58. Huệ Nam Điện Tứ Phủ Sớ
Nguyên văn:
惠南殿四府疏
伏以
玉嶺鐘英、聖德靈通之慧鑒、珠宮淨妙、荷天恩透徹之祥光、玄默難名、丹誠可格。拜疏爲
大南國皇城內長寧宮齋主今朝皇太妃揚氏...法名...恭詣玉盞山惠南殿獻供聖誕祝壽祈安迎祥集福事。惟日仰干
聖眼俯鑒微誠。
今齋主言念、位居坤道、德配乾元、曰資始而資生、美化欲霑于家國、仰最高而最厚、慈風願及于臣民、必藉威光、密垂庇佑。兹者辰惟花月、節屆中和、廼水仙降誕之晨、依齋主祈安之日、香焚五分、且非木而非烟、理契一如、乃卽心而卽佛、素陳葵悃、虔具菲儀、上供疏章、和南拜奏。
昊天至尊玉皇上帝玉陛下。
天地水岳四府公同大帝陛下。
天地水岳四府公同大王座下。
上天聖母弘仁普濟九天玄女聖祖母珠宮下。
天仙地仙水仙山仙尊位聖母珠宮下。
六宮聖母珠宮下。
敕含弘光大至德博顯化莊徽大乾國家南海四位上等神祠下。
弘惠普濟靈感妙通默相莊徽玉盞天衣阿那演王妃上等神祠下。
敕弘謨偉略敦厚孚佑翊洋卓偉高閣廣度上等神祠下。
第一宮皇母后妙大王聖母尊神祠下。
第二宮皇母后水晶赤鱗聖母祠下。
第三宮皇母后朝桂花娘聖母祠下。
上岸管該正岳九洲黎邁大王聖母祠下。
西宮本命紫微神女仙娘祠下。
四府公同諸位聖母諸位神峒諸位主峒諸位德妑祠下。
中奉、著靈昭應穆潚弘博汪懿雅英平山中仙妑中等神祠下。當境城隍尊神祠下。四府諸位皇太子諸位公主守府公主祠下。四府欽差監察主生主死二位尊翁祠下。贊化默運順成調序資元莊徽翊保中興五位中等神祠下。仙宮通明上將軍尊神祠下。仙宮聰靈大將軍尊神祠下。水晶力勇將軍尊神祠下。水晶威勇將軍尊神祠下。山精果勇將軍尊神祠下。山精武勇將軍尊神祠下。四府諸位尊翁聖前。三界十二仙娘聖前。高山橌石峒朝妑獻香沉號仙妃公主聖前。南山玉女號曰花封贈御新君顯公主聖前。四府欽差節制鎭守督兵管兵領兵五雷靈官五虎大將十二朝郡十二姑娘左班右班文武侍候六甲六丁神官。曁侍從部下、一切威靈、同垂鑒格。
恭惟、聖境瑤臺篆結香雲、寶閣甁簪花綺、容儀絢彩、威德森嚴、永千秋蔭潤生民、祥風瑞雨、亙萬古昇騰宇宙、化日光天、寔惟顯應無方、讚歎莫及者也。
伏願、聖德流芳、神通廣大、俾兩宮而寶婺星輝、壽年延永、歷四序而金蟾月朗、福果團圓。
恭祝、當今皇帝...法名...壽山疊集、福海彌深、普及臣民、均霑餘慶、年豐海晏、常凝和泰之庥、允熾磐安、益衍靈長之祚、更冀皇太子阮...法名...賜福壽以延長、述鴻勳之遠大。寔賴
聖神之嘉惠也。謹疏。
Phiên âm:
HUỆ NAM ĐIỆN TỨ PHỦ SỚ
Phục dĩ:
Ngọc lãnh chung anh, Thánh đức linh thông chi huệ giám; châu cung tịnh diệu, hà thiên ân thấu triệt chi tường quang; huyền mặc nan danh, đơn thành khả cách.
Bái sớ vị: Đại Nam Quốc Hoàng Thành Nội Trường Ninh Cung, trai chủ kim triều Hoàng Thái Phi Dương Thị … Pháp danh … cung nghệ Ngọc Trản Sơn Huệ Nam Điện hiến cúng Thánh đản chúc thọ kỳ an nghinh tường tập phước sự. Duy nhật ngưỡng can Thánh nhãn phủ giám vi thành.
Kim trai chủ ngôn niệm: Vị cư Khôn đạo,1 đức phối Càn nguyên; viết tư thỉ2 nhi tư sanh,3 mỹ hóa dục triêm vu gia quốc; ngưỡng tối cao nhi tối hậu, từ phong nguyện cập vu thần dân; tất tạ uy quang, mật thùy tí hựu. Tư giả thần duy Hoa Nguyệt, tiết giới trung hòa; nãi Thủy Tiên4 giáng đản chi thần, y trai chủ kỳ an chi nhật; hương phần Ngũ Phận, cụ phi mộc nhi phi yên;5 lý khế nhất như,6 nãi tức tâm nhi tức Phật;7 tố trần quỳ khổn, kiền cụ phỉ nghi; thượng cúng sớ chương, hòa nam bái tấu:
Hạo Thiên Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế Ngọc Bệ Hạ.
Thiên Địa Thủy Nhạc Tứ Phủ Công Đồng Đại Đế Bệ Hạ.
Thiên Địa Thủy Nhạc Tứ Phủ Công Đồng Đại Vương Tòa Hạ.
Thượng Thiên Thánh Mẫu Hoằng Nhân Phổ Tế Cửu Thiên Huyền Nữ Thánh Tổ Mẫu Chầu Cung Hạ.
Thiên Tiên Địa Tiên Thủy Tiên Sơn Tiên Tôn Vị Thánh Mẫu Chầu Cung Hạ.
Lục Cung Thánh Mẫu Chầu Cung Hạ.
Sắc Hàm Hoằng Quang Đại Chí Đức Bác Hiển Hóa Trang Huy Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thượng Đẳng Thần Từ Hạ.
Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Uy Diệu Đạo Mặc Tướng Trang Huy Ngọc Trản Thiên Y A Na Diễn Vương Phi Thượng Đẳng Thần Từ Hạ.
Sắc Hoằng Mô Vĩ Lược Đôn Hậu Phu Hựu Dực Dương Trác Vĩ Cao Các Quảng Độ Thượng Đẳng Thần Từ Hạ.
Đệ Nhất Cung Hoàng Mẫu Hậu Diệu Đại Vương Thánh Mẫu Tôn Thần Từ Hạ.
Đệ Nhị Cung Hoàng Mẫu Hậu Thủy Tinh Xích Lân Thánh Mẫu Từ Hạ.
Đệ Tam Cung Hoàng Mẫu Hậu Triều Quế Hoa Nương Thánh Mẫu Từ Hạ.
Thượng Ngạn Quản Cai Chánh Nhạc Cửu Châu Lê Mại Đại Vương Thánh Mẫu Từ Hạ.
Tây Cung Bổn Mạng Tử Vi Thần Nữ Tiên Nương Từ Hạ.
Tứ Phủ Công Đồng Chư Vị Thánh Mẫu Chư Vị Thần Động Chư Vị Chúa Động Chư Vị Đức Bà Từ Hạ.
Trung phụng: Trứ Linh Chiêu Ứng Mục Tiêu Hoằng Bác Uông Ý Nhã Anh Bình Sơn Trung Tiên Bà Trung Đẳng Thần Từ Hạ. Đương Cảnh Thành Hoàng Tôn Thần Từ Hạ. Tứ Phủ Chư Vị Hoàng Thái Tử Chư Vị Công Chúa Thủ Phủ Công Chúa Từ Hạ. Tứ Phủ Khâm Sai Giám Sát Chủ Sanh Chủ Tử Nhị Vị Tôn Ông Từ Hạ. Tán Hóa Mặc Vận Thuận Thành Điều Tự Tư Nguyên Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Ngũ Vị Trung Đẳng Thần Từ Hạ. Tiên Cung Thông Minh Thượng Tướng Quân Tôn Thần Từ Hạ. Tiên Cung Thông Linh Đại Tướng Quân Tôn Thần Từ Hạ. Thủy Tinh Lực Dũng Tướng Quân Tôn Thần Từ Hạ. Thủy Tinh Uy Dũng Tướng Quân Tôn Thần Từ Hạ. Sơn Tinh Quả Dũng Tướng Quân Tôn Thần Từ Hạ. Sơn Tinh Võ Dũng Tướng Quân Tôn Thần Từ Hạ. Tứ Phủ Chư Vị Tôn Ông Thánh Tiền. Tam Giới Thập Nhị Tiên Nương Thánh Tiền. Cao Sơn Nhàn Thạch Động Chầu Bà Hiến Hương Trầm Hiệu Tiên Phi Công Chúa Thánh Tiền. Nam Sơn Ngọc Nữ Hiệu Bạch Hoa Phong Tặng Ngự Tân Quân Hiển Công Chúa Thánh Tiền. Tứ Phủ Khâm Sai Tiết Chế Trấn Thủ Đốc Binh Quản Binh Lãnh Binh Ngũ Lôi Linh Quan Ngũ Hổ Đại Tướng Thập Nhị Chầu Quận Thập Nhị Cô Nương Tả Ban Hữu Ban Văn Võ Thị Hầu Lục Giáp Lục Đinh Thần Quan; kị thị tùng bộ hạ, nhất thiết uy linh, đồng thùy giám cách.
Cung duy: Thánh cảnh diêu đài, triện kết hương vân, bảo các bình trâm hoa ỷ; dung nghi huyến thái, uy đức sum nghiêm; vĩnh thiên thu ấm nhuận sanh dân, tường phong thoại vũ; cắng vạn cổ thăng đằng vũ trụ, hóa nhật quang thiên; thật duy hiển ứng vô phương, tán thán mạc cập giả dã.
Phục nguyện: Thánh đức lưu phương, thần thông quảng đại; tỷ lưỡng cung bảo Vụ8 tinh huy, thọ niên diên vĩnh; lịch Tứ Tự nhi kim thiềm9 nguyệt lãng, phước quả đoàn viên.
Cung chúc: Đương kim Hoàng Đế ... Pháp danh ... thọ sơn điệp tập, phước hải di thâm; phổ cập thần dân, quân triêm dư khánh; niên phong hải yến, thường ngưng hòa thái chi hưu; duẫn xí bàn an, ích diễn linh trường chi tộ; cánh kí Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc... Pháp danh ... tứ phước thọ dĩ diên trường, thuật hồng huân chi viễn đại. Thật lại Thánh thần chi gia huệ dã. Cẩn sớ.
Dịch nghĩa:
SỚ CÚNG TỨ PHỦ Ở ĐIỆN HUỆ NAM
Cúi nghĩ:
Núi ngọc chuông vang, Thánh đức linh thông ấy chứng giám; cung son mầu nhiệm, mang ơn trời thấu triệt bao hào quang; thầm mặc khó nêu, lòng thành cảm cách.
Lạy Sớ tâu: Việc trai chủ Hoàng Thái Phi Dương Thị … Pháp danh … của triều đình hiện tại ở Trường Ninh Cung Hoàng Thành Nội nước Đại Nam, thành kính đến Điện Huệ Nam tại Ngọc Trản Sơn dâng cúng chúc thọ cầu an đón lành gom phước. Hôm nay ngưỡng trông mắt Thánh, cúi chứng tấc thành.
Nay trai chủ nép nghĩ: Ngôi vị đất dày, đức phối trời cao; gọi nương cậy để trưởng sinh, mỹ hóa thấm nhuần nơi nhà nước; ngưỡng tối cao mà tối hậu, gió từ nguyện đến nơi thần dân; tất nhờ uy quang, thầm thương giúp đỡ. Nay lúc tháng Hai thời dịp, tiết thuộc trung hòa; ấy Thủy Tiên đản sanh thời kỳ, nương trai chủ cầu an ngày ấy; hương xông Năm Món, cũng không khói mà không cây; lý hợp nhất như, ấy là tâm mà là Phật; bày tấc thành khẩn, thiết đủ mọn nghi; dâng cúng sớ chương, kính thành tâu lạy:
Hạo Thiên Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế Ngọc dưới bệ chứng giám cho.
Thiên Địa Thủy Nhạc Tứ Phủ Công Đồng Đại Đế dưới bệ chứng giám cho.
Thiên Địa Thủy Nhạc Tứ Phủ Công Đồng Đại Vương dưới tòa chứng giám cho.
Thượng Thiên Thánh Mẫu Hoằng Nhân Phổ Tế Cửu Thiên Huyền Nữ Thánh Tổ Mẫu Chầu dưới cung chứng giám cho.
Thiên Tiên Địa Tiên Thủy Tiên Sơn Tiên Tôn Vị Thánh Mẫu Chầu Cung Hạ.
Lục Cung Thánh Mẫu Chầu dưới cung chứng giám cho.
Sắc Hàm Hoằng Quang Đại Chí Đức Bác Hiển Hóa Trang Huy Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thượng Đẳng Thần dưới đền chứng giám cho.
Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Uy Diệu Đạo Mặc Tướng Trang Huy Ngọc Trản Thiên Y A Na Diễn Vương Phi Thượng Đẳng Thần dưới đền chứng giám cho.
Sắc Hoằng Mô Vĩ Lược Đôn Hậu Phu Hựu Dực Dương Trác Vĩ Cao Các Quảng Độ Thượng Đẳng Thần dưới đền chứng giám cho.
Đệ Nhất Cung Hoàng Mẫu Hậu Diệu Đại Vương Thánh Mẫu Tôn Thần dưới đền chứng giám cho.
Đệ Nhị Cung Hoàng Mẫu Hậu Thủy Tinh Xích Lân Thánh Mẫu dưới đền chứng giám cho.
Đệ Tam Cung Hoàng Mẫu Hậu Triều Quế Hoa Nương Thánh Mẫu Từ Hạ.
Thượng Ngạn Quản Cai Chánh Nhạc Cửu Châu Lê Mại Đại Vương Thánh Mẫu dưới đền chứng giám cho.
Tây Cung Bổn Mạng Tử Vi Thần Nữ Tiên Nương dưới đền chứng giám cho.
Tứ Phủ Công Đồng Chư Vị Thánh Mẫu Chư Vị Thần Động Chư Vị Chúa Động Chư Vị Đức Bà dưới đền chứng giám cho.
Kính thỉnh: Trứ Linh Chiêu Ứng Mục Tiêu Hoằng Bác Uông Ý Nhã Anh Bình Sơn Trung Tiên Bà Trung Đẳng Thần dưới đền chứng giám cho. Đương Cảnh Thành Hoàng Tôn Thần dưới đền chứng giám cho. Tứ Phủ Chư Vị Hoàng Thái Tử Chư Vị Công Chúa Thủ Phủ Công Chúa dưới đền chứng giám cho. Tứ Phủ Khâm Sai Giám Sát Chủ Sanh Chủ Tử Nhị Vị Tôn Ông dưới đền chứng giám cho. Tán Hóa Mặc Vận Thuận Thành Điều Tự Tư Nguyên Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Ngũ Vị Trung Đẳng Thần Từ Hạ. Tiên Cung Thông Minh Thượng Tướng Quân Tôn Thần Từ Hạ. Tiên Cung Thông Linh Đại Tướng Quân Tôn Thần Từ Hạ. Thủy Tinh Lực Dũng Tướng Quân Tôn Thần Từ Hạ. Thủy Tinh Uy Dũng Tướng Quân Tôn Thần dưới đền chứng giám cho. Sơn Tinh Quả Dũng Tướng Quân Tôn Thần dưới đền chứng giám cho. Sơn Tinh Võ Dũng Tướng Quân Tôn Thần dưới đền chứng giám cho. Tứ Phủ Chư Vị Tôn Ông Thánh Tiền. Tam Giới Thập Nhị Tiên Nương Thánh Tiền. Cao Sơn Nhàn Thạch Động Chầu Bà Hiến Hương Trầm Hiệu Tiên Phi Công Chúa Thánh Tiền. Nam Sơn Ngọc Nữ Hiệu Bạch Hoa Phong Tặng Ngự Tân Quân Hiển Công Chúa Thánh Tiền. Tứ Phủ Khâm Sai Tiết Chế Trấn Thủ Đốc Binh Quản Binh Lãnh Binh Ngũ Lôi Linh Quan Ngũ Hổ Đại Tướng Thập Nhị Chầu Quận Thập Nhị Cô Nương Tả Ban Hữu Ban Văn Võ Thị Hầu Lục Giáp Lục Đinh Thần Quan; với bộ hạ theo cùng, hết thảy oai linh, cùng thương chứng giám.
Cúi nghĩ: Thánh cảnh đài son, nghi ngút mây hương, gác báu bình trăm hoa lụa; dung nghi rực rỡ, oai đức thâm nghiêm; mãi thiên thu bóng rợp muôn dân, gió lành mưa tốt; suốt vạn cổ xông khắp vũ trụ, trời tỏ hào quang; thật mong hiển ứng khắp nơi, tán thán không bao giờ hết.
Cúi mong: Thánh đức ngát thơm, thần thông to lớn; khiến hai cung sao Vụ Nữ sáng soi, thọ lâu dài mãi; trãi bốn mùa mà mặt trăng chiếu tỏ, phước quả tròn đầy.
Kính chúc: Đương kim Hoàng Đế … pháp danh …, núi thọ chồng chất, biển phước càng sâu; khắp đến thần dân, thấm nhuần phúc khánh; biển yên năm tốt, thường luôn hòa thái phúc lành; cơ đồ thật an, lan rộng lâu dài vân nước; lại mong Hoàng Thái Tử Nguyễn Phước … Pháp danh … ban phước thọ được lâu dài, hiển công trạng thật to lớn. Ngưỡng lạy Thánh từ bi ban ân huệ. Kính dâng sớ.
Chú thích:
- Khôn đạo (坤道): có 3 nghĩa. (1) Chỉ thuộc tánh của đại địa. Như trong Dịch Kinh có câu: “Khôn đạo kỳ thuận hồ, thừa thiên nhi thời hành (坤道其順乎、承天而時行, tánh của đất vâng thuận vậy, theo mệnh trời mà thi hành đúng lúc).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Ngôn Khôn đạo nhu thuận, thừa phụng ư thiên dĩ lượng thời nhi hành (言坤道柔順、承奉於天以量時而行, bảo rằng tánh của đất là nhu thuận, có nghĩa rằng vâng theo mệnh trời để tính thời gian mà thi hành).” (2) Chỉ cho đức của người nữ. Như trong bài Lễ Bộ Hạ Sách Thái Thượng Hoàng Hậu Biểu (禮部賀冊太上皇后表) của Liễu Tông Nguyên (柳宗元, 773-819) nhà Đường có câu: “Mẫu nghi hữu quang, Khôn đạo khắc thuận (母儀有光、坤道克順, mẫu nghi tỏa sáng, đức nữ vâng thuận).” (3) Chỉ cho đạo của người nữ, hay chỉ cho phụ nữ.
- Tư thỉ (資始): nương vào, cậy vào để phát sanh, bắt đầu. Như trong Dịch Kinh (易經), quẻ thứ nhất Càn Vi Thiên (乾爲天) có lời Thoán (彖) rằng: “Đại tai Càn Nguyên, vạn vật tư thỉ, nãi thống thiên (大哉乾元、萬物資始、乃統天, lớn thay Càn Nguyên, muôn vật nhờ nó mà bắt đầu nảy nở, nên cai quản cả trời).”
- Tư sanh (資生): nương vào để sinh trưởng, để sinh thành. Như trong Dịch Kinh (易經) có câu: “Chí tai Khôn nguyên, vạn vật tư sanh (至哉坤元、萬物資生, lớn thay đại địa, muôn vật nương vào đó mà sinh trưởng).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Vạn vật tư sanh giả, ngôn vạn vật tư địa nhi sanh (萬物資生者、言萬物資地而生, vạn vật nương vào mà sinh trưởng, nghĩa là vạn vật nương vào đất mà sinh trưởng).”
- Thủy Tiên (水仙、水僊): có nhiều nghĩa. (1) Vị thần tiên dưới nước trong truyền thuyết. Như trong Đạo thư Thiên Ẩn Tử (天隱子), Thần Giải Bát (神解八), của Đạo sĩ Tư Mã Thừa Trinh (司馬承禎, 647-735) nhà Đường giải thích rằng: “Tại nhân vị chi nhân tiên, tại thiên viết thiên tiên, tại địa viết địa tiên, tại thủy viết thủy tiên, năng biến thông chi viết thần tiên (在人謂之人仙、在天曰天仙、在地曰地仙、在水曰水仙、能變通之曰神仙, ở cõi người thì gọi là nhân tiên, trên trời gọi là thiên tiên, dưới đất gọi là địa tiên, trong nước gọi là thủy tiên, có thể biến hóa thông suốt gọi là thần tiên).” (2) Chỉ cho người được chôn dưới nước. (3) Chỉ người rong chơi khắp giang hồ mà quên trở về. (4) Tên một loại cầm khúc.
- Câu nầy vốn phát xuất từ trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 5, Hương Nghiêm đồng tử (香嚴童子) bảo rằng: “Kiến chư Tỳ Kheo thiêu trầm thủy hương, hương khí tịch nhiên lai nhập tỷ trung, ngã quán thử khí phi mộc phi không phi yên phi hỏa (見諸比丘燒沉水香、香氣寂然來入鼻中、我觀此氣非木非空非煙非火, thấy các Tỳ Kheo hương trầm thủy, mùi hương lặng nhiên vào trong lỗ mũi, tôi quán mùi nầy chẳng phải là gỗ, chẳng phải là không, chẳng phải là khói, chẳng phải là lửa).” Trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển 1 cũng có đoạn rằng: “Thử nhất biện hương, bất tùng thiên giáng, khởi thuộc địa sanh, Lưỡng Nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung tắc, Tam Giới nhất khí, tài phân chi hậu, chi diệp biến mãn thập phương, siêu nhật nguyệt chi quang hoa, đoạt sơn xuyên chi tú lệ, tức Giới tức Định tức Tuệ, phi mộc phi hỏa phi yên, thâu lai tại nhất vi trần, tán xứ phổ huân pháp giới (此一瓣香、不從天降、豈屬地生、兩儀未判之先、根源充塞、三界一氣、纔分之後、枝葉遍滿十方、超日月之光華、奪山川之秀麗、卽戒卽定卽慧、非木非火非煙、收來在一微塵、散處普薰法界, một nén hương nầy, không từ trời xuống, sao thuộc đất sanh, Lưỡng Nghi [âm dương] chưa phân đầu tiên, nguồn căn đầy ắp, Ba Cõi một khí, mới chia sau đó, cành lá biến khắp mười phương, siêu trời trăng ấy rực sáng, vượt núi sông bao tú lệ, là Giới là Định là Tuệ, chẳng gỗ chẳng lửa chẳng khói, thâu vào trong một bụi trần, tan biến khắp xông pháp giới).” Hoặc trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, sớ Xuất Quan (出關), lại có đoạn: “Viên tương phi mộc phi yên chi hương, dụng triển khắc thành khắc kính chi lễ (爰將非木非煙之香、用展克誠克敬之禮, bèn lấy không gỗ không khói hương thơm, để tỏ chí thành chí kính ấy lễ).”
- Nhất như (一如): “nhất (一)” nghĩa là không hai, “như (如)” là không khác; cho nên không hai không khác gọi là nhất như, tức là lý của chân như. Như trong Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh (文殊師利所說摩訶般若波羅蜜經, Taishō Vol. 8, No. 232) quyển Hạ có đoạn rằng: “Bất tư nghì Phật pháp, đẳng vô phân biệt, giai thừa nhất như, thành tối chánh giác, tất cụ vô lượng công đức, vô lượng biện tài (不思議佛法、等無分別、皆乘一如、成最正覺、悉具無量功德、無量辯才, Phật pháp không thể nghĩ bàn, bình đẳng không phân biệt, đều cỡi nhất như, thành chánh giác tột cùng, tất đủ vô lượng công đức, vô lượng biện tài).”
- Tức tâm tức Phật (卽心卽佛): còn gọi là thị tâm tức Phật (是心卽佛), tâm tức thị Phật (心卽是佛); nghĩa là bất luận tâm phàm phu hay tâm Phật, thể của tâm ấy cùng với Phật không khác, tâm ấy chính là Phật. Nó vốn phát xuất từ câu “tâm Phật cập chúng sanh, thị tam vô sai biệt (心佛及眾生、是三無差別, tâm, Phật và chúng sanh, ba đối tượng nầy không khác nhau)” trong phẩm Dạ Ma Thiên Cung Bồ Tát Thuyết Kệ (夜摩天宮菩薩說偈品) thứ 16 của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 9, No. 278). Như trong Thiện Tuệ Đại Sĩ Ngữ Lục (善慧大士語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1335) quyển 3, bài Tâm Vương Minh (心王銘), có đoạn rằng: “Tự quán tự tâm, tri Phật tại nội, bất hướng ngoại tầm, tức tâm thị Phật, tức Phật tức tâm (自觀自心、知佛在內、不向外尋、卽心是佛、卽佛卽心, tự quán tự tâm, biết Phật bên trong, không tìm bên ngoài, chính tâm là Phật, chính Phật là tâm).” Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 9 có đoạn: “Tức tâm tức Phật mạc vọng cầu, phi tâm phi Phật hưu biệt thảo, hồng lô diệm thượng tuyết hoa phi, nhất điểm thanh lương trừ nhiệt não (卽心卽佛莫妄求、非心非佛休別討、紅爐燄上雪花飛、一點清涼除熱惱, chính tâm là Phật chứ lầm cầu, chẳng tâm chẳng Phật tìm riêng đâu, lò hồng rực lửa hoa tuyết bay, một điểm mát tươi trừ nóng bức).”
- Tức Vụ Nữ (務女): tên một vì sao dùng để chỉ người đàn bà, còn gọi là Tu Nữ (須女), một trong 28 ngôi sao; là ngôi sao thứ 3 trong 7 sao Huyền Võ (玄武). Trong Sử Ký (史記), phần Thiên Quan Thư (天官書), có câu: “Vụ Nữ, kỳ bắc Chức Nữ (婺女、其北織女, Vụ Nữ là nàng Chức Nữ ở phía Bắc).”
- Kim thiềm (金蟾): có hai nghĩa. (1) Con cóc sắc màu vàng kim. Như trong bài thơ Đề Bắc Bình Chiểu (題北平沼) của Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) nhà Tiền Thục có câu: “Bảo chi thường tại tri thùy đắc, hảo giá kim thiềm nhập thái hư (寶芝常在知誰得、好駕金蟾入太虛, nấm báu ở đó ai biết được, khéo cỡi cóc vàng lên không trung).” Hay trong bài thơ Thường Nga Đồ (嫦娥圖) của Hà Cảnh Minh (何景明, 1483-1521) nhà Minh lại có câu: “Ngọc vũ quỳnh lâu bế tảo thu, kim thiềm ngân sắc đề hàn dạ (玉宇瓊樓閉早秋、金蟾銀兔啼寒夜, nhà ngọc lầu son đóng sớm thu, cóc vàng màu bạc khóc đêm lạnh).” (2) Tên gọi khác của mặt trăng. Truyền thuyết thần thoại cho rằng trong mặt trăng có con cóc, nên gọi như vậy. Như trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 11, có câu: “Kim thiềm sơ xuất hải, hà xứ bất phân minh (金蟾初出海、何處不分明, mặt trăng ló khỏi biển, chốn nào chẳng sáng soi).”