảng tu phước nghiệp lai sanh thử xứ, thử xứ danh Đâu Suất Đà Thiên; kim thử thiên chủ danh viết Di Lặc, nhữ đương quy y’ (百千天子作天伎樂、持天曼陀羅花、摩訶曼陀羅華、以散其上、讚言、善哉善哉善男子、汝於閻浮提廣修福業來生此處、此處名兜率陀天、今此天主名曰彌勒、汝當歸依, trăm ngàn thiên tử tấu các kỷ nhạc trời, mang hoa trời Mạn Đà La, hoa Ma Ha Mạn Đà La để rải lên vị ấy, rồi tán thán rằng: ‘Lành thay ! Lành thay ! Thiện nam tử, ngươi đã rộng tu phước nghiệp nơi Diêm Phù Đề mà sanh về cõi nầy; cõi nầy tên là Đâu Suất Đà Thiên; vị chủ trời hiện tại tên là Di Lặc, ngươi nên quy y người’).”
- Hoàng độ (皇度): chỉ về phẩm đức và sự độ lượng của Hoàng đế. Như trong bài Tấn Võ Hoa Lâm Viên Tập Thi (晉武華林園集詩) của Ứng Trinh (應貞, ?-269) của nhà Tấn có câu: “Khôi khôi Hoàng độ, mục mục Thánh dung (恢恢皇度、穆穆聖容, rộng lớn đức vua, sâu thẳm vẻ Thánh).” Hay trong bài Chánh Đán Đại Hội Hành Lễ Ca (正旦大會行禮歌) của Tuân Húc (荀勗, ?-289) nhà Tấn cũng có câu: “Tư ngã Hoàng độ, di luân du tự(思我皇度、彝倫攸序, nhớ đức vua ta, luân thường trật tự).” Hoặc như trong bài Nguyên Hội Đại Hưởng Ca (元會大饗歌), phần Hoàng Hạ (皇夏) của Ngưu Hoằng (牛弘, 545-610) nhà Tùy có đoạn rằng: “Thâm tai Hoàng độ, túy hỉ thiên nghi (深哉皇度、粹矣天儀, sâu thẳm thay đức vua, thuần túy thay nghi Trời).” Trong Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám (廬山蓮宗寶鑑, Taishō Vol. 47, No. 1973) quyển 10 có đoạn: “Phát dương tiên giác chi vi ngôn, vĩnh vi hậu nhân chi minh giám, thượng dĩ âm dực hoàng độ, hạ dĩ hóa lợi sanh dân, khả vị tận thiện tận mỹ nhi dĩ (發揚先覺之微言、永爲後人之明鑑、上以陰翊皇度、下以化利生民、可謂盡善盡美而已, phát huy lời dạy của đấng giác ngộ trước, mãi là gương sáng soi cho kẻ đời sau, trên để âm thầm giúp đỡ đức vua, dưới để làm lợi lạc muôn dân, mới có thể gọi là tốt đến tận cùng, đẹp đến tận cùng mới thôi).”
- Di mưu (貽謀): vốn phát xuất từ câu “di quyết tôn mưu, dĩ yến dực tử (詒厥孫謀、以燕翼子, trao truyền mưu kế cho đàn cháu để làm yên cho đàn con)” trong Thi Kinh (詩經), chương Đại Nhã (大雅), phần Văn Vương Hữu Thanh (文王有聲). Về sau, từ di mưu được dùng với ý nghĩa là lời giáo huấn, dạy dỗ của ông bà đối với con cháu. Như trong bài Hàn Duy Tổ Bảo Xu Lỗ Quốc Công Chế (韓維祖保樞魯國公制) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Thượng dĩ báo di mưu chi đức, hạ dĩ lệ di hiếu chi thành (上以報貽謀之德、下以勵移孝之誠, trên báo đáp dạy dỗ ân đức, dưới khích lệ hiếu nghĩa lòng thành).” Trong Duy Ma Kinh Vô Ngã Sớ (維摩經無我疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 19, No. 348) quyển 5 có đoạn: “Nhược vị đắc Pháp Thân, đản tác Ý Đẳng Thí, tức thị Vô Ngại Pháp Thí, thử diệc tiên hiền chi cách ngôn, sơ học chi di mưu dã (若未得法身、但作意等施、卽是無閡法施、此亦先賢之格言、初學之貽謀也, nếu chưa chứng đắc Pháp Thân, mà thực hành Bố Thí Bình Đẳng, tức là Pháp Thí Không Ngại; đây chính là cách ngôn của hiền Thánh đi trước, là lời giáo huấn cho hàng mới vào đạo).”
- Huyền Đô (玄都): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên nước chư hầu ngày xưa. Như trong Dật Chu Thư (逸周書), phần Sử Ký (史記) có đoạn: “Tích giả Huyền Đô hiền quỷ đạo, phế nhân sự thiên, mưu thần bất dụng, quy sách thị tùng, thần vu dụng quốc, triết sĩ tại ngoại, Huyền Đô dĩ vong (昔者玄都賢鬼道、廢人事天、謀臣不用、龜策是從、神巫用國、哲士在外、玄都以亡, xưa kia có nước chư hầu thân cận với yêu quỷ, bỏ người thờ Trời, mưu thần chẳng dùng, bói toán lại theo, thầy pháp thì trọng dụng, kẻ sĩ thì xem thường, nên nước chư hầu bị diệt vong).” (2) Là trú xứ của thần tiên trong truyền thuyết (nghĩa trong bài). Như trong tác phẩm Hải Nội Thập Châu Ký (海內十洲記), phần Huyền Châu (玄洲) có câu: “Thượng hữu đại Huyền Đô, tiên bá Chơn Công sở trị (上有大玄都、仙伯眞公所治, trên có cõi Huyền Đô to lớn, do vị tiên Chơn Công cai trị).” Hay trong tác phẩm Chẩm Trung Thư (枕中書) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có giải thích rõ rằng: “Huyền Đô Ngọc Kinh Thất Bảo Sơn, châu hồi cửu vạn lí, tại Đại La chi thượng, thành thượng thất bảo cung, cung nội thất bảo đài, hữu thượng trung hạ tam cung …, thượng cung thị Bàn Cổ Chân Nhân Nguyên Thỉ Thiên Tôn Thái Nguyên Thánh Mẫu sở trị (玄都玉京七寶山、週迴九萬里、在大羅之上、城上七寶宮、宮內七寶臺、有上中下三宮…上宮是盤古眞人元始天尊太元聖母所治, Huyền Đô ở Ngọc Kinh thuộc Thất Bảo Sơn, chu vi chín vạn dặm, nằm trên thành Đại La; trên thành có cung điện bảy báu, trong cung điện có đài bảy báu, có ba cung trên giữa dưới …, cung trên do Bàn Cổ Chân Nhân Nguyên Thỉ Thiên Tôn Thái Nguyên Thánh Mẫu cai trị).” (3) Tên gọi của một Đạo Quán nổi tiếng của Trung Quốc, tọa lạc tại khoảng giữa đỉnh núi Chúc Dung (祝融) và trấn Nam Nhạc (南嶽鎭), thuộc tỉnh Hồ Nam (湖南省); còn gọi là Bán Sơn Đình (半山亭), Hấp Vân Am (吸雲庵). (4) Tên gọi tắt của Huyền Đô Đàn (玄都壇), đàn tràng ngày xưa của Đạo Giáo. Như trong bài thơ Huyền Đô Đàn Ca Ký Nguyên Dật Nhân (玄都壇歌寄元逸人) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Ốc tiền thái cổ Huyền Đô Đàn, thanh thạch mạc mạc tùng phong hàn (屋前太古玄都壇、青石漠漠松風寒, trước nhà cổ xưa Huyền Đô Đàn, đá xanh mù mịt gió tùng lạnh).” Thái Mộng Bậc (蔡夢弼, ?-?), học giả thời Nam Tống (南宋, 1127-1279) chú thích rằng: “Huyền Đô nãi Hán Võ Đế sở trúc, tại Trường An Nam Sơn Tý Ngọ cốc trung(玄都乃漢武帝所築、在長安南山子午谷中, Huyền Đô Đàn là do Hán Võ Đế dựng nên, nằm trong hang Tý Ngọ, thuộc Nam Sơn, Trường An).” Trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 9 cho biết rằng: “Kim cứ Cửu Thiên Sanh Thần Chương, Thái Thượng trú tại Huyền Đô Cung dã, kỳ Ngọc Thanh Cung tại Huyền Đô chi thượng (今據九天生神章、太上住在玄都宮也、其玉清宮在玄都之上, nay theo Chương Cửu Thiên Sanh Thần, Thái Thượng trú ở Huyền Đô Cung; Ngọc Thanh Cung của ngài ở trên Huyền Đô).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 40 có đoạn: “Cung văn Hoa Nghiêm Đại Kinh, nãi Tỳ Lô căn bổn chi pháp luân, Tào Khê cổ sát, vi Lục Tổ Thiền Tông chi chánh mạch, pháp giới thị chúng Thánh chi Huyền Đô, tùng lâm tác thập phương chi quy túc (恭聞華嚴大經、乃毗盧根本之法輪、曹溪古剎、爲六祖禪宗之正脈、法界是眾聖之玄都、叢林作十方之歸宿, cúi nghe Hoa Nghiêm Đại Kinh là bánh xe pháp căn bản của Tỳ Lô, chùa cổ chốn Tào Khê là chính mạch của Lục Tổ Thiền Tông, pháp giới là cõi Huyền Đô của chư vị Thánh, chốn tùng lâm làm nơi nương tựa của thập phương).”
- Tử Phủ (紫府): Đạo Giáo gọi Tử Phủ là nơi cư trú của tiên nhân. Như trong tác phẩm Bão Phác Tử (抱朴子), phần Khư Hoặc (祛惑) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có đoạn: “Cập chí thiên thượng, tiên quá Tử Phủ, kim sàng ngọc kỉ, hoảng hoảng dục dục, chơn quý xứ dã (及至天上、先過紫府、金牀玉几、晃晃昱昱、眞貴處也, lên tận trên trời, trước phải qua Tử Phủ, có sàng vàng ghế ngọc, sáng lạn, rực rỡ, đúng là chốn quý báu vậy).” Hay trong bài Ký Thiên Thai Đạo Hữu (寄天台道友) của Quán Hưu (貫休, 832-912) nhà Đường có câu: “Tử Phủ xưng phi viễn, thanh khê kính bất vu (紫府稱非遠、清溪徑不迂, Tử Phủ đâu xa lắm, khe trong lối cũng gần).” Trong bài Cổ Thanh Lương Truyện Tự (古清涼傳序) của Cổ Thanh Lương Truyện (古清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2098) có đoạn: “Tử Phủ danh sơn, thất Phật sư thê chơn chi xứ, Thanh Lương Thánh cảnh, vạn Bồ Tát mai tích chi phương (紫府名山、七佛師棲眞之處、清涼聖境、萬菩薩晦跡之方, Tử Phủ núi thiêng, ấy chốn bảy Phật thầy tu chơn, cảnh Thánh Thanh Lương, là nơi vạn Bồ Tát ẩn tích).” Hay trong Thiên Như Duy Tắc Thiền Sư Ngữ Lục (天如惟則禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1403) quyển 5, bài Tặng Đệ Nhân Viễn Nhập Kinh (贈弟仁遠入京) có đoạn: “Bạch vân phong tại tịch dương biên, mục tống Ngô vân nhập Sở thiên, nhữ đáo Yến Sơn khước hồi thủ, tam thiên lí ngoại hựu tam thiên, cẩm bào hoa ánh phụng trì minh, ngọc bội quang diêu Tử Phủ thanh, phú quý trước nhân như túy mộng, ỷ môn từ mẫu nhãn trường tinh [tỉnh] (白雲峰在夕陽邊、目送吳雲入楚天、汝到燕山卻回首、三千里外又三千、錦袍花映鳳池明、玉珮光搖紫府青、富貴著人如醉夢、倚門慈母眼長醒, mây trắng đỉnh non bóng xế chiều, trời Sở mây Ngô tiễn bước theo, người đến Yến Sơn quay đầu lại, ngoài ba ngàn dặm lại thêm nhiều, cẩm bào hoa rực hồ phụng sáng, ngọc bội rạng soi Tử Phủ xanh, giàu sang bao kẻ mau tỉnh mộng, tựa song từ mẫu dõi mắt trông).”
- Hạc giá (鶴駕): cỗ xe hạc, cỡi hạc. Có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Căn cứ tác phẩm Liệt Tiên Truyện (列仙傳), phần Vương Tử Kiêu (王子喬) cho biết rằng xưa kia Vương Tử Kiêu, tức là Thái Tử Tấn của Chu Linh Vương (周靈王, ?-545 ttl) thường cỡi hạc trắng đậu trên đỉnh núi của họ Câu (緱). Cho nên, về sau người ta thường gọi xa giá của Thái Tử là hạc giá. Như trong bài thơ Văn Hoa Kỷ Sự (文華紀事) của Lý Đông Dương (李東陽, 1447-1516) nhà Minh có câu: “Hạc giá tạm đình đương điện ngọ, long nhan nhất cố mãn trì xuân (鶴駕暫停當殿午、龍顏一顧滿墀春, xe hạc tạm dừng trước điện cổng, mặt rồng ngoảnh lại đầy thềm xuân).” (2) Cỗ xe của tiên nhân. Như trong bài Lão Thị Bi (老氏碑) của Tiết Đạo Hành (薛道衡, 540-609) nhà Tùy có đoạn: “Luyện hình vật biểu, quyển tích phương ngoại, nghê thường hạc giá, vãng lai Tử Phủ (鍊形物表、卷跡方外、蜺裳鶴駕、往來紫府, rèn hình thành vật, cuộn dấu ngoài xa, nghê thường cỡi hạc, tới lui Tử Phủ).” (3) Cách gọi khác của cái chết, từ giã cõi đời, cỡi hạc mà đi (nghĩa trong bài). Như trong bài Trịnh Thái Tử Bi Minh (鄭太子碑銘) của Lô Chiếu Lân (盧照鄰, 632-695) nhà Đường có đoạn: “Nghê tinh dương Hán, do tầm hủ cốt chi linh; hạc giá đình không, thượng yết tiên nhân chi mộ (霓旌揚漢、猶尋朽骨之靈、鶴駕停空、尚謁先人之墓, cờ tiên dương khắp, để tìm cốt mục vong linh, xe hạc dừng không, tham yết người xưa lăng mộ).” Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược (五燈會元續略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1566) quyển 4 có đoạn: “Ngọc mai phá tuyết, hồng diệp điêu sương, thích quan gia trừ đạm chi thần, nãi hạc giá tiên du chi nhật (玉梅破雪、紅葉凋霜、適官家除禫之辰、迺鶴駕仙遊之日, mai ngọc phá tuyết, lá đỏ khắc sương, đúng nhà quan tang hết lúc nầy, là cỡi hạc về tiên ngày ấy).” Hay trong bài Du Kim Hoa Động Thiên (遊金華洞天) của Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục (虛堂和尚語錄, Taishō Vol. 47, No. 2000) quyển 7 có đoạn: “Sưu sưu nhai lựu tĩnh biên văn, đáo thử tiên phàm chỉ xích phân, hạc giá triều chơn hà nhật phản, động môn chung nhật tỏa hàn vân (颼颼崖溜靜邊聞、到此仙凡咫尺分、鶴駕朝眞何日返、洞門終日鎖寒雲, vù vù khe nước nghe lắng trầm, đến chốn tiên phàm cách mấy phân, cỡi hạc quy chơn ngày nao lại, cửa động suốt buổi ngút mây hàn).”
- Vân biền (雲騈): có hai nghĩa khác nhau. (1) Loại cỗ xe của tiên nhân trong truyền thuyết. Như trong bài Hoa Dương Tiên Sinh Đăng Lâu Bất Phục Hạ Tặng Trình (華陽先生登樓不復下贈呈) của Thẩm Ước (沉約, 441-513) của nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Vân biền bất triển địa, tiên cư đa lệ tiều (雲騈不展地、仙居多麗譙, xe mây chẳng chấm đất, cõi tiên nhiều lầu xinh).” Hay như trong bài tựa Dong Thành Tập Tiên Lục (墉城集仙錄) của Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) nhà Tiền Thục có đoạn: “Hoặc vi chân nhân chi hữu, hoặc vi Thiên Đế chi tân, thúc hốt nhi long giá lai nghênh, tham sai nhi vân biền hà mại (或爲眞人之友、或爲天帝之賓、倏忽而龍駕來迎、參差而雲騈遐邁, hoặc là bạn của chân nhân, hoặc là khách của Thiên Đế, bỗng chốc mà xe rồng đến đón, dần dần mà xe tiên xa tít).” (2) Mây lành tụ tập (nghĩa trong bài). Như trong Lễ Xá Lợi Tháp Nghi Thức (禮舍利塔儀式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1491) có câu: “Đại địa chúng sơn kỳ thắng xứ, Đỉnh Hồ tú xuất bảo liên phong, vân biền thọ vũ phù đồ hiện, vạn cổ thư quang phước Việt trung (大地眾山奇勝處、鼎湖秀出寶蓮峰、雲騈樹舞浮圖現、萬古舒光福粵中, đại địa núi non kỳ lạ chốn, Đỉnh Hồ xuất hiện báu non sen, mây vờn cây múa chùa tháp hiện, vạn cổ sáng ngời đất Việt trong).”
- Thụy ái, thụy ải (瑞靄): khí mây tốt lành, cũng dùng như là tiếng mỹ xưng của sương khói. Như trong bài từ Hoán Khê Sa (浣溪沙) của Triệu Trường Khanh (趙長卿, ?-?) nhà Tống có đoạn: “Kim thú phún hương thụy ái phân, dạ lương như thủy sái huân huân (金獸噴香瑞靄氛、夜涼如水酒醺醺, thú vàng nhã hương khí mây lành, đêm mát như nước rưới hân hoan).” Hay trong bài từ Mộc Lan Hoa Mạn (木蘭花慢) của Vương Uẩn (王惲, 1227-1304) nhà Nguyên lại có câu: “Hòa khí nhất gia thụy ái, từ nhan cửu thập nhu nghi (和氣一家瑞靄、慈顏九十柔儀, hòa khí một nhà tươi tốt, hiền từ chín chục uy nghi).” Lại trong bài Chủng Ngọc Ký (種玉記), phần Phong Công (封功) của Uông Đình Nột (汪廷訥, 1573-1619) nhà Thanh có câu: “Thụy ái mông lung, hương phiêu kim điện lô yên ủng (瑞靄朦朧、香飄金殿爐煙擁, khói sương mờ ảo, hương vờn điện báu lò khói nghi ngút).” Hay như trong bài Tán Hương “Tâm Nhiên Ngũ Phận (心然五分)” rất phổ biến trong Thiền môn có câu: “Tâm nhiên ngũ phận, phổ biến thập phương, hương yên đồng tử ngộ chơn thường, tỷ quán diệu nan lường, thụy ái tường quang, kham hiến pháp trung vương (心然五分、普遍十方、香煙童子悟眞常、鼻觀妙難量、瑞靄祥光、堪獻法中王, tâm đốt năm phần, biến khắp mười phương, khói hương đồng tử ngộ chơn thường, mũi quán mầu khó lường, sương khói hào quang, dâng cúng đấng pháp vương).” Trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1297) quyển 67 có đoạn: “Thụy ái tường yên tỏa ngọc lâu, diệu niên vương tử tứ ưu du, lưu ly điện thượng kỵ kim mã, minh nguyệt đường tiền cổn tú cầu (瑞靄祥煙鎖玉樓、妙年王子恣優遊、琉璃殿上騎金馬、明月堂前輥繡毬, sương khói mây lành quyện ngọc lầu, năm mới vương tử mặc ngao du, lưu ly trên điện cỡi vàng ngựa, trăng sáng trước nhà quay tú cầu).” Hay trong bài Nhất Động Sơn (一洞山) của Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư Ngữ Lục (雪峰義存禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1333) quyển Hạ cũng có đoạn: “Thiên hạ danh truyền đệ nhất sơn, sơn trung hữu động dị nhân hoàn, quỳnh chi dao thảo phương phi ngoại, thụy ái tường vân phiêu miểu gian, ngẫu kiến kim liên tùng địa dũng, thúc khan bạch hạc tự thiên hoàn (天下名傳第一山、山中有洞異人寰、璚芝瑤草芳菲外、瑞靄祥雲縹緲間、偶見金蓮從地湧、倏看白鶴自天還, thiên hạ nổi tiếng số một non, núi trong có động người lạ sống, cành son lá ngọc thơm xinh ngát, sương khói mây lành mù mịt trong, chợt thấy sen vàng từ đất vọt, thoáng nhìn hạc trắng bay trở về).”
- Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經): còn gọi là Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh (地藏本願經), Địa Tạng Bổn Hạnh Kinh (地藏本行經), Địa Tạng Bổn Thệ Lực Kinh (地藏本誓力經); gọi tắt là Địa Tạng Kinh (地藏經). Đây là kinh điển quan trọng tán dương nguyện lực cao cả, vĩ đại của Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏) như có đề cập trong kinh là: “Địa Ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề (地獄未空誓不成佛、眾生度盡方證菩提, Địa Ngục chưa hết thề không thành Phật, chúng sanh độ sạch mới chứng Bồ Đề).” Kinh được thâu lục vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新脩大藏經, Taishō Vol. 13, No. 412). Do vì nguyên lưu của kinh không được rõ ràng, sau khi được thâu lục vào Đại Tạng Kinh dưới thời nhà Minh (明, 1368-1662), học giả Phật Giáo hoài nghi rằng có bộ phận của kinh không phải do được truyền nhập từ Ấn Độ vào, mà do chế tác tại Trung Quốc. Về dịch giả, phần đầu kinh có ghi là “Đường Vu Điền Quốc Tam Tạng Sa Môn Thật Xoa Nan Đà dịch (唐于闐國三藏沙門實叉難陀譯, Tam Tạng Sa Môn Thật Xoa Nan Đà [s: Śikṣānanda, 529-645, tức Giới Hiền] của nước Vu Điền nhà Đường dịch).” Nhưng bản nhà Minh thì lại ghi là Pháp Đăng (法燈), Pháp Cự (法炬) dịch. Trên thực tế, dịch giả và niên đại dịch kinh nầy vẫn chưa xác định rõ. Như trong Khai Nguyên Thích Giáo Lục (開元釋敎錄, Taishō Vol. 55, No. 2154) do Trí Thăng (智昇) của Sùng Phước Tự (崇福寺) nhà Đường, cũng như Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) do Sa Môn Viên Chiếu (圓照) ở Tây Minh Tự (西明寺), Tây Kinh (西京) biên soạn, cho biết rằng Thật Xoa Nan Đà dịch được 19 bộ kinh điển, nhưng lại không thấy đề cập đến bộ kinh Địa Tạng nầy. Đại sư Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615) nhà Minh lại y cứ vào lời Bạt đầu kinh mà cho là Thật Xoa Nan Đà dịch. Tuy nhiên, đại đa số các bản lưu thông thời nhà Minh lại ghi là do Pháp Đăng và Pháp Cự dịch. Trong khi đó, hai nhân vật nầy không rõ thuộc thời đại nào. Tại Việt Nam, bản thông dụng do Hòa Thượng Thích Trí Tịnh Việt dịch cũng căn cứ vào bản Hán dịch của Pháp sư Pháp Đăng. Kinh nầy được đề cập đến đầu tiên trong Địa Tạng Bồ Tát Linh Nghiệm Ký (地藏菩薩靈驗記), tác phẩm được thâu tập vào khoảng niên hiệu Đoan Củng (端拱, 988-989) nhà Bắc Tống. Bản nầy có trích dẫn nội dung của Phẩm Phân Thân Công Đức (分身功德品) và cho biết rằng Phạn bản của kinh đươc Sa môn Trí Hựu (知祐) của Tây Ấn Độ mang đến Thanh Thái Tự (清泰寺), Trung Quốc vào khoảng niên hiệu Thiên Phước (天福, 936-948) của vua Cao Tổ Thạch Kính Đường (高祖石敬瑭, tại vị 936-942) nhà Hậu Tấn, thời Ngũ Đại. Ngoài ra, tác phẩm Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục (三寶感應要略錄) do Thích Phi Trọc (釋非濁) thâu lục, cũng có đề cập đến nội dung của Phẩm Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông (忉利天宮神通品), từ đó mới biết được rằng kinh nầy đã được lưu hành dưới thời Bắc Tống. Gần đây, tại Tây Hạ, người ta có phát hiện bản văn tiếng Tây Hạ của Địa Tạng Kinh Tàn Bản, và đây cũng là chứng cứ cho biết rằng trước thời nhà Tống, Kinh Địa Tạng đã được truyền vào Nhật Bản rồi. Về nội dung, kinh được hình thành bởi 13 phẩm chính: (1) Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông Phẩm (忉利天宮神通品), (2) Phân Thân Tập Hội Phẩm (分身集會品), (3) Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên Phẩm (觀眾生業緣品), (4) Diêm Phù Chúng Sanh Nghiệp Cảm Phẩm (閻浮眾生業感品), (5) Địa Ngục Danh Hiệu Phẩm (地獄名號品), (6) Như Lai Tán Thán Phẩm (如來讚歎品), (7) Lợi Ích Tồn Vong Phẩm (利益存亡品), (8) Diêm La Vương Chúng Tán Thán Phẩm (閻羅王眾讚歎品), (9) Xưng Phật Danh Hiệu Phẩm (稱佛名號品), (10) Giảo Lượng Bố Thí Công Đức Duyên Phẩm (校量布施功德緣品), (11) Địa Thần Hộ Pháp Phẩm (地神護法品), (12) Kiến Văn Lợi Ích Phẩm (見聞利益品) và (13) Chúc Lụy Nhân Thiên Phẩm (囑累人天品). Các bản chú giải liên quan đến kinh có Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Khoa Văn (地藏本願經科文, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 382), 1 quyển, của Tần Khê Thanh Liên Đại Sư (秦谿青蓮大師); Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú (地藏本願經科註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 384), 6 quyển, của Thanh Liên Bí Sô Linh Thừa (青蓮苾芻靈乘) ở Cổ Diêm Khuông Am (古鹽匡菴); Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Luân Quán (地藏本願經綸貫, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 383), 1 quyển, cũng do Thanh Liên Bí Sô Linh Thừa soạn, v.v. Đối với tín ngưỡng dân gian, Kinh Địa Tạng đóng vai trò quan trọng trong việc cầu siêu độ cho những vong linh thân nhân quá vãng. Cho nên, tại Việt Nam, vào các dịp Lễ Vu Lan, Lễ Chung Thất Trai Tuần, Lễ Húy Nhật, Đại Trai Đàn Chẩn Tế, v.v., kinh nầy được trì tụng rất phổ biến.
- Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp (慈悲三昧水懺法): hay còn gọi là Từ Bi Thủy Sám Pháp (慈悲水懺法, Taishō No. 1910), 3 quyển, do Tri Huyền (知玄, 811-883) nhà Đường trước thuật, là bộ sách chỉ về phương pháp sám hối, hình thành từ bản Viên Giác Kinh Tu Chứng Nghi (圓覺經修證儀) của Tông Mật (宗密, 780-841), được thâu lục vào trong Taishō quyển 45. Dưới thời vua Ý Tông (懿宗, tại vị 859-873) nhà Đường, quốc sư Ngộ Đạt Tri Huyền có mụt nhọt mặt người trên đầu gối, khuôn mặt ấy có đầy đủ lông mày, mắt, miệng, răng; cứ mỗi lần ăn uống thì cũng đút cho ăn, nó hả miệng nhai nuốt chẳng khác chi người thường cả. Tuy Ngộ Đạt có mời danh y đến chữa nhưng vô hiệu. Sau nhờ có tôn giả Ca Nặc Ca (迦諾迦) giúp đỡ, ông thành tâm sám hối và dùng nước Tam Muội rửa mụt nhọt ấy, mụt mới lành. Nhân đó quốc sư bèn viết ra sách nầy để cho người đời sau nương đó mà sám hối. Hình thức của sách nầy cũng giống như các sách sám hối khác, trước hết đối trước chư Phật và Bồ Tát quy y, sau đọc văn sám hối, sám hối đối với hết thảy các phiền não chướng cũng như nghiệp chướng và báo chướng của Bốn Loài, Sáu Đường. Cuối cùng là văn hồi hướng phát nguyện. Nếu chúng sanh nào nương vào phương pháp sám hối nầy mà chí thành sám hối tội lỗi của mình, có thể làm cho tiêu tan những oan nghiệp trong đời trước. Cho nên phương pháp nầy được thịnh hành mãi cho đến ngày nay dưới tên gọi là Thủy Sám. Tại Việt Nam, hình thức nầy cũng được ứng dụng rộng rãi trong Thiền môn cũng như tầng lớp tại gia cư sĩ. Trong Từ Bi Thủy Sám Pháp có giải thích rằng: “Phù Tam Muội Thủy Sám giả, nhân Đường Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền, ngộ Ca Nặc Ca Tôn Giả, dĩ Tam Muội thủy vi trạc tích thế oán cừu, Tri Huyền toại diễn Đại Giác chi chỉ, thuật vi sám văn (夫三昧水懺者、因唐悟達國師知玄、遇迦諾迦尊者、以三昧水爲濯積世怨讎、知玄遂演大覺之旨、述爲懺文, phàm Tam Muội Thủy Sám là nhân vì Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền nhà Đường, gặp Tôn Giả Ca Nặc Ca, lấy nước Tam Muội để rửa sạch các oán thù tích chứa xưa kia; Tri Huyền bèn diễn bày ý chỉ của đấng Đại Giác, thuật lại thành văn sám hối).” Bản chú giải về sám pháp nầy có Từ Bi Đạo Tràng Thủy Sám Pháp Khoa Chú (慈悲道塲水懺法科註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1496), 3 quyển, của Long Trú (龍住); Từ Bi Đạo Tràng Thủy Sám Pháp Tùy Văn Lục (慈悲道塲水懺法隨聞錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1495), 3 quyển, của Trí Chứng (智證). Tại Việt Nam, có một số bản Việt dịch hiện hành, trong đó bản của Hòa Thượng Thích Trí Quang được xem như văn từ sâu sắc, khúc chiết, chính xác.
- Khai tịch (開闢): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Chỉ sự khai thỉ của vũ trụ. Thần thoại cổ đại cho rằng Bàn Cổ (盤古) là người khai thiên lập địa. Thái Bình Ngự Lãm (太平御覽) quyển 1 dẫn về Thượng Thư Trung Hầu (尚書中候), có câu: “Thiên địa khai tịch (天地開闢, trời đất khai mở).” Hay trong bài thơ Trung Đường Mai Lâm Thiên Hạ Chi Thạnh Dã Liêu Thân Bỉ Thuật Khải Hảo Du Giả (中塘梅林天下之盛也聊伸鄙述啟好遊者) của Diệp Thích (葉適, 1150-1223) nhà Nam Tống có câu: “Vấn thùy thỉ chủng thử, khởi tự khai tịch sơ (問誰始種此、豈自開闢初, hỏi ai trồng loại nầy, ngay từ buổi ban sơ).” (2) Khai phát, khai quật. Như trong Thi Kinh, chương Đại Nhã (大雅), phần Giang Hán (江漢) có câu: “Thức tịch tứ phương (式闢四方).” Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) nhà Hán giải thích rằng: “Mạng Chiêu Công sử dĩ vương pháp chinh phạt khai tịch tứ phương, trị ngã cương giới ư thiên hạ (命召公使以王法征伐開闢四方、治我疆界於天下, lệnh cho Chiêu Công lấy vương pháp mà chinh phạt và khai khẩn bốn phương, thống trị cương giới của ta khắp thiên hạ).” Hay như trong Thạnh Thế Nguy Ngôn (盛世危言), phần Công Pháp (公法) của Trịnh Quán Ứng (鄭觀應, 1842-1923) có đoạn: “Trung Quốc vị Ngũ Châu quan miện, khai tịch tối tiên (中國爲五洲冠冕、開闢最先, Trung Quốc vì quan lại của năm châu, việc khai khẩn được xem là đầu tiên hết).” (3) Khai sáng, sáng lập. Như trong Ngũ Tổng Chí (五總志) của Ngô Quýnh (吳炯, ?-?) nhà Tống có đoạn: “[Hoàng Đình Kiên] chí trung niên dĩ hậu, cú luật siêu diệu nhập thần, ư thi nhân hữu khai tịch chi công ([黃庭堅]至中年以後、句律超妙入神、於詩人有開闢之功, [thi sĩ Hoàng Đình Kiên, 1045-1105] từ thời trung niên trở về sau, câu và luật thơ siêu phàm, nhập thần, có công khai sáng đối với thi nhân).” Trong Tiên Giác Tập (先覺集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1619) có đoạn: “Nhất cơ nhất cảnh, nhất thoại nhất ngôn, khả dĩ khai tịch nhân thiên chánh nhãn, hiển dương Nho Phật tâm tông, Tiên Giác Tập chi sở do trước dã (一機一境、一話一言、可以開闢人天正眼、顯揚儒佛心宗、先覺集之所由著也, một cơ duyên một cảnh ngộ, một câu chuyện một lời nói, có thể khai sáng con mắt chân chánh của trời người, hiển dương tâm tông của Nho Phật, đó là nguyên do trước tác Tiên Giác Tập vậy).” Trong Chân Chánh Luận (甄正論, Taishō Vol. 52, No. 2112) quyển Trung có đoạn khác như: “Thiên địa khai tịch chi sơ, vạn vật trước hình chi thỉ, ngôn đạo sinh nguyên khí, nguyên khí sinh thiên địa, thiên địa sinh nhân cập âm dương, âm dương sinh vạn vật, thử nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật dã (天地開闢之初、萬物著形之始、言道生元氣、元氣生天地、天地生人及陰陽、陰陽生萬物、此一生二、二生三、三生萬物也, buổi ban sơ khi trời đất mới khai mở, lúc đầu tiên khi muôn vật thành hình, người ta bảo rằng đạo sinh ra nguyên khí, nguyên khí sinh ra trời đất, trời đất sinh ra con người và âm dương, âm dương sinh ra muôn vật, một nầy sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra muôn vật vậy).”
- Lục Cúng (六供): Theo Đinh Phúc Bảo Phật Học Đại Từ Điển (丁福保佛學大詞典), căn cứ vào Tăng Đường Thanh Quy (僧堂清規) quyển 3 do Thụy Phương Diện Sơn (瑞方面山) của Nhật Bản soạn, Lục Cúng là 6 phẩm vật dâng cúng lên chư Phật của Thiền lâm; gồm (1) hoa (華), (2) hương lô (香爐, lò hương), (3) chúc (燭, đèn nến), (4) thang (湯, nước nóng), (5) quả (果) và (6) trà (茶). Đối với Mật Tông, Lục Cúng cũng là pháp tu cúng dường căn bản, gồm (1) hoa (花), (2) linh (鈴), (3) thiêu hương (燒香, hương đốt), (4) phạn thực (飯食, thức ăn), (5) đồ hương (塗香, hương xoa), và (6) đăng minh (燈明, đèn). Sáu vật cúng nầy tượng trưng cho Sáu Trần là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp. Sáu vật nầy còn biểu tượng cho Lục Độ (s: ṣaḍ-pāramitā, ṣaḍ-pāramitā, 六度), tức Lục Độ Ba La Mật (六度波羅蜜), gồm Bố Thí Ba La Mật (s, p: dāna-pāramitā, 布施波羅蜜), Trì Giới Ba La Mật (s: śīla-pāramitā, p: sīla-pāramitā, 持戒波羅蜜), Nhẫn Nhục Ba La Mật (s: kṣānti-pāramitā, p: khantī-pāramitā, 忍辱波羅蜜), Tinh Tấn Ba La Mật (s: vīrya-pāramitā, p: virya-pāramitā, 精進波羅蜜), Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜) và Trí Tuệ Ba La Mật (s: prajñā-pāramitā, p: paññā-pāramitā, 智慧波羅蜜). Theo bài tán “Nhân duyên tự tánh sở xuất sanh, sở hữu chủng chủng vi diệu, hoa hương đăng đồ quả nhạc, phụng hiến Thượng Sư Tam Bảo tôn, duy nguyện từ bi ai nạp thọ(因緣自性所出生、所有種種微妙、華香燈塗果樂、上獻上師三寶尊、惟願慈悲納受, nhân duyên tự tánh vốn sanh ra, vốn có các thứ mầu nhiệm, hoa hương đèn dầu quả nhạc, dâng cúng Thượng Sư Tam Bảo trên, cúi xin từ bi thương thọ nhận)” vốn thường được dùng trong các buổi lễ Cúng Ngọ hay trong đàn Lục Cúng Hoa Đăng (六供華燈), được tìm thấy trong Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽集要施食儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1080), Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển Hạ, Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Hạ, v.v.; Lục Cúng ở đây là hoa, hương, đèn, dầu, quả và âm nhạc. Như vậy, cho dầu định nghĩa về Lục Cúng có khác nhau đi chăng nữa, một số vật dâng cúng quan trọng không thể thiếu được như hoa quả, thức ăn, nước uống, đèn, hương, v.v. Như Mật Giáo giải thích về ý nghĩa và tầm quan trọng của 5 loại vật dâng cúng như sau: (1) Hoa là tâm của chư Phật; khi hoa khai mở thì tượng trưng cho vạn đức mật vận (萬德密運, muôn đức âm thầm chuyển vận), là công đức viên mãn của chư Phật. Lấy hoa dâng cúng chư Phật tức là làm cho trang nghiêm tâm của chính mình. (2) Hương là một loại thể giới tánh. Dùng hương dâng cúng các đấng Như Lai có nghĩa là trang nghiêm Giới Thể (戒體) của chính mình. Sự trang nghiêm của ngoại tướng kết hợp với sự trang nghiêm của nội tướng, hợp nhất thành trang nghiêm Năm Phần Pháp Thân. (3) Đèn là ánh sáng chiếu soi của chư Phật, tức chính là trí tuệ nội tâm. Lấy hết thảy ánh sáng mà dâng cúng lên các đấng Như Lai thì sẽ được ánh sáng chiếu rọi khắp, ánh sáng cùng giao nhau, chiếu tận đến bờ bên kia của trí tuệ và hiển hiện công đức trang nghiêm của trí tuệ nội tâm. (4) Trà bản nguyên là loại nước thanh tịnh, biểu thị cho Pháp Tánh (法性). Lấy trà dâng cúng Phật, tức là mười phương các đức Như Lai ứng hóa vào thân ta, dùng loại “nước thanh tịnh của Pháp Tánh” để trước rửa sạch khí bất tịnh của tự thân, biến thành Pháp Tánh Thân (法性身), Vô Cấu Thân (無垢身, thân không dơ bẩn) và trở thành trang nghiêm Pháp Tánh. (5) Quả tượng trưng cho thức ăn, lấy sự viên mãn to lớn của thức ăn vi diệu biểu thị cho một loại viên thành. Loại Thiền ý có vị thù thắng như vậy, có nghĩa lý vô cùng thâm sâu; cho nên dâng cúng thức ăn và quy y chư Phật thì sẽ có được thiện quả, tượng trưng cho sự viên thành pháp vị. Đó là một loại “quả công đức trang nghiêm nội tâm.” Trong Niệm Tụng Kết Hộ Pháp Phổ Thông Chư Bộ (念誦結護法普通諸部, Taishō Vol. 18, No. 904) có nêu một số câu thần chú khi dâng cúng các phẩm vật. Như Chơn Ngôn dùng cho hương đốt là: “Án bạt chiết la đỗ bệ a (唵跋折羅杜鞞阿).” Chơn Ngôn dùng cho rãi hoa là: “Án bạt chiết la bổ sắt bệ án (唵跋折羅補瑟鞞唵).” Chơn Ngôn dâng cúng đèn là: “Án bạt chiết la lô kế nễ (唵跋折羅盧計你).” Chơn Ngôn cho hương xoa là: “Án bạt chiết la kiền đề già (唵跋折羅犍提伽).” Trong Thánh Hạ Dã Hột Lí Phược Đại Uy Nỗ Vương Lập Thành Đại Thần Nghiệm Cúng Dường Niệm Tụng Nghi Quỹ Pháp Phẩm (聖賀野紇哩縛大威怒王立成大神驗供養念誦儀軌法品, Taishō Vol. 20, No. 1072A) có đoạn rằng: “Mỗi nhật thủ chủng chủng thời hoa tán đàn thượng, thiêu hương đồ hương đăng minh ẩm thực cập quả tử, gia trì phân bố tứ biên cúng dường, tùy lực sở biện trần thiết trang nghiêm, mỗi nhập đạo tràng kiền thành tác lễ, phát lộ sám hối tùy hỷ khuyến thỉnh hồi hướng phát nguyện (每日取種種時花散壇上、燒香塗香燈明飲食及果子、加持分布四邊供養、隨力所辦陳設莊嚴、每入道塲虔誠作禮、發露懺悔隨喜勸請迴向發願, mỗi ngày lấy các thứ hoa hiện thời rải trên đàn, hương đốt, hương xoa, đèn sáng, thức ăn uống và bánh kẹo, gia trì phân chia bốn phía cúng dường, tùy sức bày biện, thiết trí trang nghiêm, mỗi khi vào đạo tràng thì chí thành đảnh lễ, phát lộ sám hối, tùy hỷ cung thỉnh, hồi hướng và phát nguyện).” Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 4 có nêu rõ 6 loại điệp cho Lục Cúng là: “Lục cúng điệp, hương nhất, hoa nhất, quả nhất, đồ nhất, tiểu thực nhất, pháp bảo nhất (六供牒、香一、華一、果一、塗一、小食一、法寶一, sáu loại điệp dâng cúng gồm hương một tờ, hoa một tờ, quả một tờ, đồ thoa một tờ, thức ăn một tờ, pháp bảo một tờ).” Trong Ư Mật Sấm Thí Thực Chỉ Khái (於密滲施食旨槩, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1082) lại có đoạn rằng: “Nhiên chư Phật tức ngã Hóa Thân, cố Quan Âm, phóng quang dĩ thỉnh chư Phật dã, Phật chí tắc thân Lục Cúng dĩ cúng dường chi, thử Phổ Hiền hạnh dã (然諸佛卽我化身、故觀音、放光以請諸佛也、佛至則伸六供以供養之、此普賢行也, như vậy chư Phật là Hóa Thân của ta, cho nên đức Quan Âm phóng hào quang để thỉnh chư Phật; khi Phật đến thì bày sáu món cúng mà cúng dường Ngài, đây là hạnh của đức Phổ Hiền).” Đàn Lục Cúng trong lòng văn Sớ nêu trên là Lục Cúng Hoa Đăng (六供華燈), một trong bộ ba của nghi thức Chạy Đàn: Lục Cúng, Khai Tịch và Bạt Độ (hay Chẩn Tế). Múa Lục Cúng Hoa Đăng là một điệu múa cổ xưa của Phật Giáo do các vị sư Ấn Độ truyền vào Việt Nam. Sau khi du nhập vào xứ Đàng Trong tại Thuận Hóa-Phú Xuân, được các vị Tổ sư trong chốn Thiền môn xứ Huế tiếp thu và phát triển lên đến đỉnh cao nghệ thuật, điệu múa Lục Cúng Hoa Đăng từ đó trở thành là một loại hình âm nhạc đặc thù của Phật Giáo xứ Huế. Điệu múa nầy được diễn múa theo sáu lần dâng cúng; tương ứng với mỗi lần cúng là một lễ vật cúng dường lên đức Phật gồm: hoa, hương, đèn, trà, quả, nhạc. Vì vậy môi trường diễn xướng của điệu múa này luôn được trình diễn trong những hoàn cảnh đặc biệt như lễ An Vị Phật, lễ Lạc Thành Chùa hay lễ hội, vía Phật. Hình thức này cũng được thể hiện với ý nghĩa nguyện cầu cho những người đã khuất giải thoát oan khiên trong các trai đàn Chẩn Tế, Giải Oan Bạt Độ, v.v. Do đó, điệu múa Lục Cúng Hoa Đăng tồn tại với thời gian theo sự phát triển của văn hóa Phật Giáo Việt Nam. Đến thời vua Minh Mạng (1820-1840), Lục Cúng Hoa Đăng đã được tiếp thu và cải biên thành một loại hình âm nhạc cung đình, trở thành một điệu múa đặc sắc được lưu truyền cho đến ngày nay. Trong quá trình tiến hành Lục Cúng Hoa Đăng, có một số bài tán theo các điệu tán cổ xưa trong kho tàng âm nhạc Phật Giáo như tán trạo, tán rơi, tán xấp và có cả Thài—một điệu tán rất cổ xưa—để dâng cúng trong nghi lễ cúng Phật cũng như chư Tổ, như bài Nhân Duyên ở trên, hay bài La Liệt (羅列) được đề cập trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển Hạ: “La liệt hương hoa kiến bảo đàn, trùng trùng Phật cảnh nhất hào đoan, tâm dung diệu lí hư không tiểu, đạo khế chơn như pháp giới khoan, tướng hảo từ bi thu nguyệt mãn, hóa thân đằng xứ mộ vân phiền, hương yên đôi lí chiêm ứng hiện, vạn tượng sum la hải ấn hàm (羅列香花建寶壇、重重佛境一毫端、心融妙理虛空小、道契眞如法界寬、相好慈悲秋月滿、化身騰處暮雲繁、香煙堆裏瞻應現、萬象森羅海印含, la liệt hương hoa lập báu đàn, hàng hàng cảnh Phật sợi lông bằng, tâm thâu lí mầu hư không nhỏ, đạo hợp chơn như pháp giới tròn, tướng tốt từ bi trăng thu rọi, hóa thân khắp chốn mây chiều tan, trong làn mây khói chư Phật hiện, vạn pháp bao la biển trí hàm).” Hoặc bài Phật [Phù] Diện (佛面) được tìm thấy trong Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽集要施食儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1080), Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển Thượng, Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Thượng, v.v.: “Phật diện do như tịnh mãn nguyệt, diệc như thiên nhật phóng quang minh, viên quang phổ chiếu ư thập phương, hỷ xả từ bi giai cụ túc (佛面猶如淨滿月、亦如千日放光明、圓光普照於十方、喜捨慈悲皆具足, mặt Phật giống như trăng tròn lắng, cũng như ngàn trời tỏa hào quang, ánh sáng chiếu khắp cõi mười phương, hỷ xả từ bi thảy đầy đủ)”, v.v.
- Phóng sanh (放生): Phóng Sanh là một hành vi có tâm thương yêu, nhân từ, biết thông cảm cho nỗi khổ bị giam cầm, bắt bớ của các loài động vật; có nghĩa là nhìn thấy các loại chúng sinh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại, kinh hoàng lúng túng, mạng sống trong phút giây nguy ngập, liền phát lòng từ bi tìm cách cứu chuộc. Như vậy tức là hành vi giải thoát, phóng thích, cứu lấy mạng sống của sinh vật khác. Nguyên lai, Trung Quốc đã có quan niệm truyền thống cho rằng Trời có đức háo sinh (muốn sống, ham sống). Lập cước trên tinh thần từ bi, cứu nhân độ thế, Phật Giáo lại càng nêu cao và tôn trọng tinh thần Phóng Sanh. Trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 13 có nhấn mạnh rằng: “Chư dư tội trung, sát tội tối trọng; chư công đức trung, bất sát đệ nhất (諸餘罪中、殺罪最重、諸功德中、不殺第一, trong các tội lỗi, tội giết là nặng nhất; trong các công đức, không giết là số một).” Cho nên, không sát sanh cũng như Phóng Sanh là phương pháp hữu hiệu để nuôi dưỡng và làm tăng trưởng tâm từ bi. Phạm Võng Kinh (梵網經, Taishō Vol. 24, No. 1484) quyển 2 nhấn mạnh rằng: “Nhược Phật tử, dĩ từ tâm cố hành phóng sanh nghiệp, nhất thiết nam tử thị ngã phụ, nhất thiết nữ nhân thị ngã mẫu; ngã sanh sanh vô bất tùng chi thọ sanh; cố Lục Đạo chúng sanh giai thị ngã phụ mẫu, nhi sát nhi thực giả, tức sát ngã phụ mẫu diệc sát ngã cố thân; nhất thiết địa thủy thị ngã tiên thân, nhất thiết hỏa phong thị ngã bản thể; cố thường hành phóng sanh, sanh sanh thọ sanh thường trú chi pháp, giáo nhân phóng sanh; nhược kiến thế nhân sát súc sanh thời, ưng phương tiện cứu hộ giải kỳ khổ nạn (若佛子、以慈心故行放生業、一切男子是我父、一切女人是我母、我生生無不從之受生、故六道眾生皆是我父母、而殺而食者、卽殺我父母亦殺我故身、一切地水是我先身、一切火風是我本體、故常行放生、生生受生常住之法、敎人放生、若見世人殺畜生時、應方便救護解其苦難, nếu Phật tử, vì lấy từ tâm mà thực hành nghiệp phóng sanh, hết thảy người nam là cha ta, hết thảy người nữ là mẹ ta; ta đời đời không theo đó mà thọ sanh; cho nên sáu đường chúng sanh đều là cha mẹ của ta; nếu giết nếu ăn thịt họ, tức là giết cha mẹ ta cũng như giết thân trước kia của ta; hết thảy đất nước là thân trước kia của ta, hết thảy gió lửa là bản thể của ta; cho nên thường thực hành phóng sanh, đời đời thọ sanh pháp thường trú, chỉ cho người phóng sanh; nếu khi thấy người đời giết sinh vật nuôi, nên phương tiện cứu giúp để giải mở khổ nạn của con vật ấy).” Đại Thừa Đại Tập Đia Tạng Thập Luân Kinh (大乘大集地藏十輪經, Taishō Vol. 13, No. 411) có nêu một số công đức của việc Phóng Sanh như: (1) Được sống lâu, (2) Tâm từ bi tự nhiên sanh khởi, (3) Chư thiện thần là bạn, (4) Các động vật đều nhận là thân thuộc, (5) Có vô lượng công đức, (6) Mọi người cung kính, (7) Không bệnh hoạn, không nguy hại, (8) Vui vẻ và mãi được hạnh phúc, (9) Đời đời kiếp kiếp thường kính tin công hạnh của chư Phật, (10) Không rời Tam Bảo, (11) Cuối cùng chứng quả vô thượng Bồ Đề, (12) Vãng sanh về cõi Tịnh Độ. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục Tục Biên (淨土聖賢錄續編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1550) quyển 4, phần Vãng Sanh Nữ Nhân Đệ Lục (往生女人第六) có kể câu chuyện Điền Bà (田婆): “Điền Bà, Thái Châu dã điền trang nhân, phu phụ câu tín Tam Bảo, tạo tượng phóng sanh, trai tăng bố thí; kỳ phu nhật tụng Pháp Hoa Kinh, bà độc niệm Phật, như thị nhị thập dư niên (田婆、泰州野田莊人、夫婦俱信三寶、造像放生、齋僧布施、其夫日誦法華經、婆獨念佛、如是二十餘年, Điền Bà, người nhà nông quê ở Thái Châu, cả chồng vợ đều tin vào Tam Bảo, làm tượng, phóng sanh, trai tăng và bố thí; chồng bà hằng ngày tụng Kinh Pháp Hoa, riêng bà chỉ có niệm Phật, như vậy hơn hai mươi năm).” Hay như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 16, Truyện Nhan Thanh Thần Vi Thành Võ (顏清臣韋城武傳) có đoạn: “Thời Túc Tông chiếu thiên hạ lập Phóng Sanh Trì, Thanh Thần vi lập bi, ca tụng chúa đức, trợ tuyên Phật hóa (時肅宗詔天下立放生池、清臣爲立碑、歌誦主德、助宣佛化, lúc bấy giờ vua Túc Tông [tại vị 756-762] nhà Đường hạ chiếu khắp thiên hạ cho lập Hồ Phóng Sanh, Nhan Thanh Thần vì vậy lập bia, ca tụng đức của nhà vua, giúp tuyên diễn Phật pháp).” Trong Tịnh Độ Tư Lượng Toàn Tập (淨土資糧全集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 4 có đề cập câu chuyện nhờ thực hành hạnh phóng sanh mà sau khi chết được sanh lên cõi Trời: “Trương Đề Hình thường nghệ đồ gia dĩ tiền thục vật phóng chi; hậu lâm chung, ngữ gia nhân vân, ngô dĩ phóng sanh cố, Thiên Cung lai nghênh, đương thượng sanh hĩ, an nhiên nhi thệ (張提刑常詣屠家以錢贖物放之、後臨終、語家人云、吾以放生故、天宮來迎、當上生矣、安然而逝, Trương Đề Hình thường đến nhà đồ tể lấy tiền mua chuộc con vật rồi thả chúng đi; về sau khi lâm chung, ông bảo với người nhà rằng ta nhờ có phóng sanh, nên cung Trời đến đón đi, sẽ sanh lên cõi trên, rồi an nhiên mà ra đi).”
- Hồng danh (鴻名): tên to lớn, vĩ đại, trọng thể; hay danh hiệu linh thiêng. Như trong Khai Nguyên Nguyên Niên Xá Thư (開元元年赦書) của Tô Đĩnh (蘇頲, 670-727) nhà Đường có câu: “Hồng danh bất khả dĩ thâm cự, thạnh điển bất khả dĩ cố vi (鴻名不可以深拒、盛典不可以固違, tên vĩ đại không thể nào chối từ, lễ trọng thể không thể nào sai phạm).” Hay trong bài Hao Lí Khúc (蒿里曲) của Tôn Chi Úy (孫枝蔚, 1620-1687) nhà Thanh có câu: “Thiên tử hữu đạo trọng nhân mạng, hồng danh hách hách thùy vô cùng (天子有道重人命、鴻名赫赫垂無窮, thiên tử có đạo xem trọng mạng người, tiếng tăm lừng lẫy mãi không cùng).” Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục Tục Biên (淨土聖賢錄續編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1550) quyển 3 có đoạn: “Phật duyên hạnh ngộ thức hồng danh, hỏa cấp Tây quy thử nhất sanh, bất hướng thử sanh bính lực khứ, bào thai tái nhập đọa vô minh (佛緣幸遇識鴻名、火急西歸此一生、不向此生拼力去、胞胎再入墮無明, duyên Phật may gặp biết hồng danh, gấp rút về Tây một kiếp nhanh, chẳng để một đời phí uổng sức, bào thai đọa nữa mãi vô minh).” Hay trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Luân Quán (地藏本願經綸貫, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 383) lại có câu rằng: “Kim phù chư Phật danh hiệu, danh thật giai chơn; cố tài cử hồng danh, vạn đức toàn bị, nhất xưng gia hiệu, chúng tội tề tiêu (今夫諸佛名號、名實皆眞、故纔舉鴻名、萬德全備、一稱嘉號、眾罪齊消, nay phàm danh hiệu của chư Phật, tên gọi chân thật; cho nên vừa mới xướng hồng danh thì muôn đức có đủ, xưng một thánh hiệu, các tội đều tiêu).”
- Tòa hạ (座下): có ba nghĩa chính. (1) Từ kính xưng đối với bậc tôn đức. Như trong tác phẩm Học Lâm (學林), chương Trẫm (朕), của Vương Quán Quốc (王觀國, ?-?) nhà Tống, giải thích rằng: “Xưng tôn giả vi tòa hạ, kỷ hạ, tịch hạ, các hạ (稱尊者爲座下、几下、席下、閣下, gọi các bậc tôn kính là tòa hạ, kỷ hạ, tịch hạ, các hạ).” (2) Dưới giảng tòa. Như trong bài thơ Hoa Sơn Nữ (華山女) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có câu: “Hoàng y Đạo sĩ diệc giảng thuyết, tòa hạ liêu lạc như minh tinh (黃衣道士亦講說、座下寥落如明星, Đạo sĩ áo vàng cũng giảng thuyết, dưới tòa vắng vẻ như sao sáng).” (3) Dưới tòa hoa sen, mượn chỉ chư Phật, Bồ Tát. Như trong tác phẩm Nại Hà Thiên (奈何天), phần Giảo Thoát (狡脫), của Lý Ngư (李漁, 1611-1680) nhà Thanh, có đoạn: “Tình nguyện quy y tòa hạ, cố cá truyền kinh thính pháp chi nhân (情願皈依座下、做個傳經聽法之人, tình nguyện quy y dưới tòa, tự làm người truyền kinh điển và nghe pháp).”
- Tam Thừa (s: yāna-traya, tri-yāna, 三乘): ba cỗ xe. Cỗ xe là ví dụ cho giáo lý dẫn dắt chúng sanh đi đến giác ngộ; có Nhất Thừa (一乘) cho đến Ngũ Thừa (五乘); đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sanh là chậm chạp, trung bình, lanh lợi mà chế ra 3 loại pháp môn khác nhau gọi là Tam Thừa. (1) Thanh Văn Thừa (s: śrāvaka-yāna, 聲聞乘), còn gọi là Tiểu Thừa (小乘); nếu nhanh thì trong 3 đời, chậm thì trong vòng 60 kiếp, tu pháp Không, cuối cùng đến đời nầy nghe giáo pháp của đức Như Lai, ngộ lý Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), chứng quả A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢). (2) Duyên Giác Thừa (s: pratyeka-buddha-yāna, 緣覺乘), còn gọi là Trung Thừa (中乘), Bích Chi Phật Thừa (辟支佛乘), Độc Giác Thừa (獨覺乘); nếu nhanh thì trong 4 đời, chậm thì trong 100 kiếp tu pháp Không, vào đời cuối cùng thì không nương vào giáo pháp của Như Lai, mà cảm các ngoại duyên như hoa bay, lá rụng, suối reo, v.v., tự giác ngộ lý Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣), và chứng quả Bích Chi Phật (辟支佛). Bồ Tát Thừa (s: bodhisattva-yāna, 菩薩乘), hay còn gọi là Phật Thừa (佛乘), Đại Thừa (s: mahāyāna, 大乘); trong khoảng thời gian vô số kiếp tu hành hạnh Lục Độ (六度), rồi trong 100 kiếp trồng nhân 32 phước tướng để chứng vô thượng Bồ Đề. Ba cỗ xe nầy được ví cho xe dê, xe hươu, xe trâu; hay ví cho ba loại thú là voi, ngựa và thỏ. Như trong Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký Chú (釋迦如來成道記註) quyển Hạ do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường soạn, Huệ Ngộ Đại Sư (慧悟大師) ở Nguyệt Luân Sơn (月輪山), vùng Tiền Đường (錢唐) chú giải, có đoạn rằng: “Pháp Hoa Kinh Tam Xa dụ dã, Dương Xa dụ Thanh Văn Thừa, Lộc Xa dụ Duyên Giác Thừa, Ngưu Xa dụ Bồ Tát Thừa; Tam Thừa câu dĩ vận tải vi nghĩa (法華經三車喻也、羊車喻聲聞乘、鹿車喻緣覺乘、牛車喻菩薩乘、三乘俱以運載爲義, về thí dụ Ba Xe của Kinh Pháp Hoa, Xe Dê ví cho Thanh Văn Thừa, Xe Nai ví cho Duyên Giác Thừa, Xe Trâu ví cho Bồ Tát Thừa; cả Ba Thừa đều có nghĩa vận tải).” Hay như trong Phẩm Thí Dụ (譬喻品) của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) có giải thích rằng: “Nhược hữu chúng sanh, nội hữu trí tánh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, dục tốc xuất Tam Giới, tự cầu Niết Bàn, thị danh Thanh Văn Thừa. … Nhược hữu chúng sanh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, ân cần tinh tấn, cầu tự nhiên tuệ, độc lạc thiện tịch, thâm tri chư pháp nhân duyên, thị danh Bích Chi Phật Thừa. … Nhược hữu chúng sanh, tùng Phật Thế Tôn, văn pháp tín thọ, cần tu tinh tấn, cầu nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, Như Lai tri kiến, lực, vô sở úy, mẫn niệm an lạc, vô lượng chúng sanh, lợi ích nhân thiên, độ thoát nhất thiết, thị danh Đại Thừa (若有眾生、內有智性、從佛世尊、聞法信受、慇懃精進、欲速出三界、自求涅槃、是名聲聞乘…若有眾生、從佛世尊、聞法信受、慇懃精進、求自然慧、獨樂善寂、深知諸法因緣、是名辟支佛乘…若有眾生、從佛世尊、聞法信受、勤修精進、求一切智、佛智、自然智、無師智、如來知見、力、無所畏、愍念安樂、無量眾生、利益天人、度脫一切、是名大乘, Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng năng tinh tấn, muốn mau ra Ba Cõi, tự cầu Niết Bàn, đó là Thanh Văn Thừa. … Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng năng tinh tấn, cầu trí tuệ tự nhiên, vui một mình, khéo vắng lặng, biết sâu nhân duyên các pháp, đó là Bích Chi Phật Thừa. … Nếu có chúng sanh, theo Phật Thế Tôn, nghe pháp tin thọ, siêng tu tinh tấn, cầu tất cả trí tuệ, trí tuệ Phật, trí tuệ tự nhiên, trí tuệ không cần thầy chỉ dạy, tri kiến của Như Lai, năng lực, sự không sợ hãi, niệm thương xót an lạc, vô lượng chúng sanh, làm lợi ích trời người, độ thoát hết thảy, đó là Đại Thừa).” Hoặc như trong Tứ Giáo Nghi Chú (四敎儀註) quyển Thượng cho biết rằng: “Tam Thừa, thừa dĩ vận tải vi nghĩa; Thanh Văn dĩ Tứ Đế vi thừa, Duyên Giác dĩ Thập Nhị Nhân Duyên vi thừa, Bồ Tát dĩ Lục Độ vi thừa, vận xuất Tam Giới quy ư Niết Bàn (三乘、乘以運載爲義、聲聞以四諦爲乘、緣覺以十二因緣爲乘、菩薩以六度爲乘、運出三界歸於涅槃, Ba Thừa, thừa có nghĩa là vận chuyển, Thanh Văn lấy Tứ Đế làm phương tiện vận chuyển, Duyên Giác lấy Thập Nhị Nhân Duyên làm phương tiện vận chuyển, Bồ Tát lấy Lục Độ làm phương tiện vận chuyển, chở cả Ba Cõi quay về Niết Bàn).” Hai Thừa đầu chỉ có tự lợi, không có lợi tha, nên được gọi là Tiểu Thừa (小乘, cỗ xe nhỏ). Riêng Bồ Tát Thừa thì có đầy đủ cả tự lợi và lợi tha, nên có tên là Đại Thừa (大乘, cỗ xe lớn). Một số kinh điển như Tịch Điều Âm Sở Vấn Kinh (寂調音所問經), Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論) quyển 127, Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 11 gọi Tam Thừa là Hạ Thừa (下乘), Trung Thừa (中乘) và Thượng Thừa (上乘). Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (大乘莊嚴經論) quyển 4, Lương Dịch Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (梁譯攝大乘論釋) quyển 1 gọi chung cả 2 thừa trước là Hạ Thừa, Bồ Tát Thừa là Thượng Thừa. Hoa Nghiêm Tông, Thiên Thai Tông lấy Tam Thừa làm pháp môn phương tiện, cứu cánh đều quy về Nhất Phật Thừa (一佛乘); cho nên hai tông phái nầy chủ xướng tư tưởng “Tam Thừa Phương Tiện Nhất Thừa Chân Thật (三乘方便一乘眞實, Ba Thừa Phương Tiện Một Thừa Chân Thật).” Trong khi đó, Pháp Tướng Tông lại chủ trương ngược lại là “Tam Thừa Chân Thật Nhất Thừa Phương Tiện (三乘眞實一乘方便, Ba Thừa Chân Thật Một Thừa Phương Tiện).” Bên cạnh đó, Tam Thừa còn có nghĩa là Ba Thừa tùy thời tu tập của vị Bồ Tát, gồm: (1) Thiên Thừa (天乘), tức Sơ Thiền (初禪), Nhị Thiền (二禪), Tam Thiền (三禪) và Tứ Thiền (四禪). (2) Phạm Thừa (梵乘), tức từ, bi, hỷ và xả. (3) Thánh Thừa (聖乘), tức là Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇgika-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道), gồm Chánh Kiến (s: samyag-dṛṣṭi, p: sammā-diṭṭhi, 正見), Chánh Tư Duy (s: samyak-saṃkalpa, p: sammā-saṅkappa, 正思惟), Chánh Ngữ (s: samyag-vāc, p: sammā-vācā, 正語), Chánh Nghiệp (s: samyakkarmanta, p: sammā-kammanta, 正業), Chánh Mạng (s: samyag-ājīva, p: sammā-ājīva, 正命), Chánh Tinh Tấn (s: samyag-vyāyāma, p: sammā-vāyāma, 正精進), Chánh Niệm (s: samyak-smṛti, p: sammā-sati, 正念), và Chánh Định (s: samyak-samādhi, p: sammā-samādhi, 正定).
- Tứ Phủ (四府): có mấy nghĩa chính. (1) Nhà Tây Hán (西漢, 206-9 ttl.) lấy Thừa Tướng Phủ (丞相府), Ngự Sử Phủ (御史府), Xa Kỵ Tướng Quân Phủ (車騎將軍府), Tiền Tướng Quân Phủ (前將軍府) làm Bốn Phủ. (2) Nhà Đông Hán (東漢, 25-220) lấy Đại Tướng Quân Phủ (大將軍府, hay Thái Phó Phủ [太傅府]), Thái Úy Phủ (太尉府), Tư Đồ Phủ (司徒府) và Tư Không Phủ (司空府) làm Bốn Phủ. (3) Bên cạnh đó, nó còn có nghĩa là 4 mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông. (4) Theo tín ngưỡng đạo Mẫu của Việt Nam, Tứ Phủ, còn gọi là Tứ Phủ Công Đồng (四府公同), gồm có: (a) Thiên Phủ (天府, miền trời), có mẫu đệ nhất (Mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng làm mây mưa, gió bão, sấm chớp, v.v.; (b) Nhạc Phủ (岳府, miền rừng núi), có mẫu đệ nhị (Mẫu Thượng Ngàn) quản lý miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sanh; (c) Thủy Phủ (水府, miền sông nước), có mẫu đệ tam (Mẫu Thoải) thống lãnh các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước cũng như ngư nghiệp; và (d) Địa Phủ (地府, miền đất đai), có mẫu đệ tứ (Mẫu Địa Phủ) cai quản tất cả đất đai, là nguồn gốc của mọi sự sống. Tứ Phủ được thờ tại hầu hết các tự viện ở miền Bắc Việt Nam. Tại Điện Hòn Chén (tức Huệ Nam Điện [惠南殿]), Thành Phố Huế, Thánh Mẫu Thiên Y A Na, nguyên là nữ thần của người Chăm, cũng được nhập vào hệ thống Tứ Phủ và tôn thờ làm Mẫu Thiên. Có văn khấn cúng Tứ Phủ Công Đồng như sau: “Nam Mô A Di Đà Phật (5 lạy). Nhất thiết cung kính, nhất tâm kính lễ Thập Phương Pháp Giới Thường Trụ Tam Bảo (3 lần). Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng. Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần). Nam Mô Đại Từ, Đại Bi Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần). Con sám hối con lạy chín phương trời mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng. Đệ tử con muôn trùng bách bái, nhất tâm cung thỉnh: Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ vạn linh; Tam vị đức vua cha, đức Tam Thập Tam Thiên Thiên Chúa Đế Thích Đế Hoàn Nhân, Tiên Thánh Đế, cung duy Hiệu Thiên Trí Tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Huyền Cung Cao Thượng Đế Tối Linh Ngọc Bệ Hạ, Đức vua cha Bát Hải Động Đình Thủy Quốc Long Vương, Trấn Tây An Nam Tam Kỳ Linh Ứng Vĩnh Công Đại Vương Thượng Đẳng Tối Linh Thần. Thiên Tiên Cửu Trùng Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ Phạm Thị Chân Nhân, Bán Thiên Mão Dậu Công Chúa cập thị tùng bộ chúng; Tam Tòa Thánh Mẫu tối tú anh linh, Đệ Nhất Thiên Tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Công Chúa, Đệ Nhị Thượng Ngàn, Lê Mại Đại Vương, Diệu Tín, Diệu Nghĩa Thiền Sư Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Trang Công Chúa, Đệ Tam Thoải Phủ Xích Lân Long Nữ Công Chúa. Trần Triều Hiển Thánh Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Quốc Công Tiết Chế Thượng Đẳng Phúc Thần ngọc bệ hạ. Trần triều vương phụ, vương mẫu, vương phi phu nhân, vương huynh, vương đệ, vương tử, vương hôn, vương nữ, vương tế, vương tôn chư vị tướng tá bộ hạ các quan công đồng Trần Triều uy phong lẫm liệt. Cung thỉnh Tam vị Chúa Mường: Đệ Nhất Tây Thiên, Đệ Nhị Nguyệt Hồ, Đệ Tam Lâm Thao, Chúa Bà Cà Phê, Tiên Chúa Thác Bờ, Hòa Bình Công Chúa, Ngũ Phương Bản Cảnh Chúa Bà, Bạch Hoa Công Chúa tối tú tối linh, hội đồng chúa bói, hội đồng chúa chữa, hội đồng chúa Mán, hội đồng chúa Mường, lục cung chúa chầu các bộ sơn trang, sơn lâm công chúa, Tam Thập Lục Cung Công Chúa, Lục Thập Hoa Giáp Thần Nương. Cung thỉnh Tứ Phủ Chầu Bà, Năm Tòa Quan Lớn, Mười dinh các quan, Bát bộ sơn trang, thập nhị tiên cô, trên ngàn dưới thoải, thủ điện công chúa, tối tú tối linh. Con kính lạy tứ phủ quan hoàng, Kim Niên Đương Cai Thái Tuế Chí Đức Tôn Thần, Đương Cảnh Thành Hoàng Bản Thổ Liệt Vị Đại Vương; Đức Hoàng Triều Đức Hoàng Quận; Thượng Thanh Bản Mệnh Nguyên Thần Chân Quân, Thiên Tào Hoa Giáp Thủ Mệnh Công Chúa, Ông thủ đầu đồng chầu bà quyền cai bản mệnh giáng phúc lưu ân trừ tai giải ách; Tứ Phủ Thánh Cô, Tứ Phủ Thánh Cậu, cậu bé bản đền, cô bé bản đền; Ngũ Lôi Thiên Tướng, Ngũ Hổ Đại Thần chư vị các quan, thiên thiên lực sĩ, vạn vạn tinh binh, binh hùng tướng mạnh, chư tư quan tướng, giáng đền giáng phủ, tế thế cứu dân; Thanh Xà Đại Tướng, Bạch Xà Đại Quan; Thổ Công chúa đất, chư vị tôn thần bản xứ. Con kính lạy công đồng các giá, hội đồng các quan, trên ngàn dưới thoải, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể, cửa đình thần Tam Tứ Phủ tối tú anh linh, tối cao, tối sáng, tận thương tận độ ! Hôm nay là ngày ... tháng ... năm ... Đệ tử con là ..... (tuổi) thê ..... (tuổi) sinh nam tử ..... (tuổi) nữ tử .... v.v., đồng gia quyến đẳng, ngụ tại địa chỉ: ... Ngày hôm nay cát nhật đương thời, đệ tử con tâm thành chí nguyện, một dạ một lòng, mộ đạo ân cần, đường xa không quản, mưa nắng không nề, nhất tâm về bái yết, cửa cha cửa mẹ, cửa đình thần Tam Tứ Phủ. Cúi xin Phật thánh thương xót giáng đền giáng phủ, xe loan giá ngự, chấp lễ chấp bái, chứng minh công đức, giáng phúc lưu ân cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, thiên hạ thái bình, muôn nhà được hưởng ấm no hạnh phúc, phù hộ độ trì cho gia đình con được toàn gia an lạc, công việc hanh thông, người người được chữ bình an, tám tiết hưởng vinh quang thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm, ngũ phúc lâm môn, thân tâm an lạc, quả đạo viên thành, đầy thuyền mãn quả, gia đạo hưng thịnh. Có lộc có tài, có ngân có xuyến, để trên lo được việc thánh, dưới gánh được việc trần, thần hôn phụng sự cửa đình thần Tam Tứ Phủ được mãn chiều xế bóng. Xin các Ngài thương lời con kêu, nhận lời con khấn, nhất tội ngài nhất xá, vạn tội ngài vạn thương ! Dãi tấm lòng thành, cúi xin Phật Thánh Chúa Tiên, anh linh chứng giám !!! Cung thỉnh công đồng tổ tiên nội ngoại, Tổ Cô Mãnh Tướng, cậu bé cô bé, tại gia đẳng đẳng, chư vị chân linh, sống vi anh tử vi linh, về hầu cửa Phật cửa Thánh, trên tấu thượng thiên, dưới tấu tòa vàng Thoải Phủ, kêu thay lạy đỡ cho con cháu cháu chắt của Tổ được kêu thấu, tấu nổi, đắc lễ đắc bái đắc yêu đắc cầu. Đức Tổ cao minh tận thương tận độ !!!” (Theo Trung Tâm Nghiên Cứu & Bảo Tồn Văn Hóa Tín Ngưỡng Việt Nam, http://daomauvietnam.com/index.php/cau-lac-bo/141-vn-khn-cong-ng-t-ph.html)
- Hộ Pháp (護法): có mấy nghĩa chính. (1) Bảo hộ, hộ trì chánh pháp, Phật pháp. Như trong bài Tống Tăng (送僧) của thi sĩ Giả Đảo (賈島, 779-843) nhà Đường có câu: “Vương hầu giai hộ pháp, hà tự giảng chung minh (王侯皆護法、何寺講鐘鳴, vương hầu đều hộ pháp, chùa nào gióng chuông vang).” (2) Chỉ cho người hộ trì Phật pháp. Tương truyền đức Phật từng phái 4 vị Đại Thanh Văn, 16 vị A La Hán (阿羅漢) đến để hộ trì Phật pháp. Bên cạnh đó, lại có Phạm Thiên (梵天), Đế Thích Thiên (帝釋天), Tứ Thiên Vương (四天王, 4 Thiên Vương), Thập Nhị Thần Tướng (十二神將, 12 Thần Tướng), 28 bộ chúng, 13 phiên thần, 36 thần vương, 18 thiện thần chốn Già Lam, Long Vương, quỷ thần, v.v., nhân nghe đức Phật thuyết pháp mà thệ nguyện hộ trì Phật pháp. Những vị nầy được gọi là Thần Hộ Pháp, hay Hộ Pháp Thiện Thần (護法善神). Ngoài ra, các bậc đế vương, đàn việt, Phật tử đều là những người hộ pháp đắc lực. Trong số các Thần Hộ Pháp, có vị là thiện thần, nhưng cũng có vị là hung thần, ác thần. Họ có trách nhiệm bảo hộ chúng sanh, đầy đủ 4 công đức độ đời là làm cho tiêu trừ mọi tai họa, làm tăng trưởng ích lợi, tạo sự kính mến thương yêu, và hàng phục. Đặc biệt, Quan Vũ (關羽, tức Quan Thánh Đế Quân [關聖帝君]) cũng trở thành Thần Hộ Pháp, sau khi được Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397) dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. (3) Chỉ ngài Hộ Pháp (s: Dharmapāla, 護法, 530-561), một trong những đại luận sư nổi tiếng về Duy Thức, con trai của vị quan Đại Thần nước Đạt La Tỳ Trà (s: Drāviḍa, 達羅毘荼) thuộc Ấn Độ; học trò của Trần Na (s: Dignāga, Dinnāga, 陳那, 480-540), Đại Sư của Nhân Minh Học. Tương truyền ông đã từng có hôn ước với con gái nhà vua, nhưng ngày đám cưới thì ông xuất gia; tinh thông giáo học của Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa; truyền bá giáo học tại Na Lan Đà Tự (s: Nālandā, 那蘭陀寺) của nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀) và chúng học đồ của ông lên đến cả ngàn người. Đến năm 29 tuổi, ông lui về ẩn cư tại Đại Bồ Đề Tự (s: Mahābodhi, 大菩提寺), chuyên tâm trước tác, dịch thuật; và đến năm 32 tuổi thì thị tịch. Trước tác của ông có Đại Thừa Quảng Bách Luận Thích Luận (大乘廣百論釋論), Thành Duy Thức Bảo Sanh Luận (成唯識寶生論), Quán Sở Duyên Luận Thích (觀所緣論釋), v.v.
- Hiên ngự (軒馭): chỉ cho loại xe có màn che, là phương tiện chỉ có quan bậc Đại Phu trở lên mới dùng; từ đó nó ám chỉ cho bậc đáng tôn kính như đức vua, v.v. Như trong bài thơ Hỗ Tùng Ôn Tuyền Đồng Tử Vi Hoàng Môn Quần Công Phiếm Vị Xuyên Đắc Tề Tự (扈從溫泉同紫微黃門群公泛渭川得齊字) của Tô Đĩnh (蘇頲, 670-727) nhà Đường có câu: “Phó chu lai thị dụng, hiên ngự vãng ưng mê (傅舟來是用、軒馭往應迷, thuyền con đến sử dụng, xe ngự đi mê man).” Hay trong Vạn Linh Đăng Nghi (萬靈燈儀) quyển 1 lại có câu: “Cẩn y khoa cách, kiến lập đàn tràng, khiết bị hương đăng, dụng diên hiên ngự (謹依科格、建立壇塲、潔僃香燈、用延軒馭, kính nương khoa lễ, kiến lập đàn tràng, chuẩn bị hương đèn, cầu mong trường thọ).” Cho nên câu “hiên ngự tiêu dao, diệu chứng chơn như chi vức; Thánh linh bạn hoán, tề đăng Cực Lạc chi thiên (軒馭逍遙、妙證眞如之域、聖靈伴奐、齊登極樂之天)” có nghĩa là “đức vua tiêu dao, chứng đạt chơn như cõi tịnh; linh Thánh tự tại, cùng lên Cực Lạc cung trời.”
- Bạn hoán (伴奐): chỉ trạng thái ung dung, tự tại, không bị ràng buộc gì cả. Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) nhà Đông Hán giải thích rằng: “Bạn hoán, tự túng thỉ chi ý dã (伴奐、自縱弛之意也, bạn hoán có nghĩa là tự buông thả).” Như trong Thi Kinh, chương Đại Nhã (大雅) có câu: “Bạn hoán nhĩ du hĩ (伴奐爾游矣, thong dong người rong chơi vậy).”
- Sa Môn (s: śramaṇa, p: samaṇa, 沙門): âm dịch là Thất La Mạt Noa (室羅末拏), Xá Ra Ma Noa (舍囉摩拏), Thất Ma Na Noa (㗌摩那拏), Sa Ca Muộn Nang (沙迦懣囊); Sa Môn Na (沙門那), Sa Văn Na (沙聞那), Ta Môn (娑門), Tang Môn (桑門), Táng Môn (喪門); là từ chuyển âm của phương ngôn Tây Vức, như từ samānecủa tiếng Quy Tư (s: Kucīna, 龜茲), hay samanā của tiếng Vu Điền (s: Kustana, 于闐, nay là Khotan); ý dịch là cần lao (勤勞), công lao (功勞), cù lao (劬勞), cần khẩn (勤懇), tĩnh chí (靜志), tịnh chí (淨志), tức chỉ (息止), tức tâm (息心), tức ác (息惡), cần tức (勤息), tu đạo (修道), bần đạo (貧道), phạp đạo (乏道). Đây là từ tổng xưng cho người xuất gia, thông cả nội và ngoại đạo; cũng dùng để chỉ việc cắt bỏ râu tóc, dừng lại và chấm dứt các điều ác, khéo điều phục thân tâm, siêng năng thực hành các điều thiện, và khát vọng đạt được mục đích xuất gia tu đạo, chứng quả Niết Bàn. Theo Du Hành Kinh (遊行經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 3, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 66, Sa Môn được phân làm 4 loại như sau: (1) Thắng Đạo Sa Môn (勝道沙門), còn gọi là hành đạo thù thắng, như Phật hay Độc Giác, vì có thể tự giác được. (2) Thị Đạo Sa Môn (示道沙門), còn gọi là Thuyết Đạo Sa Môn (說道沙門), nghĩa là khéo thuyết giảng nghĩa đạo; chỉ cho người thuyết giảng về đạo không sai lầm, như Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v., có thể thường theo đức Phật chuyển bánh xe pháp. (3) Mạng Đạo Sa Môn (命道沙門), còn gọi là Hoạt Đạo Sa Môn (活道沙門), nghĩa là nương theo đạo mà sinh hoạt; tức chỉ cho người nương theo đạo mà sống, như tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), v.v., tuy có học vị mà giống như vô học, đa văn, khéo vâng giữ, đầy đủ giới cấm thanh tịnh, truyền pháp thân huệ mạng cho cuộc đời. (4) Ô Đạo Sa Môn (污道沙門), còn gọi là Hoại Đạo Sa Môn (壞道沙門), chỉ cho những người ngụy thiện, làm nhơ nhớp Thánh đạo, như Tỳ Kheo Mạc Khát Lạc Ca (莫喝落迦), thường trộm cắp tài vật của người khác. Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論, Taishō Vol. 30, No. 1579) quyển 29 giải thích rằng Thắng Đạo Sa Môn là bậc Thiện Thệ (s: sugata, 善逝, đấng thật sự qua bờ bên kia mà không còn trở lui biển sanh tử nữa), Thuyết Đạo Sa Môn là người tuyên thuyết các chánh pháp, Hoạt Đạo Sa Môn là người tu các thiện pháp, và Hoại Đạo Sa Môn là thực hành các việc làm sai trái. Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 112 có nêu 4 loại Sa Môn khác là (1) Hình Phục Sa Môn (形服沙門, Sa Môn bên ngoài mặc sắc phục tu sĩ), (2) Uy Nghi Khi Cuống Sa Môn (威儀欺誑沙門, Sa Môn khinh thường oai nghi tế hạnh), (3) Tham Cầu Danh Văn Sa Môn (貪求名聞沙門, Sa Môn tham cầu tiếng tăm) và (4) Thật Hành Sa Môn (實行沙門, Sa Môn tinh tấn thực hành chánh pháp). Trong Hương Tổ Bút Ký (香祖筆記) quyển 8 của Vương Sĩ Chân (王士禛, 1634-1711) nhà Thanh có câu: “Sa Môn dĩ Hòa Thượng vi tôn quý chi xưng (沙門以和尚爲尊貴之稱, Sa Môn lấy Hòa Thượng làm từ xưng hô tôn quý).” Hay trong Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) quyển 22 có câu: “Tây Kinh Tây Minh Tự Sa Môn Viên Chiếu soạn (西京西明寺沙門圓照撰, Sa Môn Viên Chiếu ở Tây Minh Tự, Tây Kinh soạn).”
- Như vậy, ngài Thanh Thái Phước Chỉ, Chùa Tường Vân, là Hòa Thượng chứng minh cho Đại Trai Đàn nói trên.