36. Hưng Tác Nghi

 

Nguyên văn:

 

興作儀

 

就位、跪、焚香、上香、俯伏、興、平身、迎神鞠躬拜(凡四)、興、平身、初獻禮、跪、酌酒、俯伏、興、拜(凡二)、平身、皆跪、讀告文、俯伏、興、拜(凡二)、平身、少脚。朝上拈香謁佛訖(攻文執香一捻、從証明就大洪鐘開三聲、就大鼓開三聲、就報衆鐘開三聲、唱)依辰起鐘鼓(仍待報衆三通訖、接打般若、唱)樂生起樂、唱、上旛、復位、亞獻禮、跪、酌酒、俯伏、興、拜(凡二)、平身、終獻禮、跪、酌酒、俯伏、興、拜(凡二)、平身、點茶、謝神躬拜(凡四)、平身、焚告文、禮畢。

 

Phiên âm:

 

HƯNG TÁC NGHI

 

Tựu vị. Quỳ. Phần hương.1 Thượng hương. Phủ phục. Hưng. Bình thân. Nghênh Thần cúc cung2 bái (phàm tứ). Hưng. Bình thân. Sơ hiến lễ. Quỳ. Chước tửu. Phủ phục. Hưng. Bái (phàm nhị). Bình thân. Giai quỳ. Độc Cáo Văn.3 Phủ phục. Hưng. Bái (phàm nhị). Bình thân. Thiểu cước. Chầu thượng niêm hương yết Phật ngật. (Công Văn chấp hương nhất nẫm, tùng Chứng Minh tựu Đại Hồng Chung khai tam thanh, tựu Đại Cổ khai tam thanh, tựu Báo Chúng Chung khai tam thanh).

Xướng: Y thần khởi chung cổ (nhưng đãi báo chúng tam thông ngật, tiếp đả Bát Nhã). Xướng: Nhạc sanh khởi nhạc.

Xướng: Thượng Phan. Phục vị. Á hiến lễ. Quỳ. Chước tửu. Phủ phục. Hưng. Bái (phàm nhị). Bình thân. Chung hiến lễ. Quỳ. Chước tửu. Phủ phục. Hưng. Bái (phàm nhị). Bình thân. Điểm trà. Tạ Thần cúc cung bái (phàm tứ). Bình thân. Phần Cáo Văn. Lễ tất.

 

Dịch nghĩa:

 

NGHI HƯNG TÁC

 

Tập trung vào vị trí. Quỳ. Đốt hương. Dâng hương. Cúi mình. Ngẩng lên. Đứng ngay ngắn. Nghinh thần khom người lạy (thông thường 4 lạy). Ngẩng lên. Đứng ngay ngắn. Hiến lễ lần đầu. Quỳ. Rót rượu. Cúi mình. Ngẩng lên. Lạy (thông thường 2 lạy). Đứng ngay ngắn. Đều quỳ xuống. Đọc Cáo Văn. Cúi mình. Ngẩng lên. Lạy (thông thường 2 lạy). Đứng ngay ngắn. Bước lui. Chờ niêm hương yết Phật xong (vị Công Văn cầm một nắm hương, đi theo vị Chứng Minh đến Đại Hồng Chung khai ba tiếng, đến trống lớn khai ba tiếng, đến Chuông Báo Chúng khai ba tiếng, rồi xướng). Theo giờ khởi chuông mõ (rồi đợi đánh báo chúng ba lần xong, tiếp theo đánh chuông trống Bát Nhã, xướng rằng). Nhạc sinh khởi nhạc. Xướng: Treo phan lên. Trở lại vị trí. Hiến lễ lần hai. Quỳ. Rót rượu. Cúi mình. Ngẩng lên. Lạy (thông thường 2 lạy). Đứng ngay ngắn. Hiến lễ lần cuối. Quỳ. Rót rượu. Cúi mình. Ngẩng lên. Lạy (thông thường 2 lạy). Đứng ngay ngắn. Rót trà. Tạ thần khom người lạy (thông thường 4 lạy). Đứng ngay ngắn. Đốt Cáo Văn. Lễ xong.

 

Chú thích:

  1. Phần hương (焚香): đốt hương, xông hương, đốt nhang. Tại Trung Quốc, từ xưa đến nay, từ trong cung đình cho đến ngoài dân gian, đều có tập tục đốt hương để làm cho không khí thanh tịnh, đốt hương đàn cầm, hay đốt hương ngâm thơ, tĩnh tọa, v.v. Hai bên phải trái của bệ trước Thái Hòa Điện (太和殿) nhà Thanh có đặt 4 cái ghế cao gọi là Hương Kỷ (), mỗi ghế an trí Lò Hương 3 chân. Khi Hoàng Đế lên điện, thường đốt Đàn Hương (檀香) ở trong lò, đem đặt trong Kim Loan Điện (金鑾殿); khói hương nghi ngút bay vờn chung quanh, khí thơm tỏa ngát bốn phương, khiến cho tinh thần con người phấn chấn lên. Thời xưa, khi chơi đàn cầm, Gia Cát Khổng Minh (諸葛孔明, 181-234) không chỉ có đồng tử hầu hạ hai bên, mà còn thường đặt hương án, đốt hương để tạo thêm cảm hứng. Các văn sĩ, thục nữ thời cổ đại, khi chơi đàn cũng có thói quen đốt hương, tạo thêm không khí u tĩnh, thanh thoát, phong nhã. Lục Du (陸游, 1125-1210), thi nhân ái quốc thời Nam Triều, mỗi khi đọc sách thường có xông hương. Như trong bài Hà Trung Nhàn Hộ Chung Nhật Ngẫu Đắc Tuyệt Cú (假中閒戶終日偶得絕句), ông có diễn tả cảm hứng rằng: “Thặng hỷ kim triêu tịch vô sự, phần hương nhàn khán ngọc khê thi (喜今朝寂無事焚香閒看玉溪詩, vui quá sáng nay lặng vô sự, đốt hương nhàn ngắm khe ngọc thơ).” Cũng vậy, Tô Đông Pha (蘇東坡, 1037-1101), đại văn hào nhà Bắc Tống, lại thường đốt hương tĩnh tọa và tu tâm dưỡng tánh. Trên đường đến nhậm chức ở Đam Châu (儋州), Hải Nam (海南), ông có mua hơn 10 cân Đàn Hương, sau đó lập nên xe gọi là Tức Hiên (息軒), và tương truyền rằng ông thường xông hương tĩnh tọa trong xe đó. Cho nên, ông bảo rằng: “Vô sự thử tĩnh tọa, nhất nhật thị lưỡng nhật, nhược hoạt thất thập niên, tiện thị bách tứ thập(無事此靜坐一日是兩日若活七十年便是百四十, vô sự ngồi yên lắng, một ngày là hai ngày, nếu sống bảy mươi năm, tức trăm bốn mươi tuổi).” Ngay như Tề Bạch Thạch (齊白石, 1864-1957), họa sĩ trứ danh hiện đại của Trung Quốc, cũng rất tôn kính tác dụng thần kỳ của việc xông hương vẽ tranh. Trong bài thơ Đông Đáo Kim Hoa Sơn Quán (冬到金華山觀) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu rằng: “Phần hương ngọc nữ quỳ, vụ lí tiên nhân lai (焚香玉女跪裏仙人來, đốt hương ngọc nữ quỳ, sương mù tiên nhân đến).” Sách Hiền Kỷ Tập () của Lý Tướng (李相) cho rằng khởi đầu của việc đốt hương là từ Phật Đồ Trừng (佛圖澄, 232-348). Như trong Cao Tăng Truyện (高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2059) quyển 9, phần Trúc Phật Đồ Trừng (竺佛圖澄), có đoạn: “Tức thủ ứng khí thạnh thủy thiêu hương chú chi, tu du sanh thanh liên hoa (卽取應器盛水燒香咒之須臾生青蓮花, tức lấy bình bát đỗ đầy nước rồi đốt hương chú nguyện, trong chốc lát thì hoa sen xanh sanh ra).” Trong khi đó, tác phẩm Năng Cải Trai Mạn Lục (能改齋漫錄) của Ngô Tằng (吳曾, ?-?) nhà Nam Tống thì cho là khởi đầu từ thời nhà Hán. Tập tục đốt hương đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân châu Á nói chung và của người Việt Nam nói riêng. Đốt hương để làm thanh tịnh đàn tràng, môi trường, thân tâm, để mặc khải với chư Phật, Bồ Tát, thần linh. Như trong Thiện Nữ Nhân Truyện (善女人傳, Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1657) quyển Hạ, phần Minh Nhân Hiếu Từ Hoàng Hậu (明仁孝徐皇后), có đoạn rằng: “Hồng Võ tam thập nhất niên, Xuân chánh nguyệt sóc đán, ngô phần hương tĩnh tọa các trung, duyệt cổ kinh điển, tâm thần ngưng định, hốt hữu tử kim quang tụ, di mãn tứ châu, hoảng hốt nhược thùy, mộng kiến Quán Thế Âm Bồ Tát (洪武三十一春正月朔旦吾焚香靜坐閣中閱古經典心神凝定忽有紫金光聚彌滿四周惚若睡夢見觀世音菩薩, vào sáng sớm ngày mồng một tháng Giêng mùa Xuân năm Hồng Võ thứ 31 [1398], ta đốt hương tĩnh tọa trong gác, đọc kinh điển xưa, tâm thần ngưng định, chợt có hào quang vàng tía tụ lại, đầy khắp bốn phía, mơ hồ như trong giấc ngủ, mơ thấy Bồ Tát Quán Thế Âm).” Đặc biệt, đối với Phật Giáo, truyền thống tắm rửa sạch sẽ, xông hương, ngồi tĩnh tọa và xả báo thân ra đi, được tìm thấy khá nhiều trong các thư tịch. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 42, phần Ân Trần Cố Châu Chu Thái Ngu Hoàng Trang Bào Truyện (殷陳顧朱周蔡虞黃莊鮑傳), có đoạn: “Niên lục thập hữu nhị, tự tri thệ kỳ, phần hương tọa thoát (年六十有二自知逝期焚香坐脫, vào năm 62 tuổi, ông tự biết lúc ra đi, bèn xông hương ngồi yên mà thoát hóa).” Hay trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (淨土聖賢錄, Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1549) quyển 9, phần Kim Thích (金奭), lại có đoạn: “Phần hương an tọa, dĩ thủ kết ấn nhi hóa, thiên nhạc dị hương, chung nhật bất tán (焚香安坐以手結印而化天樂異香終日不散, đốt hương ngồi yên, lấy tay bắt ấn mà ra đi, nhạc trời hương thơm lạ, suốt ngày vẫn không hết).” Hoặc trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 6, phần Thụy Châu Cửu Phong Đạo Kiền Thiền Sư (瑞州九峰道虔禪師), cũng có đoạn: “Toại phần hương, hương yên vị đoạn, tọa dĩ thoát khứ (遂焚香香煙未斷座已脫去, bèn đốt hương, khói hương chưa dứt, sư đã ngồi yên mà ra đi).”
  2. Cúc cung (鞠躬): thể hiện dáng cúi khom mình cung kính, cẩn thận. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 7, phần Đệ Tam Thỉnh Sư (第三請師), có câu: “Hợp chưởng cúc cung, trường quỳ, niêm hương tam biện (掌鞠躬長跪拈香三瓣, chấp tay cúi khom mình, quỳ xuống, dâng hương ba nén).” Hay trong bài thơ Qua Bộ Trở Phong (瓜步阻風) của Khổng Võ Trọng (孔武仲, ?-?) nhà Tống lại có câu: “Tạc nhật phần hương yết thánh mẫu, thanh sơn cúc cung như phụ nỗ(昨日焚香謁聖母青山鞠躬如負弩, hôm qua đốt hương yết thánh mẫu, núi xanh cúi mình như vác nỏ).” Hoặc trong Trùng Trị Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu (重治毗尼事義集要, Tục Tạng Kinh Vol. 40, No. 719) quyển 15, phần Độc Tụng Pháp (讀誦法), cũng có đoạn rằng: “Đệ tử chi pháp, nhược lão nhược thiếu, đáo bỉ sư sở, hợp chưởng cúc cung (弟子之法若老若少到彼師所合掌鞠躬, phép của người đệ tử, dù già dù trẻ, khi đến chỗ thầy, chấp tay cúi mình).”
  3. Cáo văn (告文): một loại văn tế để kính trình lên chư thần Phật, như Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655), Tổ thứ 9 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, có bài Lễ Thiên Phật Cáo Văn (禮千佛告文); hay trong Đại Tạng Kinh của Triều Tiên có bản Đại Tạng Khắc Bản Quân Thần Kỳ Cáo Văn (大藏刻版君臣祈告文) do Hàn Lâm Học Sĩ Lý Khuê Báo (李奎報, 1108-1241) người Cao Lệ soạn, v.v.