59. Huệ Nam Điện Đình Cúng Thiên Sớ

 

Nguyên văn:

 

惠南殿庭供天疏

 

伏以

蒼蒼無處、視弗見而躰弗聞、浩浩有靈、感遂通而求必應、俯陳素悃、仰達玄機。拜疏爲

大南國皇城內長寧宮齋主今朝皇太妃揚氏...法名...恭詣玉盞山惠南殿庭設案修香祝壽延齡迎祥集福事。惟日仰干

天眼俯鑒微誠。

今齋主言念、位居中界、命屬上天、荷乾坤覆載之恩、感日月炤臨之德、欲冀延齡永命、須憑大造鴻庥。兹者春天佳節、仲月良晨鶯轉如簧、花開似錦、淨玉庭而設案、陳寶鼎以修香、一誠願透於十方、五分能薰于三際、懇之也隨緣赴感、求之也水月印心。今則虔具疏章、和南拜奏。

消災熾盛光王佛座下。

消災延壽藥師佛座下。

三十三天主釋提桓因大帝玉陛下。

大慈大悲靈感觀世音菩薩座下。

四天王天護世四王陛下。

協天大帝關聖帝君陛下。

上元一品紫微大帝陛下。

中元二品清虛大帝陛下。

下元三品洞音大帝陛下。

天地水岳公同大帝陛下。

南極長生大帝陛下。

太乙延壽天尊座下。

佛光主照本命元宸眞君座下。

南曹主簿星君座下。

北斗添齡星君座下。

皇天后土尊神下。

日月星辰山川河海三界四府聖哲王官同垂鑒格。

伏願、佛垂護佑、聖降吉祥、俾齋主現前道樹益高堅、他日蓮花登上品。

恭祝、當今皇帝...法名...高壽比如山如阜、永應五福之箕疇、厚延祉而子而孫、長享億年之寶祚、慶延家國、澤及臣民、凡居四序之中、悉獲萬全之庇、更冀皇太子阮...法名...賜福壽以延長、述鴻勳之遠大。寔賴

佛天扶持之嘉惠也。謹疏。

 

Phiên âm:

 

HUỆ NAM ĐIỆN ĐÌNH CÚNG THIÊN SỚ

 

Phục dĩ:

Thương thương vô xứ, thị phất kiến nhi thể phất văn; hạo hạo hữu linh, cảm toại thông nhi cầu tất ứng; phủ trần tố khổn, ngưỡng đạt huyền cơ.1

Bái sớ vị: Đại Nam Quốc Hoàng Thành Nội Trường Ninh Cung, trai chủ kim triều Hoàng Thái Phi Dương Thị … Pháp danh … cung nghệ Ngọc Trản Sơn Huệ Nam Điện Đình thiết án tu hương chúc thọ diên linh nghinh tường tập phước sự. Duy nhật ngưỡng can Thánh nhãn phủ giám vi thành.

Kim trai chủ ngôn niệm: Vị cư trung giới, mạng thuộc thượng thiên; hà càn

khôn phú tải chi ân, cảm nhật nguyệt chiếu lâm chi đức; dục kí diên linh vĩnh mạng, tu bằng đại tạo hồng hưu. Tư giả Xuân thiên giai tiết, trọng nguyệt lương thần; oanh chuyển như hoàng, hoa khai tợ cẩm; tịnh ngọc đình nhi thiết án, trần bảo đỉnh2 dĩ tu hương; nhất thành nguyện thấu ư thập phương, Ngũ Phận năng huân vu Tam Tế;3 khẩn chi dã tùy duyên phó cảm, cầu chi dã thủy nguyệt ấn tâm.4Kim tắc kiền cụ sớ chương, hòa nam bái tấu:

Tiêu Tai Xí Thạnh Quang Vương Phật Tòa Hạ.

Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật Tòa Hạ.

Tam Thập Tam Thiên Chủ Thích Đề Hoàn Nhân5 Đại Đế Ngọc Bệ Hạ.

Đại Từ Đại Bi Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát Tòa Hạ.

Tứ Thiên Vương Thiên Hộ Thế Tứ Vương Bệ Hạ.

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân6 Bệ Hạ.

Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tử Vi Đại Đế7 Bệ Hạ.

Trung Nguyên Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế8 Bệ Hạ.

Hạ Nguyên Tam Phẩm Động Âm Đại Đế9 Bệ Hạ.

Thiên Địa Thủy Nhạc Công Đồng Đại Đế Bệ Hạ.

Nam Cực Trường Sanh Đại Đế Bệ Hạ.

Thái Ất Diên Thọ Thiên Tôn Tòa Hạ.

Phật Quang Chủ Chiếu Bổn Mạng Nguyên Thần Chơn Quân Tòa Hạ.

Nam Tào Chủ Bộ Tinh Quân Tòa Hạ.

Bắc Đẩu Thiêm Linh Tinh Quân Tòa Hạ.

Hoàng Thiên Hậu Thổ Tôn Thần Từ Hạ.

Nhật Nguyệt Tinh Thần Sơn Xuyên Hà Hải Tam Giới Tứ Phủ Thánh Triết Vương Quan, đồng thùy giám cách.

Phục nguyện: Phật thùy hộ hựu, Thánh giáng cát tường; tỷ trai chủ hiện tiền đạo thọ ích cao kiên, tha nhật Liên Hoa đăng Thượng Phẩm.

Cung chúc: Đương kim Hoàng Đế ... Pháp danh ... cao thọ tỷ như sơn như phụ, vĩnh ưng Ngũ Phước10 chi cơ trù; hậu diên chỉ nhi tử nhi tôn, trường hưởng ức niên chi bảo tộ; khánh diên gia quốc, trạch cập thần dân; phàm cư Tứ Tự chi trung, tất hoạch vạn toàn chi tí; cánh kí Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc ... Pháp danh ... tứ phước thọ dĩ diên trường, thuật hồng huân chi viễn đại. Thật lại Phật Thiên phò trì chi gia huệ dã. Cẩn sớ.

 

Dịch nghĩa:

 

SỚ CÚNG TRỜI Ở ĐIỆN HUỆ NAM

 

Cúi nghĩ:

Xanh xanh sâu thẳm, nhìn chẳng thấy lắng chẳng nghe; mênh mông ứng linh, cảm bèn thông mà cầu tất ứng; cúi bày tấc mọn, ngưỡng thấu huyền cơ.

Lạy Sớ tâu: Việc trai chủ Hoàng Thái Phi Dương Thị … Pháp danh … của triều đình hiện tại ở Trường Ninh Cung Hoàng Thành Nội nước Đại Nam, thành kính đến Điện Huệ Nam tại Ngọc Trản Sơn lập án dâng hương chúc thọ thêm tuổi đón lành gom phước. Hôm nay ngưỡng trông mắt Thánh, cúi chứng tấc thành.

Nay trai chủ nép nghĩ: Sống nơi cõi giữa, mạng thuộc trên trời; mong trời đất che chở ơn cao, cảm trời trăng chiếu soi đức cả; muốn cầu sống lâu thêm tuổi, nên nương tạo hóa ơn ban. Nay lúc trời Xuân tiết tốt, giữa tháng giờ lành; oanh hót líu lo, hoa bày như gấm; sạch ngọc đình mà thiết án, bày lò báu để dâng hương; tâm thành nguyện thấu đến mười phương, Năm Món xông lên khắp ba cõi; lòng thành khẩn tùy duyên ứng cảm, cầu chí thiết trăng nước ấn tâm. Nay tất dâng đủ sớ chương, kính thành tâu lạy:

Đức Tiêu Tai Xí Thạnh Quang Vương Phật dưới tòa chứng giám cho.

Đức Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật dưới tòa chứng giám cho.

Tam Thập Tam Thiên Chủ Thích Đề Hoàn Nhân Đại Đế, chủ cõi Trời Ba Mươi Ba, dưới bệ ngọc chứng giám cho.

Đức Bồ Tát Đại Từ Đại Bi Linh Cảm Quan Thế Âm dưới tòa chứng giám cho.

Tứ Thiên Vương Thiên Hộ Thế Tứ Vương dưới bệ chứng giám cho.

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân dưới bệ chứng giám cho.

Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tử Vi Đại Đế dưới bệ chứng giám cho.

Trung Nguyên Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế dưới bệ chứng giám cho.

Hạ Nguyên Tam Phẩm Động Âm Đại Đế dưới bệ chứng giám cho.

Thiên Địa Thủy Nhạc Công Đồng Đại Đế dưới bệ chứng giám cho.

Nam Cực Trường Sanh Đại Đế dưới bệ chứng giám cho.

Thái Ất Diên Thọ Thiên Tôn dưới tòa chứng giám cho.

Phật Quang Chủ Chiếu Bổn Mạng Nguyên Thần Chơn Quân dưới tòa chứng giám cho.

Nam Tào Chủ Bộ Tinh Quân dưới tòa chứng giám cho.

Bắc Đẩu Thiêm Linh Tinh Quân dưới tòa chứng giám cho.

Hoàng Thiên Hậu Thổ Tôn Thần dưới tòa chứng giám cho.

Nhật Nguyệt Tinh Thần Sơn Xuyên Sông Biển, Thánh Triết Vương Quan Ba Cõi Bốn Phủ, cùng thương chứng giám.

Cúi mong: Phật thương giúp đỡ, Thánh giáng cát tường; khiến trai chủ hiện tiền cây đạo vững cao, ngày kia hoa sen lên Thượng Phẩm.

Kính chúc: Đương kim Hoàng Đế … pháp danh …, cao thọ sánh như đồi như núi, mãi ứng năm phước ấy dài lâu; bền phước đức cho cháu cho con, lâu hưởng ức năm ấy vận nước; vui khắp non nước, ơn thấm thần dân; phàm sống khắp cả bốn mùa, tất được vạn toàn che chở; lại mong Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc … Pháp danh … ban phước thọ được lâu dài, hiển công trạng thật to lớn. Ngưỡng lạy Thánh từ bi ban ân huệ. Kính dâng sớ.

 

Chú thích:

  1. Huyền cơ (玄機): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Thiên ý, thiên cơ. Như trong hồi thứ 1 của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) có câu: “Thử nãi huyền cơ, bất khả dự tiết (此乃玄機不可預泄, thiên cơ thế nầy, không thể tiết lộ).” (2) Nghĩa lý vi diệu thâm áo. Như trong bài Đạo Gia Tứ Thủ Phụng Sắc Soạn (道家四首奉敕撰) của Trương Thuyết (張說, 667-730) nhà Đường có câu: “Kim lô thừa đạo quyết, ngọc điệp khải huyền cơ (金爐承道訣玉牒啟玄機, lò vàng vâng bí quyết, điệp ngọc mở huyền cơ).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) có đoạn rằng: “Nhân nhân cảo nhật đương không, xứ xứ huyền cơ độc hồi, Cù Đàm bất thủ bổn phận, độc tọa diệu phong cô đảnh (人人杲日當空處處玄機獨迴瞿曇不守本分獨坐妙峰孤頂, người người trời rạng trên không, chốn chốn huyền cơ trở lại, Cù Đàm chẳng giữ bổn phận, một mình ngồi đỉnh núi cao).” (3) Cơ nghi, kế sách thần diệu.
  2. Bảo đỉnh, bửu đỉnh (寶鼎): có ba nghĩa chính. (1) Cái đỉnh thời cổ đại. Nguyên nó là đồ dùng để nấu, về sau được dùng tượng trưng cho quyền uy chính trị, nên gọi là bảo đỉnh. Như trong bài thơ Nhâm Tý Thu Quá Cố Cung (壬子秋過故宮) của Tống Nột (宋訥, 1311-1390) nhà Minh có câu: “Bảo đỉnh bách niên quy Hán thất, cẩm phàm chung cổ tợ Tùy gia (寶鼎百年歸漢室錦帆終古似隋家, đỉnh báu trăm năm về Hán thất, buồm gấm muôn thuở giống Tùy gia).” Hoặc trong Vô Minh Huệ Kinh Thiền Sư Ngữ Lục (無明慧經禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1432) quyển 2 lại có câu: “Thiên quân bảo đỉnh phù thương hải, nhất trượng quy mao phược thái hư (千鈞寶鼎浮滄海、一丈龜毛縛太虛, ngàn cân đỉnh báu trôi xanh biển, một gậy lông rùa cột hư không).” (2) Chỉ lò hương, vì chế theo hình cái đỉnh, nên có tên như vậy. Như trong Nhị Bộ Tăng Thọ Giới Nghi Thức (二部僧授戒儀式, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1134) quyển Hạ có đoạn: “Bảo đỉnh nhiệt danh hương, phổ biến thập phương, kiền thành phụng hiến pháp trung vương, đoan vi Hoàng vương chúc Thánh thọ, địa cửu thiên trường, đoan vi Hoàng vương chúc Thánh thọ, địa cửu thiên trường (寶鼎熱名香、普遍十方、虔誠奉獻法中王、端爲皇王祝聖壽、地久天長、端爲皇王祝聖壽、地久天長, lò báu ngút hương thơm, cúng khắp mười phương, lòng thành dâng cúng đấng pháp vương, thảy vì Hoàng đế chúc trường thọ, trời đất dài lâu, thảy vì Hoàng đế chúc trường thọ, trời lâu đất dài).” (3) Chỉ cái lò do các Đạo sĩ dùng để luyện đan nấu thuốc. như trong bài thơ Xuân Nhật Tạp Cảm (春日雜感) của Trình Thiện Chi (程善之, 1880-1942) có câu: “Bảo đỉnh luyện thần dược, bất như thủ trung chi (寶鼎煉神藥不如手中卮, lò báu luyện thần dược, chẳng bằng chén trong tay).”
  3. Tam Tế (三際): tức Tam Thế (三世), ba đời; gồm (1) Tiền Tế (s: pūrvānta, 前際), chỉ cho quá khứ; (2) Hậu Tế (s: aparānta, 後際), chỉ tương lai; (3) Trung Tế (s: madhyānta, 中際), chỉ hiện tại. Như trong Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (仁王護國般若波羅蜜多經, Taishō Vol. 8, No. 246) quyển Thượng, phẩm Quán Như Lai (觀如來品) thứ 2 có đoạn: “Quán thân thật tướng, quán Phật diệc nhiên, vô tiền tế, vô hậu tế, vô trung tế, bất trú Tam Tế, bất ly Tam Tế (觀身實相觀佛亦然無前際無後際無中際不住三際不離三際, quán thật tướng của thân, quán Phật cũng như vậy, không quá khứ, không tương lai, không hiện tại, chẳng trú ba đời, chẳng lìa ba đời).” Hay trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 5 lại có đoạn: “Tam Tế cầu tâm tâm bất kiến, lưỡng nhãn y nhiên đối lưỡng nhãn, bất tu di kiếm khắc chu tầm, tuyết nguyệt phong hoa thường kiến diện (三際求心心不見兩眼依然對兩眼不須遺劍刻舟尋雪月風華常見面, ba đời tìm tâm tâm chẳng thấy, hai mắt như xưa đối hai mắt, chẳng nên mất kiếm khắc thuyền tìm, trăng tuyết gió hoa thường thấy mặt).” Ngoài ra, tại Ấn Độ một năm chia ra ba kỳ, lấy tam tế phối với nhật nguyệt thì có các thuyết khác nhau, như thuyết của Thần Thái (神泰), Chơn Đế (眞諦), Phổ Quang (普光), Huyền Trang (玄奘), v.v.; trong đó, thuyết của Chơn Đế và Huyền Trang thì tương đồng. Tam Tế ở đây là (1) Nhiệt Tế (s: grīma-tu, 熱際), từ ngày 16 tháng Giêng đến 15 tháng 5; (2) Vũ Tế (s: vara-tu, 雨際), từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 9; (3) Hàn Tế (s: hemanta-tu, 寒際), từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng Giêng. Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 2 lại lấy Tam Tế chia thành 6 thời, gồm: (1) Từ ngày 16 tháng Giêng đến 15 tháng 3, gọi là tạm nhiệt (漸熱, tạm nóng, nóng sơ); (2) Từ ngày 16 tháng 3 đến 15 tháng 5, gọi là thạnh nhiệt (盛熱, nóng gắt); (3) Từ ngày 16 tháng 5 đến 15 tháng 7, gọi là vũ thời (雨時, mùa mưa); (4) Từ ngày 16 tháng 7 đến 15 tháng 9, gọi là mậu thời (茂時, mùa tươi tốt); (5) Từ ngày 16 tháng 9 đến 15 tháng 11, gọi là tạm hàn (漸寒, hơi lạnh); (6) Từ ngày 16 tháng 11 đến 15 tháng Giêng, gọi là thạnh hàn (盛寒, lạnh gắt).
  4. Ấn tâm (印心): Thiền Tông chủ trương ấn chứng nơi tâm mà đốn ngộ. Như trong bài tựa của Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh (楞伽阿跋多羅寶經, Taishō Vol. 16, No. 670) có đoạn: “Ngô quán Chấn Đán sở hữu kinh giáo, duy Lăng Già tứ quyển khả dĩ ấn tâm (吾觀震旦所有經敎惟楞伽四卷可以印心, ta xét các kinh giáo vốn có của Trung quốc, chỉ có bốn quyển Lăng Già mới có thể dùng để ấn tâm).” Hay trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 98 lại có đoạn rằng: “Tùng thượng dĩ lai, Tổ Phật tương truyền nhất tâm chi pháp, dĩ tâm ấn tâm, bất truyền dư pháp (從上已來、祖佛相傳一心之法、以心印心、不傳餘法, từ xưa đến nay, Tổ Phật cùng truyền một pháp nhất tâm, lấy tâm ấn chứng tâm, không truyền pháp nào khác).”
  5. Thích Đề Hoàn Nhân (s: Śakra Devānāmindra, 釋提桓因): còn gọi là Đế Thích Thiên (s: Indra, p: Inda, 帝釋天, Trời Đế Thích), Năng Thiên Chủ (能天主), Thiên Chủ Đế Thích (天主帝釋), Thiên Đế Thích (天帝釋), Thiên Đế (天帝), Đao Lợi Thiên Vương (忉利天王); âm dịch là Thích Ca Đề Hoàn Nhân Đà La (釋迦提桓因陀羅); còn có các tên gọi khác như Nhân Đà La (因陀羅), Kiều Thi Ca (憍尸迦), Ta Bà Bà (娑婆婆), Thiên Nhãn (千眼), v.v. Nguyên lai, Ngài là vị thần của Ấn Độ Giáo, thời cổ đại Ấn Độ gọi là Nhân Đà La. Vì được thần cách hóa như là ánh sáng chớp của sấm sét, dưới thời đại Veda, vị nầy được xem như là có sức mạnh nhất trong các vị thần, thường hay đánh nhau với ác thần A Tu La. Người Trung Quốc thường gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝). Theo các kinh luận cho biết, xưa kia vị nầy là người dòng dõi Bà La Môn ở nước Ma Già Đà (摩伽陀), nhờ có phước đức tu tập hạnh Bố Thí, được sanh lên cung trời Đao Lợi (s: Trāyastriśa, p: Tāvatisa, 忉利), làm Thiên chủ của 33 cõi trời. Trời Đế Thích trú tại thành Thiện Kiến (善見城), cung điện tối cao của cõi Trời Ba Mươi Ba, nơi có ngọn Tu Di Sơn (須彌山) cao nhất trên mặt đất, và cai trị địa giới. Cùng với Phạm Thiên, vị trời nầy được xem như là vị thần bảo vệ của Phật Giáo. Hai bên Trời Đế Thích có 10 vị Thiên tử hầu hạ thường xuyên. Về cõi Trời Ba Mươi Ba, do vì trước kia vị trời nầy đã cùng với 32 người khác tu tập thiện nghiệp tại nước Ma Kiệt Đà. Tương truyền xưa kia, sau khi đức Phật Ca Diếp qua đời, có một người nữ phát tâm tu sửa tháp của Ngài, rồi lại có thêm 32 người khác trợ lực. Tất cả sau khi qua xả bỏ báo thân nầy thì cùng được sanh cõi Trời Đao Lợi. Do đó, chung quanh cõi Trời nầy có 32 cung điện của 32 người kia; còn ở giữa là Đế Thích, tổng cọng là 33. Ngài có 3 vị phu nhân tên Viên Sanh (園生), Thiện Pháp (善法), Xá Chi (赦支). Tại phía Đông Bắc của cung điện Trời Đế Thích có cây Viên Sanh; phía Tây Nam có Thiện Pháp Đường (善法堂). Trời Đế Thích thường tập trung chư Thiên thuyết pháp tại đây. Nếu Trời Đế Thích đi khỏi chăng nữa, chư Thiên vẫn cung kính chỗ ngồi của Ngài, xem như Ngài có mặt. Tuổi thọ của Ngài rất dài, một ngày một đêm trên cõi Trời ấy bằng 100 năm dưới cõi người, tính 36.000 năm của con người làm 1 tuổi của Ngài. Mỗi nửa tháng vào các ngày trai giới, Trời Đế Thích thường hạ lịnh Tứ Thiên Vương, Thái Tử, Thị Giả, v.v., thám sát thiên hạ vạn dân, xem thử thiện ác, tà chánh thế nào. Nếu nghe chúng sanh nhiều việc ác, không hiếu thuận cha mẹ, không kính trọng thầy tổ, không bố thí cho người nghèo khốn, tức làm cho chư Thiên buồn phiền, giảm tổn đi, và làm cho chúng A Tu La tăng trưởng. Và ngược lại, nếu nghe chúng sanh làm các việc thiện nhiều, hiếu thuận cha mẹ, tôn kính thầy tổ, siêng năng tu tập trai giới, bố thí cho người nghèo khốn, nhờ vậy chư thiên vô cùng hoan hỷ, số lượng tăng thêm; và chúng A Tu La giảm xuống. Sau khi Đức Phật thành đạo, Trời Đế Thích trở thành thần thủ hộ cho Ngài. Khi Đức Phật lên cung Trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẫu thân, Trời Đế Thích tạo thành bậc cấp bằng 7 thứ báu, đích thân Ngài cầm lọng báu che Đức Phật đi từ trên xuống. Sau đó, Trời Đế Thích cung thỉnh Phật thuyết pháp trong cung điện. Ngài từng hóa hiện ra nhiều thân hình để hóa độ, khuyên răn mọi người làm lành tránh dữ, bố thí, cúng dường. Ngài tuy là vua của tất cả chư Thiên, thống lãnh muôn loài, nhưng từ tâm vô lượng. Tương truyền có một con quỷ Dạ Xoa thân hình rất nhỏ, nhan sắc đen thùi, xấu xí, hung ác, ngồi trên ngai của Trời Đế Thích. Thấy vậy chư Thiên tức giận, muốn đánh đuổi con quỷ ấy đi. Trời Đế Thích bảo rằng: “Vị nầy tên là Trợ Sân Quỷ (, quỷ giúp cho sân hận).” Bèn trịch áo, bày vai bên phải, tay cầm lò hương nói với quỷ Dạ Xoa rằng: “Thưa đại tiên, tôi là Trời Đế Thích đây.” Thưa như vậy ba lần. Nghe xong, thân hình quỷ Dạ Xoa biến nhỏ dần và tiêu mất. Cho nên, dù làm vua cõi Trời đi nữa, nhưng Trời Đế Thích cũng không bao giờ làm tổn thương muôn vật, lấy đức từ để hóa độ chúng sanh. Về hình tượng, vị nầy thường thể hiện hình trời người, cỡi voi trắng, tay phải cầm cây chày báu Tam Cô, hay cây Chày Kim Cang; tay trái đặt trên bắp vế. Trong Phật Thuyết Vị Tằng Hữu Kinh (佛說未曾有經, Taishō Vol. 16, No. 688) có diễn tả cung điện của Trời Đế Thích như: “Thích Đề Hoàn Nhân đại trang nghiêm điện, điêu văn khắc lũ vi diệu kỳ đặc, hữu bát vạn tứ thiên bảo trụ (釋提桓因大莊嚴殿、彫文刻鏤微妙奇特、有八萬四千寶柱, cung điện trang nghiêm lớn của Thích Đề Hoàn Nhân, chạm trổ điêu khắc rất vi diệu, kỳ lạ, có tám vạn bốn ngàn cột trụ báu).”
  6. Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君): tên gọi một vị danh tướng của nhà Thục thời Tam Quốc, tên là Quan Vũ (關羽, ?-219), tự là Trường Sanh (長生), Vân Trường (雲長), thường gọi là Quan Công (關公). Ông đã từng phục vụ cho Lưu Bị (劉僃) nhà Thục, rất liêm chính, cương trực, sau bị Tôn Quyền (孫權) nhà Ngô giết chết. Ông được sùng kính như là vị anh hùng của quốc dân, được xem như là bậc thánh và được thờ tại Quan Đế Miếu (關帝廟), cho nên có tên gọi là Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Ông còn được gọi là Quan Đế Da (關帝爺), Tây Sơn Phu Tử (西山夫子), Cái Thiên Cổ Phật (蓋天古佛), Hiệp Thiên Đại Đế (協天大帝), Phục Ma Đại Đế (伏魔大帝), v.v. Dưới thời nhà Tống, vua Huy Tông (徽宗) phong ông lên ba cấp từ Trung Huệ Công (忠惠公), Sùng Ninh Chơn Quân (崇寧眞君) cho đến Chiêu Liệt Võ An Vương (昭烈武安王). Vua Văn Tông (文宗) nhà Nguyên lại phong cho ông là Hiển Linh Nghĩa Dũng Võ An Anh Tế Vương (顯靈義勇武安英濟王). Vua Thần Tông (神宗) nhà Minh phong cho ông tước hiệu Tam Giới Phục Ma Đại Đế Thần Uy Viễn Trấn Thiên Tôn Quan Thánh Đế Quân (三界伏魔大帝神威遠鎭天尊關聖帝君). Đến thời nhà Thanh, vua Đức Tông (德宗) phong cho ông tước hiệu dài nhất là Trung Nghĩa Thần Võ Linh Hựu Nhân Dũng Hiển Uy Hộ Quốc Bảo Dân Tinh Thành Tuy Tĩnh Dực Tán Tuyên Đức Quan Thánh Đại Đế (忠義神武靈佑仁勇顯威護國保民精誠綏靖翊讚宣德關聖大帝), v.v. Tín ngưỡng về Quan Thánh rất phổ biến kể từ thời nhà Đường, đến thời nhà Thanh thì ông được sùng kính như là vị thần hộ vệ cho hoàng tộc. Vì lẽ đó, trong suốt giai đoạn nầy bất cứ nơi đâu người ta đều thấy xuất hiện Quan Đế Miếu (關帝廟). Ngoài ra, ông còn được xem như là Thần Tài, vị thần phù hộ làm ra nhiều tiền và thịnh vượng. Đặc biệt, trong Phật Giáo, ông được tôn kính như là vị đại hộ pháp. Trong thư tịch của Thiền Tông như Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀), có đề cập đến câu chuyện sau khi ông bị chém đứt đầu chết thì biến thành con quỷ không đầu, hồn phách thường lảng vảng trong rừng trải qua đến ba bốn trăm năm. Cuối cùng con quỷ không đầu ấy gặp Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397), người sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, được Đại Sư dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. Sau khi được siêu độ, có chánh tín vào Phật pháp, Quan Công phát nguyện lớn đời đời kiếp kiếp sẽ hộ trì chánh pháp, hàng phục yêu ma, bảo hộ già lam thánh chúng. Cho nên ông trở thành vị Bồ Tát hộ pháp cho chốn già lam, được liệt vào hàng ngũ hai vị thần hộ pháp cùng với Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát (韋駄尊天菩薩). Trong Vi Lâm Thiền Sư Lữ Bạc Am Cảo (爲霖禪師旅泊菴稿, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1442) có bài Quan Tướng Quân Tham Ngọc Tuyền Trí Giả Đại Sư Tán (關將軍參玉泉智者大師贊) rằng: “Thần kiến Ngọc Tuyền, thân bẩm đại giới, Quan Công đả hóa, thiên cổ do tại (神見玉泉、親稟大戒、關公打化、千古猶在, thần yết Ngọc Tuyền, cầu xin đại giới, Quan Công thoát hóa, thiên cổ vẫn còn).” Đạo Giáo Trung Quốc vẫn lưu hành Quan Thánh Đế Quân Giác Thế Chơn Kinh (關聖帝君覺世), trong đó có dạy rằng: “Nhân sanh tại thế, quý tận trung hiếu tiết nghĩa đẳng sự, phương ư nhân đạo vô quý, khả lập ư thiên địa chi gian (人生在世貴盡忠孝節義等事方於人道無愧可立於天地之間, con người ở đời, quý nhất các việc tận trung, hiếu, tiết nghĩa, mới không xấu hổ với mọi người, có thể đứng vững giữa trời đất).”
  7. Tử Vi Đại Đế (紫微大帝): một trong Tam Quan (三官), gồm Thiên Quan (天官), Địa Quan (地官) và Thủy Quan (). Tử Vi Đại Đế nầy là Thiên Quan, tức Thiên Quan Đại Đế (天官大帝), còn gọi là Thượng Nguyên Tứ Phước Thiên Quan Nhất Phẩm Tử Vi Đại Đế (上元賜福天官一品紫微大帝), Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tứ Phước Thiên Quan Tử Vi Đại Đế (上元一品賜福天官紫微大帝), lệ thuộc Ngọc Thanh Cảnh (玉清境). Thiên Quan được kết thành bởi 3 khí xanh vàng và trắng, chủ quản các trời, đế vương. Sinh nhật của vị nầy nhằm ngày Rằm tháng Giêng. Vào ngày nầy, Thiên Quan xuống nhân gian, dò xét tội phước của con người và ban phước; nên có danh hiệu là Thiên Quan Tứ Phước (天官賜福).
  8. Thanh Hư Đại Đế (清虛大帝): một trong Tam Quan (三官), là Địa Quan Đại Đế (地官大帝), gọi đủ là Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Nhị Phẩm Thanh Hư Đại Đế (中元赦罪地官二品清虛大帝), Trung Nguyên Nhị Phẩm Xá Tội Địa Quan Thanh Hư Đại Đế (中元二品赦罪地官清虛大帝); lệ thuộc Thượng Thanh Cảnh (上清). Địa Quan do khí nguyên động hỗn linh hòa với tinh màu vàng kết thành, chủ quản tất cả các cõi thần tiên của Ngũ Đế, Ngũ Nhạc. Ngày đản sanh của vị nầy là Rằm tháng Bảy. Vào ngày nầy, Địa Quan xuống nhân gian, chỉnh đốn tội phước và ân xá tội cho người; nên được gọi là Địa Quan Xá Tội (地官赦罪).
  9. Động Âm Đại Đế (洞陰大帝): một trong Tam Quan (三官), là Thủy Quan Đại Đế (地官大帝), gọi đủ là Hạ Nguyên Giải Ách Thủy Quan Tam Phẩm Động Âm Đại Đế (下元解厄水官三品洞陰大帝), Hạ Nguyên Tam Phẩm Giải Ách Thủy Quan Động Âm Đại Đế (下元三品解厄水官洞陰大帝), lệ thuộc Ngọc Thanh Cảnh (玉清境). Thủy Quan do khí của Phong Trạch (風澤) hòa với tinh của Thần Hạo (晨浩) mà thành, tổng chủ quản các vị thần tiên trong cõi nước. Mỗi năm vào dịp Rằm tháng 10, ông hạ phàm răn dạy tội phước, giải trừ các tai nạn, hạn ách cho con người.
  10. Ngũ Phước (五福): 5 thứ phước đức, gồm: sống lâu, giàu sang, sức khỏe, đạo đức và được ơn trời ban. Bên cạnh đó, trong dân gian cũng rất thông dụng câu “ngũ phước biền trăn (, năm phước cùng đến)”. Câu nầy vốn phát xuất từ câu chuyện của Đậu Vũ Quân (竇禹鈞), vốn xuất thân là vị quan dưới thời Hậu Chu, Ngũ Đại, làm quan đến chức Gián Nghị Đại Phu (諫議大夫), tánh tình thuần hậu, thích giúp người. Lúc nhỏ ông đã để tang cha, rất chí hiếu, hết lòng cung phụng mẫu thân. Năm lên 30 tuổi, ông vẫn chưa có đứa con nào. Một hôm nọ, ông nằm mộng thấy cha mình bảo rằng: “Mạng con không có con nối dõi, lại thêm đoản mạng, nên hãy mau nỗ lực làm việc thiện”. Nghe lời cha dạy, từ đó ông bắt đầu phát nguyện làm việc thiện. Ít lâu sau, ông lại thấy cha về báo mộng cho biết rằng: “Vì con có âm đức nên trên trời ban cho con được tăng thêm 3 kỷ (36 năm) tuổi thọ, tặng cho con 5 đứa con, đứa nào cũng sẽ được phú quý, vinh hiển; và sau khi qua đời thì sẽ được sanh lên cõi Trời.” Nhờ tích tập phước đức do làm việc thiện, sau nầy cả 5 người con của Vũ Quân đều đỗ đến Tiến Sĩ, thảy đều làm quan lớn cho triều đình. Tên của họ là Nghi (), Nghiễm (), Khản (), Xứng () và Hy (). Đương thời, họ được gọi là “Yến Sơn Đậu Thị Ngũ Long (燕山竇氏五, năm con rồng của nhà họ Đậu ở Yến Sơn)”. Năm người con do trời ban của Vũ Quân được xem như là 5 điều phước; từ đó xuất hiện câu “ngũ phước biền trăn (, năm phước cùng đến)” và phổ cập cho đến ngày nay. Ngoài ra, theo quan điểm Phật Giáo, Chư Kinh Yếu Tập (諸經要集, Taishō Vol. 54, No. 2123) quyển 6, Dẫn Chứng Duyên (引證緣) thứ 2, giải thích rằng: “Phục hữu ngũ phước, nhất viết thiểu bệnh, nhị viết thân an ổn, tam viết thiểu dâm ý, tứ viết thiểu thùy ngọa, ngũ viết đắc sanh thiên thượng (復有五福、一曰少病二曰身安隱三曰少婬意四曰少睡臥、五曰得生天上, lại có năm điều phước, một là ít bệnh, hai là thân an ổn, ba là ít có ý dâm dục, bốn là ít nằm ngủ, năm là được sanh lên cõi trời).”